GIỚI THIỆU
Sốt mò (scrub typhus) là bệnh nhiễm khuẩn cấp tính lưu hành tại Việt Nam.
Biểu hiện lâm sàng của bệnh có tính đa dạng, gồm sốt, vết loét ngoài da, phát ban, sưng hạch, tổn thương nhiều cơ quan và phủ tạng; bệnh có thể gây tử vong nếu không được điều trị phù hợp và kịp thời.
NGUYÊN NHÂN
Tác nhân gây sốt mò là Orientia tsutsugamushi, vi khuẩn Gram (-) thuộc họ Rickettsiacea.
- Ổ bệnh và trung gian truyền bệnh là các loài mò Leptotrombidium.
- Mò nhiễm Orientia truyền tác nhân gây bệnh cho đời sau thông qua trứng và qua các giai đoạn phát triển, qua đó duy trì vòng lây truyền ở vùng dịch tễ sốt mò.
- Orientia gây bệnh chủ yếu ở chuột và các động vật gặm nhấm khác.
- Sốt mò lưu hành ở những nơi có cây cỏ thấp, là sinh cảnh tự nhiên của quần thể mò - chuột, thường thuộc vùng nông thôn.
- Người mắc bệnh khi đi vào vùng lưu hành tự nhiên của tác nhân và bị ấu trùng mò nhiễm Orientia đốt.
- Bệnh thường xuất hiện lẻ tẻ, có thể gặp quanh năm; thời gian cao điểm rơi vào các tháng xuân - hè - thu, là giai đoạn phát triển mạnh của mò.
CHẨN ĐOÁN
Lâm sàng
- Thời gian ủ bệnh của sốt mò kéo dài từ 6 ngày đến 21 ngày (trung bình từ 9 đến 12 ngày).
- Sốt: thường khởi phát đột ngột; người bệnh sốt cao liên tục, có thể kèm rét run, đau đầu, đau mỏi người.
-
Biểu hiện da và niêm mạc:
- Da xung huyết, có thể phù nhẹ dưới da vùng mặt và mu chân; xung huyết kết mạc mắt.
- Vết loét ngoài da: là dấu hiệu đặc hiệu của sốt mò. Tổn thương có hình bầu dục, kích thước từ 0,5-2 cm, có vẩy đen hoặc đã bong vẩy tạo thành vết loét có gờ; vết loét không tiết dịch. Vết loét thường không đau, khu trú ở các vùng da mềm như nách, ngực, cổ, bẹn, bụng, v.v...
- Ban ngoài da: thường xuất hiện vào cuối tuần thứ nhất của bệnh, dạng dát sẩn, phân bố chủ yếu ở thân, có thể xuất hiện ở cả chân tay; có thể gặp ban xuất huyết.
- Sưng hạch lympho: thường có hạch sưng tại vị trí vết loét và hạch toàn thân. Kích thước hạch thường 1,5-2 cm, mềm, không đau, di động bình thường.
- Gan to, lách to: có thể gặp ở khoảng 40% người bệnh sốt mò. Một số trường hợp có thể kèm vàng da.
- Tổn thương phổi: thường có triệu chứng ho; nghe phổi có thể có rales. Một số người bệnh có tràn dịch màng phổi; thể nặng có thể có khó thở, suy hô hấp cấp và dẫn tới tử vong.
- Tổn thương tim mạch: huyết áp hạ. Viêm cơ tim gặp ở một số trường hợp.
- Viêm màng não, viêm não: gặp ở một số ít các trường hợp. Người bệnh có đau đầu và có thể kèm rối loạn ý thức. Nếu không được điều trị bằng kháng sinh thích hợp, bệnh có thể tiến triển nặng với biến chứng hô hấp và tim mạch gây tử vong. Ở các trường hợp nhẹ và vừa, sốt có thể kéo dài 3 - 4 tuần; sau đó người bệnh hết sốt nhưng triệu chứng mệt mỏi có thể còn kéo dài trong một vài tuần.
Cận lâm sàng
- Công thức máu: bạch cầu bình thường hoặc tăng; tỷ lệ bạch cầu lympho và mônô thường tăng; tiểu cầu có thể hạ.
- X-quang phổi: có thể ghi nhận tổn thương kiểu viêm phế quản; một số người bệnh có tổn thương viêm phổi.
- Chức năng gan: thường thấy tăng men gan; có thể tăng bilirubin; nhiều người bệnh có rối loạn protid máu, gồm giảm albumin.
- Chức năng thận: xét nghiệm nước tiểu có thể có protein và hồng cầu. Suy thận (tăng ure huyết và creatinin) gặp ở một số ít trường hợp và thường hồi phục nhanh chóng khi điều trị phù hợp.
- Siêu âm: có thể phát hiện gan lách to, tràn dịch màng phổi và tràn dịch màng bụng.
- Trong trường hợp viêm màng não, dịch não tủy có thể biến loạn theo kiểu viêm màng não nước trong, tăng nhẹ tế bào và protein.
Chẩn đoán xác định
- Cần nghĩ đến sốt mò khi người bệnh có tiền sử sống hoặc đi đến các vùng có sốt mò lưu hành; bệnh cảnh thường là sốt cấp kèm tổn thương ở nhiều cơ quan và phủ tạng.
- Trên lâm sàng, chẩn đoán sốt mò thường thuận lợi nếu người bệnh có vết loét đặc hiệu ngoài da.
- Xét nghiệm huyết thanh học: ELISA (enzyme-linked immunosorbent assay), IFA (indirect fluorescent antibody), và IIP (indirect peroxidase) phát hiện IgM.
- Phản ứng nhân chuỗi men polymerase (PCR).
Chẩn đoán phân biệt
Khi không có vết loét, chẩn đoán dễ gặp khó khăn do biểu hiện lâm sàng của bệnh rất đa dạng và có thể giống nhiều bệnh sốt cấp tính khác, bao gồm thương hàn, leptospirosis, nhiễm một số virus và nhiễm các rickettsia khác.
- Thương hàn cũng có biểu hiện sốt, gan lách to và tổn thương nhiều hệ cơ quan, phủ tạng. Tuy nhiên, khác với sốt mò, thương hàn thường khởi phát bán cấp và đi kèm triệu chứng rối loạn tiêu hóa. Hồng ban trong thương hàn thường có số lượng ít, phân bố chủ yếu ở bụng và ngực. Xét nghiệm máu thường thấy bạch cầu hạ; nuôi cấy máu, phân và một số bệnh phẩm khác mọc vi khuẩn thương hàn (S.typhi, S.paratyphi các loại).
- Leptospirosis có biểu hiện chính là sốt, đau cơ; có thể có phát ban, vàng da, tổn thương phổi và suy thận. Xét nghiệm máu có thể có hạ tiểu cầu và tăng men gan. Dấu hiệu gợi ý chẩn đoán leptospirosis là đau cơ và suy thận. Nếu có điều kiện, có thể làm xét nghiệm huyết thanh học để chẩn đoán leptospirosis (ví dụ như Martin - Petit).
- Các bệnh nhiễm arbovirus: thường có diễn biến cấp tính với các triệu chứng sốt, đau đầu, mỏi người; có thể có phát ban… tương tự sốt mò. Dấu hiệu xuất huyết đi kèm với hạ tiểu cầu và tăng hematocrit thường gặp hơn ở sốt xuất huyết dengue. Các bệnh nhiễm arbovirus thường không kèm gan lách to, ít khi biểu hiện đồng thời ở nhiều cơ quan và phủ tạng, và thường tự khỏi trong vòng 5-7 ngày.
- Các bệnh nhiễm rickettsia khác: biểu hiện chính các bệnh nhiễm rickettsia cũng tương tự sốt mò, gồm sốt, đau đầu, mỏi người, phát ban và tổn thương một số cơ quan, phủ tạng. Vết loét đặc hiệu ngoài da không gặp trong sốt rickettsia do bọ chét truyền (murine typhus); có thể gặp trong sốt do rickettsia nhóm phát ban nhưng hiếm hơn so với sốt mò. Các bệnh này thường tiến triển lành tính hơn sốt mò, có đáp ứng kháng thể đặc hiệu với kháng nguyên tương ứng và cũng đáp ứng với các thuốc điều trị rickettsia như doxycyclin, chloramphenicol.
- Các bệnh nhiễm trùng huyết: có biểu hiện sốt và tổn thương nhiều cơ quan, phủ tạng như trong sốt mò. Nhiễm trùng huyết thường ít khi kèm xung huyết và phát ban trên da, hoặc tràn dịch các màng. Cần thăm khám kỹ ngoài da và phát hiện vết loét đặc hiệu để không bỏ sót bệnh sốt mò; làm xét nghiệm cấy máu để xác định vi khuẩn gây nhiễm trùng huyết.
- Sốt rét (sốt rét tiên phát): người bệnh có sốt và rét run tương tự sốt mò. Cần hỏi tiền sử đi vào vùng dịch tễ và làm lam máu tìm ký sinh trùng sốt rét để chẩn đoán xác định.
ĐIỀU TRỊ
Mục tiêu và nguyên tắc điều trị
- Điều trị sốt mò bao gồm điều trị kháng sinh đặc hiệu và điều trị hỗ trợ.
Điều trị cụ thể
Điều trị kháng sinh
Các thuốc điều trị sốt mò chủ yếu gồm doxycyclin và azithromycin. Hai thuốc này có ưu điểm hấp thu tốt qua đường tiêu hóa, thời gian bán thải kéo dài và ít tác dụng phụ.
Các phác đồ điều trị sốt mò cụ thể:
Các phác đồ điều trị sốt mò cụ thể:
- Doxycyclin: liều 100mg x 2 viên uống chia 2 lần/ngày trong 5 ngày. Uống thuốc sau khi ăn để tránh nôn (tránh dùng cùng các sản phẩm sữa và các thuốc giảm acid dịch vị dạ dày vì có thể làm giảm hấp thu thuốc). Cho người bệnh uống bù thuốc nếu bị nôn trong vòng 2 giờ sau khi uống thuốc.
- Azithromycin : 500 mg uống một lần/ngày x 1-3 ngày. Chỉ định cho phụ nữ có thai, trẻ dưới 10 tuổi và những người có chống chỉ định với các thuốc tetracyclin và chloramphenicol.
- Chloramphenicol : dùng tĩnh mạch hoặc uống, liều 50 mg/kg cân nặng/ngày (hoặc 250 - 500 mg mỗi 6 giờ) trong 5-7 ngày.
Điều trị hỗ trợ
- Hạ nhiệt bằng paracetamol hoặc một thuốc hạ nhiệt khác, kết hợp chườm mát khi người bệnh sốt cao.
- Bù dịch đường uống bằng dung dịch ORS.
- Điều trị suy hô hấp/tuần hoàn: cho người bệnh thở oxy qua sond mũi hoặc qua mặt nạ; đặt nội khí quản và thở máy nếu suy hô hấp nặng. Đặt catheter tĩnh mạch dưới đòn, theo dõi kiểm soát áp lực tĩnh mạch trung tâm. Bù dịch phối hợp với các thuốc vận mạch (như dopamine) khi có hạ huyết áp.
- Điều trị suy thận: bù dịch và lợi niệu.
TIẾN TRIỂN VÀ BIẾN CHỨNG
- Người bệnh sốt mò được điều trị kháng sinh đặc hiệu thường hết sốt trong vòng từ 1 đến 3 ngày; các biểu hiện như phát ban, hạch to, gan lách to... cũng giảm dần cùng với nhiệt độ giảm và sau khi đã cắt sốt.
- Tràn dịch màng phổi và biến loạn dịch não tủy có thể còn kéo dài trong 1-2 tuần.
DỰ PHÒNG
- Tránh đi vào vùng có sốt mò nếu có thể.
- Người sống trong vùng sốt mò cần áp dụng biện pháp chống ấu trùng mò đốt như mặc quần áo kín, sử dụng quần áo có ngâm tẩm các hóa chất chống côn trùng như benzyl benzoat, đồng thời bôi các hóa chất xua côn trùng như diethyltoluamide lên các vùng da hở.
- Kiểm soát quần thể mò - chuột bằng cách tiêu diệt chuột, sử dụng hóa chất diệt côn trùng, diệt cỏ hoặc đốt cỏ.
- Hiện chưa có vaccin phòng sốt mò.
Tài liệu tham khảo
- Sốt mò. Truyền Nhiễm. Bộ Y Tế
- Scrub typhus: Treatment and prevention. Uptodate 2022