GIỚI THIỆU
Theo thống kê của Bộ Y tế tại Việt Nam, mỗi năm ghi nhận hơn 200.000 ca đột quỵ.
Trong số đó, nhồi máu não chiếm tỷ lệ cao nhất khoảng 76,2% các trường hợp đột quỵ.
Hình ảnh học với những bước phát triển vượt bậc đã góp phần thúc đẩy tiến bộ của chuyên ngành đột quỵ. Từ các kỹ thuật hình ảnh học cơ bản, thường quy như chụp cắt lớp vi tính không tiêm thuốc cản quang để chẩn đoán nhồi máu não, đánh giá mức độ nặng, đến các kỹ thuật hình ảnh học cao hơn như CLVT tưới máu não hoặc cộng hưởng từ (CHT) tưới máu não, giúp xác định chính xác thể tích lõi nhồi máu và vùng “tranh tối tranh sáng”.
Có thể khẳng định hình ảnh học giữ vai trò cực kỳ thiết yếu trong chẩn đoán và điều trị nhồi máu não cấp.
VAI TRÒ CỦA HÌNH ẢNH HỌC
Trong chẩn đoán và điều trị nhồi máu não cấp, có thể sử dụng các phương tiện hình ảnh học gồm: chụp cắt lớp vi tính không tiêm thuốc cản quang, CLVT mạch máu não, CHT sọ não, CLVT/CHT tưới máu não. Mỗi kỹ thuật nhằm trả lời các câu hỏi chính sau:
- Chụp CLVT không tiêm thuốc cản quang: có chống chỉ định điều trị tái thông hay không, bao gồm chảy máu não hoặc nhồi máu não diện rộng? Hình ảnh học có gợi ý giả đột quỵ (ví dụ u não, áp xe não)?
- CLVT mạch máu não: có tình trạng tắc động mạch lớn cần can thiệp nội mạch hay không?
- CLVT tưới máu não/CHT não (xung DWI): thể tích lõi nhồi máu là bao nhiêu?
- CLVT tưới máu não/CHT tưới máu não: thể tích vùng “tranh tối tranh sáng”, thể tích vùng thiếu máu nguy cơ cao tiến triển thành nhồi máu nếu không được tái thông kịp thời.
Để dễ ghi nhớ và đảm bảo thu thập đủ thông tin, 4 câu hỏi trên có thể được khái quát thành 4 chữ P – parenchyma (nhu mô não), pipes (mạch máu não), perfusion (tưới máu não), penumbra (vùng “tranh tối tranh sáng”).
CHỤP CẮT LỚP VI TÍNH
Chụp cắt lớp vi tính không tiêm thuốc cản quang
- Chụp cắt lớp vi tính không tiêm thuốc cản quang là lựa chọn đầu tay để đánh giá nhồi máu não cấp nhờ các ưu điểm: thực hiện nhanh, phổ biến, chi phí thấp và có độ chính xác cao trong phát hiện chảy máu não hoặc các tình huống giả đột quỵ (áp-xe não, u não…).
- Độ nhạy phát hiện nhồi máu não cấp của chụp cắt lớp vi tính không tiêm thuốc cản quang trong 3 giờ đầu sau khởi phát đột quỵ là 20% và trong 24 giờ đầu là 57–71%. Nhằm tăng độ nhạy, có thể điều chỉnh cửa sổ nhu mô não (độ rộng cửa sổ và trung tâm cửa sổ) hẹp hơn so với thiết lập thông thường nhằm tăng độ tương phản, giúp quan sát rõ hơn vùng nhồi máu não. Thông thường thiết lập hai thông số này ở mức 30/30.
Dấu hiệu thay đổi sớm trên hình ảnh cắt lớp vi tính trong nhồi máu não cấp
Chụp cắt lớp vi tính không tiêm thuốc cản quang cũng cho phép chẩn đoán nhồi máu não thông qua việc phát hiện các dấu hiệu thay đổi sớm của nhồi máu não:
- Dấu hiệu xóa mờ nhân đậu: nhân đậu bị phù do thiếu máu nên đậm độ giảm bằng vùng dưới vỏ; vì vậy không còn phân biệt rõ và tùy theo mức độ tổn thương sẽ dẫn đến xóa mờ có thể một phần hoặc toàn thể nhân đậu.
- Dấu hiệu ruy băng thùy đảo: đây là lớp vỏ não của thùy đảo. Bình thường lớp này rõ ràng do phía trong là lớp chất trắng có đậm độ thấp hơn trong khi phía ngoài là dịch não tủy trong khe Sylvius lại có màu đen. Vùng thùy đảo nhạy cảm với nhồi máu não vùng chi phối bởi động mạch não giữa. Khi vỏ não vùng thùy đảo bị phù nề thì đậm độ giảm và không còn phân biệt được.
- Dấu hiệu mất dấu hiệu vỏ não vùng khe Sylvius hoặc thu hẹp khe Sylvius: khe Sylvius được nhận rõ trên chụp cắt lớp vi tính không tiêm thuốc cản quang nhờ có dịch não tủy. Khi thùy đảo bị phù nề, lớp dịch này giảm bề dày hoặc mất hẳn nên không còn phân biệt được. Dấu hiệu này thường đi kèm dấu xóa mờ nhân đậu và dấu ruy băng thùy đảo.
- Dấu hiệu mất ranh giới chất trắng – chất xám ở vỏ não và mờ rãnh vỏ não: hiện tượng phù khiến chất xám (30 HU) giảm đậm độ giống như chất trắng dưới vỏ (20 HU). Các rãnh vỏ não bị phù sẽ khó phân biệt do lượng dịch não tủy trong các rãnh này giảm. Đây là hai dấu hiệu thường xuất hiện đồng thời và có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá độ rộng vùng nhồi máu.
- Dấu hiệu tăng quang động mạch: do huyết khối trong lòng mạch gây ra, có thể gặp tại động mạch não giữa và các nhánh, đoạn tận động mạch cảnh trong và động mạch thân nền. Dấu hiệu có độ đặc hiệu cao nhưng độ nhạy kém, chỉ khoảng 52%. Cần lưu ý: trong trường hợp dấu hiệu xuất hiện đối xứng hai bên (khi có vôi hóa hoặc tăng tốc độ lắng máu), bên có huyết khối phải tăng quang nhiều hơn mới có ý nghĩa.
Hình 1. Các dấu hiệu thay đổi sớm trên CLVT trong nhồi máu não cấp
Thang điểm ASPECTS
Chụp CLVT không tiêm thuốc cản quang giúp đánh giá độ rộng vùng nhồi máu não thông qua thang điểm ASPECTS (The Alberta stroke programe early CT score).
Thang điểm dựa trên hai lát cắt CLVT: lát cắt thứ nhất ngang vùng đồi thị–nhân nền; lát cắt thứ hai ở phía trên lát thứ nhất và nằm phía trên nhân nền.
Với ASPECTS, phân bố của động mạch não giữa được chia thành mười phần gồm bốn vùng dưới vỏ (nhân đuôi – caudate (C), nhân đậu – lentiform (L), thuỳ đảo – insular (C), bao trong – internal capsule (IC)) và sáu vùng vỏ (M1,2,3 tương ứng nhánh trước, giữa và sau của động mạch não giữa; M4,5,6 tương ứng các nhánh trên nhưng ở cao hơn).
Mỗi vùng giảm đậm độ sẽ bị trừ đi một điểm tương ứng. Do đó: vùng phân bố của động mạch não giữa hoàn toàn bình thường nhận điểm “10”; vùng phân bố của động mạch não giữa bị nhồi máu hoàn toàn nhận điểm “0”.
Hình 2. Các phần của thang điểm ASPECTS
Tuy nhiên, việc nhận định vùng nhu mô não giảm đậm độ, đặc biệt là dấu hiệu giảm đậm độ sớm, dựa trên quan sát trực tiếp và phụ thuộc nhiều vào kinh nghiệm của bác sĩ chẩn đoán hình ảnh nên có thể dẫn đến tính thiếu nhất quán.
Nhồi máu não cấp do tắc mạch lớn hệ tuần hoàn trước trong cửa sổ 6 giờ:
- ASPECTS ≥ 6 điểm có chỉ định lấy huyết khối cơ học
- ASPECTS 3–5 điểm nên chỉ định can thiệp lấy huyết khối cơ học
- ASPECTS 0–2 điểm không nên chỉ định can thiệp lấy huyết khối
- ASPECTS 3–5 điểm có thể chỉ định can thiệp lấy huyết khối cơ học sau khi tham khảo ý kiến chuyên gia.
Chụp cắt lớp vi tính mạch máu não có tiêm thuốc cản quang
Chụp cắt lớp vi tính mạch máu não có tiêm thuốc cản quang là phương pháp chẩn đoán được chỉ định đầu tiên cho người bệnh có các dấu hiệu và triệu chứng nhồi máu não cấp tính.
Kỹ thuật này khảo sát hệ thống mạch máu từ cung động mạch chủ đến não, cung cấp thông tin chi tiết về hệ thống mạch trong và ngoài sọ, qua đó phát hiện tắc hẹp hệ thống động mạch nội sọ (độ nhạy 97-100% và độ đặc hiệu 98-100%) cũng như ngoài sọ (độ nhạy 95-97% và độ đặc hiệu 90-99%).
Mục đích của chụp mạch máu não có tiêm thuốc cản quang bao gồm:
- Đánh giá tốt hơn nhu mô não.
- Chẩn đoán xác định vị trí tắc động mạch, đo kích thước huyết khối.
- Đánh giá mức độ tuần hoàn bàng hệ nhằm tiên lượng khả năng phục hồi nhu mô não sau điều trị tái thông.
- Khảo sát hệ thống mạch máu từ cung động mạch chủ đến não để xem xét khả năng tiếp cận mạch máu não mục tiêu khi điều trị can thiệp nội mạch, đánh giá các bất thường giải phẫu học, và phát hiện bóc tách động mạch.
Hình 3. Hình ảnh tắc mạch máu qua chụp mạch máu não tiêm thuốc cản quang
Nguy cơ suy thận do thuốc cản quang được mô tả là rất thấp; vì vậy có thể chỉ định chụp mạch máu não có tiêm thuốc cản quang trước mà không cần chờ kết quả xét nghiệm chức năng thận.
CỘNG HƯỞNG TỪ
- Trong nhồi máu não cấp, cộng hưởng từ cho thấy giá trị chẩn đoán vượt trội hơn so với chụp cắt lớp vi tính không tiêm thuốc cản quang: độ đặc hiệu tương đương (98% so với 97%), nhưng độ nhạy cao hơn (83% so với 26%).
- Tuy vậy, không phải mọi đơn vị đột quỵ đều có đủ điều kiện trang bị máy cộng hưởng từ; thời gian thăm khám kéo dài có thể làm trễ “cửa sổ” điều trị. Người bệnh cần hợp tác nằm yên để hạn chế nhiễu ảnh do cử động (đặc biệt khó thực hiện trong đột quỵ nặng kèm rối loạn tri giác) và không có chống chỉ định cộng hưởng từ như dị vật kim loại, máy tạo nhịp…
- Các chuỗi xung quan trọng trong đánh giá nhồi máu não cấp gồm: DWI, ADC, FLAIR, gradient T2*, và MRA.
Chuỗi xung DWI, ADC và FLAIR
Chuỗi xung DWI được xem là tiêu chuẩn vàng trong chẩn đoán nhồi máu não, với độ nhạy lên đến 99% và độ đặc hiệu 92%. Ở nhồi máu não cấp, tình trạng phù tế bào gây hạn chế khuyếch tán phân tử nước, làm hình ảnh tổn thương tăng tín hiệu (sáng) trên DWI và giảm tín hiệu (tối) trên ADC. Về mặt định lượng, kích thước tổn thương quan sát trên DWI là yếu tố dự đoán chính xác nhất cho thể tích vùng nhồi máu ở giai đoạn kết thúc.
Hình 4.
Hình ảnh DWI và ADC trong nhồi máu não diễn tiến theo thời gian
Trong đột quỵ nhồi máu não, xung FLAIR thường biểu hiện hình ảnh tăng tín hiệu. Trong 6 giờ đầu, nếu chưa ghi nhận hình ảnh tăng tín hiệu trên FLAIR thì khả năng 90% người bệnh này có thời điểm khởi phát đột quỵ trong vòng 3 giờ đầu tiên. Vì vậy, ở nhóm người bệnh đột quỵ không rõ giờ khởi phát: nếu có bất tương xứng tăng tín hiệu trên DWI nhưng chưa ghi nhận bất thường trên xung FLAIR, thì ước lượng giờ khởi phát vẫn còn nằm trong cửa sổ 4,5 giờ và chỉ định tiêu huyết khối tĩnh mạch.
Hình 5.
Hình ảnh bất tương xứng giữa DWI (hình trái: tăng tín hiệu vùng hạch nền) và FLAIR (hình phải: chưa ghi nhận thay đổi tín hiệu)
Chuỗi xung gradien echo T2*
Chuỗi xung gradient echo T2* có độ nhạy cao và độ chính xác tốt trong phát hiện tình trạng chảy máu não cấp. Ngoài ra, chuỗi xung này còn có thể phát hiện vi chảy máu. Các vi chảy máu thường không biểu hiện trên lâm sàng và được xem là yếu tố liên quan đến nguy cơ chảy máu não sau điều trị tiêu huyết khối.
Hình 6.
Hình ảnh chảy máu não cấp đồi thị phải trên T2*
Chụp cộng hưởng từ mạch máu não
- Chụp cộng hưởng từ mạch máu não được sử dụng nhằm xác định và phát hiện vị trí các động mạch lớn bị tắc nghẽn.
- Đối với người bệnh không thể chụp mạch máu não có tiêm thuốc cản quang do chống chỉ định, kỹ thuật TOF 3D không dùng thuốc cản từ vẫn có vai trò quan trọng. Tuy nhiên, TOF 3D nhạy với nhiễu do cử động và có xu hướng đánh giá quá mức mức độ hẹp mạch máu. Vì vậy, cộng hưởng từ mạch máu sử dụng bơm thuốc cản từ sẽ giúp khắc phục hạn chế này, cung cấp hình ảnh hệ động mạch trong và ngoài sọ chính xác hơn.
- Thông thường, trong bối cảnh đột quỵ cấp, xung MRA TOF 3D được ưu tiên vì thời gian thực hiện ít hơn.
HÌNH ẢNH HỌC TƯỚI MÁU NÃO
- Tắc cấp tính một động mạch nội sọ làm giảm lưu lượng máu đến vùng não do động mạch đó chi phối.
- Vùng thiếu máu não cục bộ này được chia thành hai vùng: vùng trung tâm có lưu lượng máu não thấp dưới 10ml/100 gam não/phút sẽ tiến triển hoại tử trong vài giờ và không hồi phục; vùng xung quanh có lưu lượng máu thấp từ 20-30ml/100 gam não/phút, tế bào não không hoạt động điện nhưng vẫn duy trì khả năng sống còn của tế bào. Vùng này được gọi là vùng “tranh tối tranh sáng”.
- Việc xác định chính xác vùng mô não đã hoại tử và vùng mô não có thể phục hồi có ý nghĩa rất lớn trong điều trị tái thông; mục tiêu này có thể đạt được nhờ sự hỗ trợ của hình ảnh học tưới máu não.
Các thông số trong hình ảnh học tưới máu não
Phần mềm tính toán của máy sẽ xây dựng bản đồ mã hóa màu sắc các tham số, bao gồm: lưu lượng máu não (CBF), thể tích máu não (CBV), thời gian vận chuyển trung bình (MTT: mean transit time) và thời gian nồng độ thuốc qua mô đạt đỉnh (TTP).
Lưu lượng máu não (Cerebral Blood Flow - CBF)
- Lưu lượng máu não là thể tích dòng máu qua một đơn vị mô não (100 g) trong một đơn vị thời gian (phút).
- Đơn vị của CBF là ml/100g/phút.
- Nhu mô não bình thường có CBF từ 50 – 60 ml/100g/phút.
- Khi CBF giảm < 30 % so với bên bình thường thì được xem là vùng lõi hoại tử.
Hình 7.
Lưu lượng máu não CBF
Thể tích máu não (Cerebral Blood Volume – CBV)
- Là tổng thể tích máu chứa trong một đơn vị mô não (100 g).
- Đơn vị của CBV là ml/100 g.
- Vùng lõi nhồi máu có CBV giảm < 40% so với bên bình thường.
- Vùng “tranh tối tranh sáng” có thể có CBV bình thường hoặc thậm chí tăng do cơ chế tự điều hòa mạch máu.
Hình 8.
Thể tích máu não CBV
Thời gian vận chuyển trung bình (Mean Transit Time – MTT)
- MTT là thời gian trung bình để máu di chuyển từ động mạch sang tĩnh mạch.
- Khi xảy ra tình trạng tắc nghẽn lưu thông, đáp ứng dãn mạch bù trừ làm tăng MTT.
Hình 9.
Thời gian vận chuyển trung bình MTT
Thời gian nồng độ thuốc qua mô đạt đỉnh (Time To Peak – TTP)
- Là thời gian tính từ lúc bắt đầu tiêm thuốc cản quang/tương phản đến thời điểm đạt nồng độ thuốc tối đa ở vùng mô não.
- Khi mạch máu bị hẹp hoặc tắc nghẽn sẽ làm tăng TTP.
- Vùng mô não có TTP > 6 giây (Tmax > 6 giây) được xem là vùng mô giảm tưới máu đe dọa hoại tử.
Hình 10.
Thời gian nồng độ thuốc qua mô đạt đỉnh TTP
Xác định vùng lõi nhồi máu trên hình ảnh học tưới máu não
- Trên CLVT tưới máu não, vùng lõi nhồi máu được xác định là vùng nhu mô não có CBV < 2ml/100gr não hoặc CBF < 30% so với bên bình thường.
- Cộng hưởng từ là phương pháp có độ nhạy cao nhất và được xem là tiêu chuẩn vàng trong đánh giá vùng lõi nhồi máu dựa trên chuỗi xung khuyếch tán (DWI) và bản đồ ADC (ngưỡng < 620 x 10-6 mm2/s).
Xác định vùng lõi nhồi máu trên hình ảnh học tưới máu não
- Chuỗi xung tưới máu được dùng kết hợp với chuỗi xung khuyếch tán nhằm tìm ra vùng “tranh tối tranh sáng”.
- Vùng lõi nhồi máu thực sự là vùng tăng tín hiệu trên DWI, tương ứng vùng đã hoại tử và không còn khả năng hồi phục.
- Vùng bất thường trên PWI là vùng giảm tưới máu nguy cơ, gồm lõi nhồi máu tại trung tâm và vùng “tranh tối tranh sáng” bao xung quanh.
- Do đó, vùng “tranh tối tranh sáng” chính là vùng bất tương xứng giữa PWI và DWI (vùng “tranh tối tranh sáng” = PWI – DWI).
Hình 11.
Vùng lõi nhồi máu nhỏ trên DWI (màu đỏ), vùng giảm tưới máu nguy cơ trên PWI (màu xanh). Vùng bất tương xứng giữa PWI và DWI gọi là vùng tranh tối tranh sáng
Ngoài ra, khái niệm về bất tương xứng trên hình ảnh học tưới máu não còn được mô tả bằng tỷ số bất tương xứng, là tỷ số giữa vùng giảm tưới máu nguy cơ/vùng lõi nhồi máu.
Hình 12.
Hình ảnh cộng hưởng từ tưới máu não. Thể tích vùng lõi nhồi máu nhỏ trên DWI (màu hồng) 11 ml, vùng giảm tưới máu nguy cơ trên PWI (màu xanh) 68 ml, vùng bất tương xứng giữa PWI và DWI gọi là vùng tranh tối tranh sáng 57 ml, tỷ số bất tương xứng 6.2
Chỉ định điều trị can thiệp nội mạch dựa trên hình ảnh học tưới máu não
Chỉ định can thiệp nội mạch trong cửa sổ mở rộng (trên 6 giờ) dựa trên một trong hai tiêu chuẩn hình ảnh học tưới máu não:
Tiêu chuẩn DAWN (6-24 giờ)
- Người bệnh ≥ 80 tuổi:
- NIHSS ≥ 10 và thể tích lõi hoại tử < 21 ml
- NIHSS ≥ 10 và thể tích lõi hoại tử < 31 ml hoặc
- NIHSS ≥ 20 và thể tích lõi hoại tử < 51 m
Tiêu chuẩn DEFUSE III (6-16 giờ)
- Người bệnh 18 - 90 tuổi
- NIHSS ≥ 6
- Thể tích lõi hoại tử < 70 ml
- Vùng “tranh tối tranh sáng” thể tích ≥ 15 ml
- Tỷ số bất tương xứng ≥ 1.8
SỬ DỤNG HÌNH ẢNH HỌC TROGN NHỒI MÁU NÃO CẤP
Chụp cắt lớp vi tính hay cộng hưởng từ
- Cả chụp cắt lớp vi tính và cộng hưởng từ đều cung cấp các thông tin cần thiết để đưa ra quyết định điều trị cấp, bao gồm: loại trừ chảy máu não, đánh giá vùng lõi nhồi máu và vùng “tranh tối tranh sáng”, đồng thời đánh giá mạch máu não và tuần hoàn bàng hệ.
- Mỗi kỹ thuật hình ảnh học có những ưu điểm và hạn chế riêng.
- Việc lựa chọn kỹ thuật nào còn phụ thuộc vào điều kiện cơ sở vật chất của từng đơn vị đột quỵ cũng như đặc điểm bệnh cảnh lâm sàng. Do đó, ở từng người bệnh cụ thể, cần chọn kỹ thuật tối ưu tương ứng với mục tiêu quan trọng nhất là chẩn đoán nhanh, chính xác và không trì hoãn thời gian điều trị cấp.
Lưu đồ sử dụng hình ảnh học
Tài liệu tham khảo
- Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị đột quỵ não. 3312/QĐ-BYT 05/11/2024