GIỚI THIỆU
ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ THỨC TỈNH
| Bảng 7.1: Định nghĩa các mức độ ý thức khác nhau | |
|---|---|
| Mức độ thức tỉnh | Định nghĩa |
| U uất | Dạng nhẹ của trạng thái tinh thần chán nản (trầm cảm), bệnh nhân không chú ý và giảm khả năng tỉnh táo |
| Lú lẫn/sảng | Dạng nặng nề hơn của trạng thái tinh thần bị thay đổi bao gồm mất phương hướng, kích động và bất hợp tác |
| Ngủ gà/lơ mơ | Trạng thái tinh thần bị ức chế nặng mà từ đó bệnh nhân có thể bị kích thích từ nhẹ đến trung bình và sau đó trở lại trạng thái ngủ |
| Sững sờ | Bệnh nhân chỉ có thể bị kích thích bởi những kích thích mạnh và lặp đi lặp lại; khi không bị quấy rầy ngay lập tức trở lại trạng thái không phản ứng |
| Hôn mê | Bệnh nhân không thể bị kích thích ngay cả với các kích thích mạnh và lặp đi lặp lại |
| Bảng 7.2: Thang điểm hôn mê Glasgow | ||
|---|---|---|
| Phân nhóm | Đáp ứng | Điểm |
| Mắt mở (E) | Tự nhiên | 4 |
| Đáp ứng với lời nói | 3 | |
| Đáp ứng với kích thích đau | 2 | |
| Không mở mắt | 1 | |
| Đáp ứng lời nói (V) | Định hướng được không gian, thời gian, nhân thân | 5 |
| Lẫn lộn hay lú lẫn | 4 | |
| Từ ngữ không thích hợp | 3 | |
| Âm thanh không toàn vẹn | 2 | |
| Không đáp ứng với lời nói | 1 | |
| Đáp ứng vận động (M) | Thực hiện đúng y lệnh | 6 |
| Đáp ứng đúng chỗ kích thích đau | 5 | |
| Đáp ứng với đau hay vận động không đúng chỗ đau | 4 | |
| Đáp ứng gập chi với đau | 3 | |
| Đáp ứng xoay duỗi chi với đau | 2 | |
| Không đáp ứng | 1 | |
Xem thêm: Thang điểm Glasgow
Khi ghi lại điểm Hôn mê Glasgow, không chỉ cần quan tâm đến tổng số điểm mà còn phải ghi nhận kết quả của từng thành phần để hỗ trợ giải thích chính xác hơn (ví dụ: điểm Glasgow là 7; E1, V2, M4). Mặc dù gây đau cho bệnh nhân bằng cách kích thích gây đau là một bước thăm khám không thoải mái cho cả bệnh nhân và thầy thuốc, nhưng mục tiêu thiết yếu là xác định mức độ không đáp ứng. Vì vậy, không nên chỉ gây kích thích xúc giác hoặc kích thích chưa đủ đau; cách làm này có nguy cơ đánh giá thấp mức độ không đáp ứng (đặc biệt ở bệnh nhân say) và có thể dẫn đến các can thiệp điều trị có hại và rủi ro (ví dụ như đặt nội khí quản và thở máy). Một số phương pháp đã được đề xuất nhằm thiết lập một kích thích đau phù hợp một cách chính xác, bao gồm xoa day xương ức bằng đốt ngón tay nắm đấm, châm vào mũi (ví dụ: với đầu tăm bông bằng gỗ bị gãy) hoặc vặn nhẹ núm vú, bóp móng tay hoặc dùng kẹp đầu chi của chân hoặc cánh tay. Tùy thuộc vào tần suất kích thích, độ tuổi và tình trạng đông máu, phương thức tạo kích thích đau ít có hại nhất cần được lựa chọn trên cơ sở từng cá thể. Châm hoặc ngoáy núm vú thường gây tụ máu quanh khu vực, nhìn chung không gây đau đớn nhưng có thể gây khó chịu cho người thân hoặc người bệnh đã khỏi. Chọc vào mũi có thể gây chảy máu cam. Việc bóp móng tay nhiều lần có thể gây xuất huyết dưới da và đau đớn. Véo bằng đầu chi của nếp gấp cổ hoặc các bộ phận da khác có thể gây tổn thương da đáng kể ở bệnh nhân đang điều trị steroid mãn tính hoặc ở người cao tuổi. Day xương ức ít gây di chứng tức thời nhất nhưng cũng có thể liên quan đến bầm tím và tụ máu dưới da quanh xương, gây đau đớn. Phương pháp này không thể thực hiện ở những bệnh nhân được phẫu thuật cắt xương ức gần đây, ví dụ sau phẫu thuật tim.
| Bảng 7.3: Các đáp ứng vận động bất thường và vị trí tổn thương não | |
|---|---|
| Đáp ứng động đối với kích thích đau đớn a | Vị trí tổn thương |
| Đáp ứng đúng chỗ đau | Tổn thương vỏ/ dưới vỏ lan tỏa, bệnh não |
| Đáp ứng không đúng chỗ đau hay không thích hợp | Tổn thương vỏ/ dưới vỏ lan tỏa, bệnh não, hôn mê nhẹ |
| Đáp ứng gấp ở một chi trên | Tổn thương dạng khối trên lều bán cầu đối bên |
| Đáp ứng duỗi xoay ở một chi trên | Tổn thương não hoặc thân não sâu |
| Đáp ứng dạng gấp ba ở chi dưới | Phản xạ cột sống không khu trú |
| Gấp và khép của cánh, cổ tay cùng với đáp ứng duỗi của các chi dưới (“tư thế mất vỏ”) | Tổn thương não sâu như vùng hạch nền, đồi thị hoặc não giữa trên |
| Khép, duỗi, xoay cánh, cổ tay cùng với duỗi các chi dưới (“tư thế mất não”) | Não giữa thấp, cầu não, tiểu não |
| Trương lực cơ mềm, không đáp ứng với đau | Hành tủy |
Điều này có nghĩa là những bệnh nhân có cùng tổng số điểm Hôn mê Glasgow có thể khác nhau về mức độ không đáp ứng. Do đó, khả năng bảo vệ đường thở có thể khác nhau giữa những bệnh nhân có cùng số điểm Glasgow. Cần có kinh nghiệm, quan sát cận lâm sàng và kỹ năng thăm khám tốt để xác định nhu cầu đặt nội khí quản ở những bệnh nhân này. Nguyên nhân của hôn mê (ví dụ như nhiễm độc hoặc chấn thương sọ não) phải luôn được xem xét khi sử dụng Thang điểm hôn mê Glasgow để tiên lượng kết quả.
| Bảng 7.4: Điểm FOUR | ||||
|---|---|---|---|---|
| Điểm | Đáp ứng mắt | Đáp ứng vận động | Phản xạ thân não | Hô hấp |
| 4 | Mắt mở, có chuyển động | Thực hiện theo yêu cầu | Còn phản xạ đồng tử và giác mạc | Không NKQ, thở đều |
| 3 | Mắt mở, không chuyển động | Đáp ứng đau đúng chỗ | 1 đồng tử dãn và cố định | Không NKQ, thở Cheyne- Stokes |
| 2 | Mắt mở với lời nói to | Gấp với kích thích đau | Mất phản xạ giác mạc và đồng tử | Không NKQ, thở không đều |
| 1 | Mắt mở với kích thích đau | Duỗi xoay với kích thích đau | Mất phản xạ giác mạc và đồng tử | Nhịp tự thở > nhịp máy thở |
| 0 | Không mở mắt bất kỳ kích thích nào | Không đáp ứng, hay có trạng thái rung giật cơ | Mất phản xạ giác mạc, đồng tử và phản xạ ho | Thở theo máy hay ngưng thở |
NHẬN DIỆN TĂNG ÁP LỰC NỘI SỌ
ĐÁNH GIÁ CÁC DÂY THẦN KINH SỌ NÃO VÀ CHỨC NĂNG THÂN NÃO
Dây thần kinh khứu giác (I)
Dây thần kinh thị giác (II) và dây thần kinh vận nhãn (III)
Hai dây thần kinh sọ thứ hai và thứ ba được đánh giá chủ yếu dựa trên các thông số kích thước đồng tử, hình dạng và phản ứng của đồng tử với ánh sáng.
Về mặt sinh lý, kích thước đồng tử có xu hướng giảm dần theo tuổi: ví dụ khoảng 7 mm ở trẻ em, 5–6 mm ở người lớn, và 4–5 mm ở người già. Ở bệnh nhân nặng, đặc biệt trong bối cảnh rối loạn chức năng thần kinh, mắt thường hầu như nhắm lại. Đồng tử có kích thước trung bình mở thụ động là sinh lý.
Đường kính đồng tử giảm được gọi là co thắt; đường kính tăng được gọi là giãn đồng tử. Khi ghi nhận kích thước đồng tử bất thường, cần xem xét nó như một dấu hiệu gợi ý vị trí tổn thương ( Bảng 7.5 ).
Bảng 7.5: Giải thích kích thước đồng tử và khả năng phản ứng với ánh sáng
| Bảng 7.5: Giải thích kích thước đồng tử và khả năng phản ứng với ánh sáng | |||
|---|---|---|---|
| Tổn thương | Đồng tử | Vị trí | Phản ứng |
|
Thoát vị qua liềm (CĐPB: vỡ/ phình động mạch PCOM mở rộng, chấn thương dây thần kinh vận nhãn hai bên) |
Dãn | 1 bên |
Không đáp ứng |
| Hội chứng Horner | Co | 1 bên |
Có (khó đánh giá) |
| Tổn thương cầu não | Co | 2 bên | Không |
|
Tổn thương dưới đồi [CĐPB: độc chất a, (chuyển hóa) bệnh não, shock nhiệt] |
Co | 2 bên |
Có (khó đánh giá) |
| Tổn thương não giữa và hệ thống lưới |
Trung bình đến dãn |
2 bên | Không |
|
Độc chất b (CĐPB: tổn thương thần kinh thị - vận nhãn) |
Dãn | 2 bên |
Có hay không |
| Stress (kích thích giao cảm dữ dội) | Dãn | 2 bên | Có |
Ngoài rối loạn chức năng thần kinh, kích thước đồng tử còn có thể bị ảnh hưởng bởi thuốc hoặc độc chất, bệnh hoặc chấn thương thần kinh thị, cũng như phẫu thuật hoặc chấn thương trước đó. Ngược lại với các tổn thương cấu trúc, phản ứng của đồng tử với ánh sáng thường được duy trì trong tình trạng giãn đồng tử do thuốc hoặc độc tố.
Các đồng tử thường có kích thước bằng nhau. Anisocoria – đồng tử không đều – được định nghĩa là sự khác biệt về đường kính đồng tử > 1 mm ( Hình 7.2 ).
Dù sự khác biệt về độ chiếu sáng xung quanh có thể tạo khác biệt kích thước đồng tử lên đến 2 mm về mặt sinh lý, điều này luôn phải được coi là bất thường ở một bệnh nhân nặng. Nguyên nhân thường gặp nhất của giãn đồng tử một bên cấp tính là một khối u ở trên lều cùng bên gây thoát vị não. Chỉ trong một số trường hợp hiếm, khối choáng chỗ ở trên lều đối bên mới là nguyên nhân gây giãn đồng tử.
Khi thoát vị não qua liềm, dây thần kinh vận nhãn sẽ bị kéo căng qua liềm. Tình trạng này gây suy giảm chức năng của phần phó giao cảm bên ngoài nhưng không làm suy yếu các sợi giao cảm bên trong của thần kinh. Về mặt lâm sàng, kết quả là giãn đồng tử cùng bên khởi phát đột ngột (đồng tử Hutchinson hoặc “đồng tử thổi”). Rối loạn chức năng thần kinh vận nhãn cấp tính ở một bệnh nhân tỉnh táo than phiền về cơn đau đầu là dấu hiệu gợi ý (vỡ hoặc mở rộng đột ngột) chứng phình động mạch thông sau.
Do dây thần kinh vận nhãn bị ảnh hưởng ở đoạn dưới nhện của nó, biểu hiện sụp mi kèm liệt nhìn vào trong, nhìn lên và nhìn xuống là đặc điểm ở nhóm bệnh nhân này (mắt nhìn “nhìn xuống và ra ngoài”). Kích thước đồng tử khác nhau cũng có thể do co đồng tử một bên. Ở bệnh nhân bệnh nặng, tình trạng này ít gặp hơn so với đồng tử không đều do thoát vị não qua liềm và thường đi kèm sụp mi cùng bên và nâng nhẹ mi dưới (hội chứng Horner).
Hội chứng Horner cấp tính có thể gặp ở bệnh nhân có tổn thương vùng tủy sau bên, nhưng cũng có thể là biểu hiện của bóc tách động mạch cảnh (sau đó thường kèm đau nửa mặt).
Đồng tử thường có hình dạng tròn. Biến dạng hình ovan gợi ý tăng huyết áp nội sọ và thường xuất hiện trước khi hình thành đồng tử không đều. Hình dạng đồng tử không đều đôi khi được quan sát trong bối cảnh chấn thương nhãn cầu hoặc như di chứng của viêm móng mắt. Biến dạng của một đồng tử dạng “hình lỗ khóa” có thể liên quan đến phẫu thuật trước đó (đục thủy tinh thể) hoặc các bệnh lý nhãn khoa khác (ví dụ: coloboma).
Khả năng phản ứng của đồng tử được đánh giá bằng cách chiếu sáng mắt với nguồn sáng nhỏ trong 3–5 s. Sự co nhanh của cả hai đồng tử là sinh lý. Bác sĩ cần chú ý phản ứng ánh sáng “trực tiếp”, tức là sự co lại của đồng tử ở bên mắt được chiếu sáng ( Hình 7.3a ), cũng như phản ứng ánh sáng “đồng loạt” (hoặc “gián tiếp”), tức là sự co lại của đồng tử bên đối diện ( Hình 7.3b ).
Đáp ứng trực tiếp bị suy giảm trong các tổn thương của dây thần kinh thị giác cùng bên, vùng nhân trước thị (não giữa), các sợi phó giao cảm cùng bên chạy trong dây thần kinh vận nhãn hoặc cơ co đồng tử. Đáp ứng giao thoa đồng cảm bị ảnh hưởng bởi tổn thương vùng trước thị (não giữa), các sợi phó giao cảm đối bên chạy trong dây thần kinh vận nhãn hoặc cơ co đồng tử.
Trong điều kiện không có nguồn sáng trực tiếp và trong môi trường sáng, người khám có thể nhanh chóng mở mí mắt và cho đồng tử tiếp xúc với ánh sáng (ban ngày). Tuy nhiên, đây chỉ là biện pháp nhằm xác minh sự hiện diện của phản ứng đồng tử, không phải đánh giá phản ứng đồng tử diễn ra chậm hay không có.
Phản ứng chậm chạp với ánh sáng là dấu hiệu không đặc hiệu: có thể là sinh lý ở người cao tuổi, nhưng ở các trường hợp khác lại gợi ý kích thích thần kinh vận nhãn (ví dụ như hậu quả của tăng áp lực nội sọ). Một phát hiện tương đối phổ biến nhưng nổi bật là hiện tượng hippus (bất ổn đồng tử), mô tả sự giãn nở và co lại xen kẽ của đồng tử khi chiếu sáng. Hiện tượng này có thể là dấu hiệu khởi đầu của thoát vị não xuyên liềm, tổn thương não giữa hoặc liên quan đến hoạt động co giật.
Một phương pháp khác để kiểm tra chức năng tự chủ của mắt ở bệnh nhân nặng là phản xạ ciliospinal. Phản xạ này được tạo ra bởi một kích thích đau đối với nếp gấp cổ trong khi quan sát đồng tử hai bên: đồng tử sẽ giãn ra. Vì đường hướng tâm của phản xạ này bao gồm các sợi giao cảm cổ, phản xạ sẽ âm tính ở những bệnh nhân mắc hội chứng Horner.
Soi đáy mắt là một phần quan trọng của thăm khám và khả năng thực hiện chính xác chỉ đạt được nhờ thực hành và kinh nghiệm. Ban đầu, giác mạc cần được kiểm tra bằng kính soi đáy mắt đặt cách mắt vài cm. Thông thường, phản xạ màu đỏ xuất hiện khi chiếu ánh sáng vào mắt. Các vết mờ ở giác mạc và tiền phòng, thấu kính (ví dụ đục thủy tinh thể) và dịch kính sẽ xuất hiện dưới dạng các đốm đen. Sau đó, đưa thiết bị tiến sát mắt bệnh nhân và chọn thấu kính phù hợp để đưa võng mạc vào tiêu điểm. Đĩa thị giác, mạch máu võng mạc, võng mạc ngoại vi và hoàng điểm cần được kiểm tra cụ thể.
Đĩa thị giác được đánh giá về kích thước, hình dạng, màu sắc, độ trong, bờ và độ cup sinh lý. Tỷ lệ giữa cup và đĩa thường nằm trong khoảng 0,3–0,5. Giá trị cao hơn có thể liên quan đến bệnh tăng nhãn áp. Bờ thái dương của đĩa đệm thường hơi nhạt màu hơn so với bờ mũi. Các mạch máu võng mạc cần được kiểm tra, đặc biệt là quan sát đường cắt ngang động mạch, kích thước mạch, độ đồi mồi và màu sắc.
Động mạch hẹp hơn tĩnh mạch và có màu sáng hơn. Chúng cũng có một vệt nhạt theo chiều dọc do ánh sáng phản chiếu từ các thành mạch. Ở khoảng 80% các cá thể, có nhịp đập tĩnh mạch. Nhịp đập này chấm dứt khi áp lực dịch não tủy tăng lên; vì vậy, sự hiện diện của nhịp đập tĩnh mạch võng mạc là một dấu hiệu lâm sàng rất hữu ích về áp lực nội sọ bình thường. Sau đó, võng mạc cần được đánh giá để tìm bất kỳ dịch tiết, xuất huyết, tân sinh mạch, thâm nhiễm và các bất thường về sắc tố.
Đánh giá ngoại vi liên quan đến việc tìm kiếm bất kỳ vết rách, thâm nhiễm hoặc thay đổi sắc tố võng mạc. Cuối cùng, vùng hoàng điểm được kiểm tra (lý tưởng nhất là yêu cầu bệnh nhân tỉnh táo nhìn thẳng vào ánh sáng). Vùng này có màu sẫm hơn và không có mạch máu ở người bình thường. Hõm trung tâm và hố mắt cần được xác định. Những bất thường trong khu vực này có liên quan chính vì chúng ảnh hưởng đến thị lực. Các thay đổi cơ bản thường gặp ở bệnh nhân nặng được tóm tắt trong Bảng 7.6.
| Bảng 7.6 Các bệnh lý đáy mắt phổ biến ở bệnh nhân nặng | ||
|---|---|---|
| Bệnh lý | Đặc điểm | Nguyên nhân và liên quan |
| Phù gai thị |
Cương tụ đĩa đệm; xóa sổ cup; sung huyết các tĩnh mạch và mất nhịp đập; xuất huyết từ đĩa |
Tăng huyết áp ác tính; tăng áp lực nội sọ; tắc tĩnh mạch trung tâm võng mạc; ứ CO2 |
| Viêm gai thị | Tương tự như phù gai thị | Viêm dây thị thanh sau |
| Teo gai thị |
Đĩa nhợt nhạt, mép mờ, đĩa nhạt, mép sắc nét |
Thứ phát do phù gai thị; viêm dây thị thanh sau; tăng áp lực lên dây thị (ví dụ như tổn thương choáng chỗ); tắc tĩnh mạch võng mạc; đái tháo đường |
|
Tăng huyết áp |
Động mạc xoắn; mạch máu thay đổi kích cỡ; bắt chéo động - tĩnh mạch; xuất huyết hình ngọn lửa; dịch tiết cứng; phù gai thị |
Tăng huyết áp |
|
Bệnh nền đái tháo đường |
Giãn tĩnh mạch và xoắn; vi phình động mạch; chấm xuất huyết; dịch tiết mềm (đốm bông len) |
|
| Tăng sinh |
Hình thành mạch mới; xuất huyết dịch kính; bong võng mạc; bệnh viêm võng mạc tăng sinh |
|
| Thiếu máu |
Nền nhợt nhạt, mạch máu căng, xuất huyết hình ngọn lửa, dịch tiết đục |
Thiếu máu nghiêm trọng do bất kỳ nguyên nhân nào, bao gồm thiếu máu ác tính, bệnh bạch cầu |
|
Nhiễm nấm xâm lấn/ hệ thống |
Viêm màng bồ đào; dịch tiết chứa candida; viêm nội nhãn |
Nhiễm trùng hệ thống |
|
Các vệt dạng mạch máu |
Các vệt trên võng mạc giống như các mạch máu |
Bệnh Paget; tăng phốt phát huyết; To đầu chi; bệnh giả u vàng đàn hồi |
Suy giảm hay mất thị lực cấp tính ở bệnh nhân bệnh nặng
Suy giảm hoặc mất thị lực chỉ có thể được ghi nhận thông qua khai thác bởi bệnh nhân còn tỉnh táo. Để phân biệt cơ bản giữa suy giảm và mất thị lực, thực hành lâm sàng là hỏi bệnh nhân xem họ có thể nhìn rõ người khám đang đứng ở cuối giường hay không. Sau đó, người khám đưa hai hoặc ba ngón tay khoảng 50 cm trước mắt bệnh nhân và yêu cầu họ nêu số lượng ngón tay được giơ lên.
Lưu ý rằng trong một số trường hợp hiếm, bệnh nhân bị rối loạn chức năng thùy sau hai bên và mù vỏ não (ví dụ do đột quỵ) có biểu hiện mờ mắt (hội chứng Anton-Babinski) có thể giả vờ như họ nhìn thấy.
Suy giảm hoặc mất thị lực cấp tính ở người bệnh nặng hiếm gặp và thường nhất do bệnh lý của dây thần kinh thị giác. Bệnh thần kinh cơ (ví dụ như bệnh nhược cơ) và tổn thương các dây thần kinh sọ III, IV và VI gây nhìn đôi, không phải là suy giảm hoặc mất thị lực. Trong hầu hết các tình huống, tiền sử bệnh nhân cùng với các dấu hiệu và triệu chứng toàn thân, không liên quan đến thần kinh đồng thời, giúp định hướng nguyên nhân gây suy giảm thị lực.
Suy giảm thị lực do tác dụng của thuốc hoặc nhiễm độc thường liên quan đến giãn đồng tử phản ứng hai bên và thường chỉ thoáng qua. Sự kết hợp của tăng huyết áp động mạch, co giật và suy giảm thị lực gợi ý hội chứng bệnh não có hồi phục sau. Suy giảm hoặc mất thị lực sau các trạng thái shock nặng có thể do thiếu máu cục bộ thần kinh thị giác, đặc biệt nếu sử dụng liều cao thuốc vận mạch.
Suy giảm hoặc mất thị lực sau chấn thương hoặc sau phẫu thuật ở một mắt rất gợi ý đến chấn thương nhãn cầu hoặc chấn thương nhãn áp do tư thế không đúng trong lúc phẫu thuật. Gãy xương sọ nền có thể liên quan đến mất thị lực một bên hoặc hai bên do chấn thương dây thần kinh thị giác một bên hoặc hai bên (luôn thận trọng khi phải loại trừ nhu cầu điều trị thêm ở bệnh nhân bị vỡ sọ nền và giãn đồng tử hai bên!).
Mất thị lực một bên cấp tính có thể do thuyên tắc võng mạc (“bị che khuất đột ngột bởi bóng râm giảm dần”). Đột quỵ động mạch não giữa và sau có thể dẫn đến mất thị lực (ví dụ: liệt nửa người đồng manh) hoặc mất thị lực toàn bộ nếu cả hai thùy chẩm đều bị ảnh hưởng (tức là mù vỏ não). Viêm tế bào khổng lồ hoặc viêm động mạch thái dương đặc trưng (nhưng không phải luôn luôn) kết hợp với suy giảm thị lực, nhức đầu, yếu vai và các triệu chứng khác của viêm mạch hệ thống.
Suy giảm hoặc mất thị lực một vài ngày sau khi gãy xương dài, xương chậu hoặc cột sống có thể do hội chứng thuyên tắc mỡ. Các bệnh nhân này có thể có các chấm xuất huyết ở nách và/ hoặc bẹn ( Hình 7.4 ) và hồi phục sau sự suy giảm trạng thái tinh thần và trao đổi khí ở phổi, thường không rõ ràng.
Viêm dây thần kinh thị giác kèm suy giảm thị lực một bên hoặc hai bên hiếm gặp ở bệnh nhân nặng, và thường chỉ gặp ở những bệnh nhân có rối loạn viêm thần kinh (ví dụ: bệnh đa xơ cứng, viêm dây thần kinh thị giác), nhiễm virus hoặc đang dùng một số loại thuốc (ví dụ quinine liều cao). Hội chứng Terson đề cập đến sự xuất hiện của xuất huyết nội nhãn (dịch kính) sau xuất huyết dưới nhện và cần được công nhận là một nguyên nhân quan trọng có thể hồi phục gây mất thị lực ở bệnh nhân xuất huyết dưới nhện.
Các dây vận động của mắt (III, IV, VI)
Diễn giải vị trí mắt, chuyển động mắt theo phản xạ và chuyển động mắt không chủ ý/ phản xạ
| Bảng 7.7: Vị trí bất thường của mắt cũng như cử động và các vị trí tổn thương não liên quan | |
|---|---|
| Vị trí/ chuyển động | Vị trí tổn thương |
| Tonic liên hợp nhìn lên trên | Tổn thương lan tỏa/ 2 bán cầu |
| Nhìn lên trên liên hợp ngắt quãng/ nhịp nhàng | Khủng hoảng thị lực hoặc không phản ứng tâm thần (bao gồm ngất xỉu do tăng thông khí) |
| Ánh mắt liên hợp nằm ngang về phía tổn thương | Tổn thương bán cầu (ví dụ: đột quỵ, chấn thương) |
| Ánh mắt liên hợp nằm ngang ra khỏi tổn thương | Tiêu điểm động kinh bán cầu hay đồi thị hay cầu não |
| Ánh mắt bóng bàn | Tổn thương hai bên bán cầu hoặc thân não |
| Tonic nhìn xuống a | Đồi thị hay thân não |
| Mắt chim xuống | Thân não |
| Giật nhãn cầu hội tụ | Thân não |
| Gaze không liên hợp | Các dây III, IV hay VI hoặc thân não |
| Nhấp nhô nhãn cầu | Cầu não |
| Mắt lệch trục lệch | Tiểu não hay thân não |
Dây thần kinh sinh ba (V) và thần kinh mặt (VII)
Dây thần kinh tiền đình-ốc tai (VIII)
Đánh giá chức năng dây thần kinh ốc tai bằng cách quan sát phản ứng của bệnh nhân trước kích thích âm thanh (giọng nói hoặc tiếng vỗ tay đặt trước tai bệnh nhân). Suy giảm thính giác cấp tính hoặc mất thính giác ở bệnh nhân nặng là hiện tượng hiếm gặp; tuy nhiên có thể trở nên phức tạp trong bối cảnh điều trị bằng các thuốc liều lượng cao (ví dụ: aminoglycosid, thuốc lợi tiểu quai). Ngoài ra, ở những bệnh nhân gãy xương nền sọ bên, có thể xuất hiện tổn thương do chấn thương dây thần kinh ốc tai và mất thính giác một bên. Khiếm thính hoặc mất thính giác một bên hay hai bên có thể tiến triển thành viêm màng não và thường chỉ được nhận biết trong giai đoạn hồi phục.
Ở bệnh nhân hôn mê, chức năng tiền đình-ốc tai được kiểm tra bằng nghiệm pháp đầu–mắt và phản xạ tiền đình-mắt. Phản xạ đầu-mắt được khảo sát bằng cách xoay đầu thụ động (cần loại trừ chấn thương cột sống cổ trước!) nhằm đánh giá tính nguyên vẹn của thân não (dây III, VI, VIII). Trong quá trình thao tác này, người khám mở cả hai mí mắt và quan sát các chuyển động của mắt. Về mặt sinh lý, mắt có xu hướng chuyển động liên hợp theo hướng ngược lại với hướng quay đầu thụ động. Ở bệnh nhân có tổn thương cầu não, chuyển động ngang của mắt bị suy giảm và mắt không di chuyển mặc dù đầu vẫn được cử động thụ động (hiện tượng mắt búp bê). Đồng thời, người khám có thể di chuyển đầu thụ động từ trước ra sau (gật đầu thụ động), tạo nên các chuyển động mắt theo chiều dọc phản xạ theo hướng ngược lại với hướng cử động thụ động.
Về nguyên tắc, phản xạ tiền đình-mắt cũng nhằm đánh giá chức năng dây III và VI và được kích thích bằng nghiệm pháp nước lạnh (kiểm tra nhiệt lượng) (Hình 7.10).
Trong thử nghiệm, đầu bệnh nhân được nâng lên đến 30 ° và nước đá lạnh (thường là 50–60 ml) được bơm từ từ vào ống tai ngoài. Người khám thứ hai mở mắt bệnh nhân một cách thụ động và tìm các chuyển động mắt phản xạ. Nếu phản ứng tiền đình dương tính, mắt sẽ lệch sang tai được tưới và trở về vị trí chính giữa sau khi ngừng tưới nước lạnh. Chỉ nên kiểm tra vị trí bên đối diện sau thời gian nghỉ 5 phút. Không có chuyển động của mắt trong hoặc trong vòng 1 phút sau khi bơm rửa ống tai, hoặc chuyển động mắt chậm/khôi phục chậm, gợi ý bệnh lý. Do test nước lạnh gây rung giật nhãn cầu, buồn nôn và nôn ở bệnh nhân tỉnh, nên chỉ thực hiện ở bệnh nhân hôn mê. Việc diễn giải các phản xạ mắt–đầu và tiền đình–mắt cho phép định vị một số vị trí tổn thương não nhất định (Bảng 7.8).
| Bảng 7.8 Giải thích các phản ứng ở đầu mắt và tiền đình | ||
|---|---|---|
| Tổn thương | Đáp ứng đầu – mắt | Tiền đình – mắt |
| Không tổn thương hay tâm thần không đáp ứng | Cố định | Rung giật nhãn cầu, buồn nôn, nôn, chóng mặt |
| Tổn thương vỏ não lan tỏa với thân não còn nguyên vẹn | Liên hợp độ lệch của mắt với bên chuyển động đối diện | Mắt lệch sang tai được tưới (nước lạnh) và nhanh chóng trở về vị trí chính giữa, không rung giật nhãn cầu |
| Có bó lưới hoặc tổn thương bó dọc giữa | Mắt một bên lệch sang vị trí đối diện, mắt đối bên ở vị trí chính giữa | Mắt cùng bên lệch sang tai được tưới (nước lạnh), mắt đối bên vẫn ở vị trí chính giữa |
| Tổn thương thân não sâu | Không đáp ứng (mắt búp bê) | Không đáp ứng (mắt búp bê) |
Dây thiệt hầu (IX) và dây phế vị (X)
Dây thần kinh hầu họng (thiệt hầu) được khảo sát cùng với dây phế vị vì cả hai chi phối các cấu trúc bên trong yết hầu và duy trì phản xạ bịt họng và phản xạ ho. Phản xạ bịt họng được tạo ra bởi kích thích cơ học lên thành sau họng (ví dụ: tăm bông, dụng cụ đè lưỡi hoặc ống thông hút). Một số thầy thuốc có thể kích thích phản xạ bịt họng bằng ống nội khí quản; tuy nhiên bệnh nhân thường dung nạp một cách đáng ngạc nhiên với thao tác này, do đó không nên sử dụng ống nội khí quản để tránh phản ứng âm tính giả. Phản xạ ho được đánh giá bằng cách đưa ống thông hút xuống ống nội khí quản và gây kích thích cơ học lên thành khí quản và/hoặc phế quản.
Hai xét nghiệm khác có thể đánh giá cụ thể chức năng của dây phế vị. Thứ nhất, ấn đầu ngón tay lên cả hai nhãn cầu để làm chậm nhịp tim theo cơ chế sinh lý. Phản xạ mắt–tim (“Hiện tượng Aschner”) được trung gian bởi dây thần kinh sinh ba (dây hướng tâm) và dây thần kinh phế vị (dây ly tâm). Thứ hai, tiêm tĩnh mạch 2 mg atropine về mặt dược lý ức chế trương lực phế vị trên tim và làm tăng nhịp tim. Ở những bệnh nhân chết não (thân), trong đó nghiệm pháp atropine thường được thực hiện, việc sử dụng atropine không làm tăng nhịp tim đáng kể (< 10-15%).
Dây thần kinh phụ (XI)
Dây thần kinh phụ hiếm khi được kiểm tra ở bệnh nhân mắc bệnh nặng. Chức năng của dây chỉ có thể được đánh giá ở bệnh nhân còn tỉnh. Người khám khảo sát khả năng quay đầu của bệnh nhân từ bên này sang bên kia (đánh giá sự nâng cao cơ ức đòn chũm) và nhún cả hai vai (cơ hình thang) chống lại lực cản. Cần lưu ý: do đặc điểm giải phẫu của cơ ức đòn chũm, liệt dây thần kinh phụ thường gây yếu khi quay đầu về phía đối bên của tổn thương, nhưng lại gây yếu cùng bên khi nâng cao vai.
Dây thần kinh hạ thiệt (XII)
Dây thần kinh hạ thiệt kéo dài trong lòng lưỡi và cho phép bệnh nhân lè lưỡi ra và di chuyển lưỡi từ bên này sang bên kia. Khi các cơ lưỡi cắt ngang đường giữa, tổn thương một bên dây xii dẫn đến lệch đầu lưỡi về phía bên tổn thương. Trong đơn vị chăm sóc đặc biệt, rối loạn chức năng thần kinh hạ thiệt một bên thoáng qua thường gặp ở các bệnh nhân sau phẫu thuật động mạch cảnh được thực hiện theo phương pháp phong tỏa dây thần kinh cổ hoặc bóc tách cổ. Nguyên nhân liên quan đến tác dụng gây tê cục bộ trên hoặc tổn thương phần cột sống cổ của dây thần kinh hạ thiệt.
Giải thích các nhịp hô hấp
Khi não (thân) điều chỉnh tần số hô hấp và thể tích thông khí, những thay đổi trong nhịp hô hấp có thể là biểu hiện của rối loạn chức năng thần kinh. Các biến đổi nhất định của nhịp thở do tổn thương các vùng não cụ thể giúp thầy thuốc lâm sàng định vị vị trí tổn thương (Bảng 7.9, Hình 7.11).
| Bảng 7.9: Các bất thường về nhịp hô hấp và các vị trí tổn thương não liên quan | ||
|---|---|---|
| Các bất thường của nhịp hô hấp | Miêu tả | Vị trí tổn thương |
| Kiểu thở Cheyne-Stokes | Các đợt tăng thông khí xen kẽ tăng dần và giảm dần bị gián đoạn bởi các đợt ngưng thở | Các bán cầu, hạ đồi, thân não |
| Tăng thông khí từ thần kinh trung ương | Thở nhanh sâu, tần số thường > 25 lần/phút | Thân não |
| Thở hỗn loạn | Thở bất điều hòa về tần số, biên độ, thể tích thông khí | Thân não |
| Thở câm | Hít vào hỗn hển theo sau sự thúc giục, thở ra kéo dài ở tốc độ không đều | Cầu não |
| Ngưng thở | Ngưng hô hấp | Hành tủy |
Một rối loạn nhịp hô hấp hiếm khi gặp nhưng đáng chú ý là “ngưng thở do tác động não” xảy ra sau khi tác động tốc độ cao lên thân não ức chế hệ thống lưới và các trung tâm hô hấp. Mặc dù chứng ngừng thở do tác động não có thể là nguyên nhân phổ biến dẫn đến tử vong do chấn thương không do xuất huyết, nhưng bệnh này hiếm khi được chẩn đoán do sự chậm trễ thông thường mà các dịch vụ y tế khẩn cấp khi đến hiện trường vụ tai nạn. Ngoài rối loạn chức năng thần kinh, các bệnh tim phổi (ví dụ như suy tim, shock, ngừng tim) có thể tác động gián tiếp đến nhịp hô hấp (xem Phần II. 5.1).
CHẨN ĐOÁN LÂM SÀNG CHẾT (THÂN) NÃO
Trước khi tiến hành đánh giá lâm sàng về chết não (thân), cần xác định nguyên nhân gây hôn mê và chứng minh không thể hồi phục, đồng thời loại trừ tất cả yếu tố gây nhiễu tiềm tàng (ví dụ: hạ thân nhiệt, nhiễm độc, rối loạn chuyển hóa nặng). Ở góc độ lâm sàng, yếu tố gây nhiễu có liên quan nhất là thuốc an thần còn sót lại, đặc biệt ở những bệnh nhân đã được truyền liên tục thuốc an thần, thuốc mê và/ hoặc opioid trong thời gian ngay trước khi đánh giá chết não. Vì vậy, cần chú ý loại trừ mọi tác dụng dược lý ở nhóm bệnh nhân này. Về phương diện lâm sàng, các dấu hiệu của chết não là: (1) hôn mê; (2) không có phản xạ thân não; và (3) không có ổ thở (ngưng thở).
Ban đầu, bệnh nhân được kích thích bằng giọng nói; sau đó thực hiện kích thích đau trung ương trong khi người khám theo dõi bất kỳ phản ứng vận động nào (bao gồm nhăn mặt cũng như các chuyển động ngoại vi). Khi gây kích thích đau trung tâm (ví dụ tạo ấn lên ổ cung trên hốc mắt hoặc khớp thái dương hàm), không quan sát thấy phản ứng vận động. Ngược lại, khi tạo kích thích ngoại vi gây đau (ví dụ bấu véo các chi dưới hoặc chi trên), các cử động phản xạ tủy sống có thể được nhìn thấy ở 50% bệnh nhân, đặc biệt khi chẩn đoán chết não bị trì hoãn. Các chuyển động phản xạ này có tính rập khuôn, thường liên quan đến các cử động uốn cong ngắn, và xuất hiện phổ biến hơn ở chi dưới so với chi trên (ví dụ: gập ngón tay). Ở một số bệnh nhân có thể xuất hiện cả các cử động tự phát của tứ chi. Các biểu hiện này gồm giật ngón tay hoặc ngón chân, động tác mở rộng cánh tay và vai, cũng như gập cánh tay và bàn chân. Dấu hiệu Lazarus mô tả một chuyển động phức tạp ở bệnh nhân chết não; dấu hiệu này hiếm khi được quan sát trong quá trình kiểm tra ngừng thở hoặc sau khi ngắt kết nối máy thở sau hiến tạng. Diễn tiến thường bắt đầu bằng động tác uốn chậm một hoặc cả hai khuỷu tay, sau đó có thể nâng cao cánh tay.
Tiếp theo, kiểm tra thân não bằng đánh giá có hệ thống các dây thần kinh sọ II, III, V, VI, VII, VIII, IX và X. Các dây thần kinh sọ I, IV, VI, XI và XII không được kiểm tra vì việc đánh giá đòi hỏi bệnh nhân tỉnh táo và hợp tác. Trong số các xét nghiệm, chỉ thực hiện một test ở những bệnh nhân được đánh giá là chết não: nghiệm pháp ngưng thở. Nghiệm pháp này đánh giá chức năng của trung tâm hô hấp.
Theo đồng thuận, ngưng thở được định nghĩa là tình trạng không thở (lồng ngực có thể nhìn thấy được) mặc dù PaCO2 > 60 mmHg (> 8 kPa). Một số biến thể của nghiệm pháp ngưng thở đã được đề xuất. Tất cả các biến thể đều bao gồm giảm thông khí hoặc đạt được tình trạng theo mục tiêu bằng cách cho bệnh nhân thở máy với thể tích phút thấp (ví dụ ở bệnh nhân bị suy giảm oxy) hoặc ngắt kết nối bệnh nhân khỏi máy thở sau khi đã được oxy hóa trước. Trong giai đoạn giảm thông khí, cần theo dõi sát để phát hiện bất kỳ cử động nào của lồng ngực hoặc nỗ lực hô hấp khác. Nên thực hiện đồng thời capnometry/ capnography để xác nhận. Song song với việc tăng PaCO2, cung lượng tim tăng, tạo ra các xung động động mạch cảnh ở cổ tương tự như quan sát ở những bệnh nhân có tăng động lực tuần hoàn. Các xung động này không được nhầm lẫn là những nỗ lực hít vào.
Trong suốt quá trình nghiệm pháp ngưng thở, lặp lại các phân tích khí máu động mạch để xác minh PaCO2 > 60 mmHg (> 8 kPa). Do tốc độ trao đổi chất ở bệnh nhân chết não là tối thiểu, thường phải chờ một khoảng thời gian dường như kéo dài (5–10 phút hoặc hơn) cho đến khi PaCO2 tăng vượt 60 mmHg. Nếu bệnh nhân bị suy giảm oxy mà không ngắt kết nối khỏi máy thở nhưng cần phải giảm thể tích phút, điều cần thiết là ngắt kết nối bệnh nhân khỏi máy thở và quan sát lâm sàng xem có bất kỳ nỗ lực hô hấp nào sau khi đã đạt mức PaCO2 mục tiêu hay không.
Việc ngắt kết nối máy thở để quan sát nhịp thở tự phát có thể dẫn đến kết quả dương tính giả do tuần hoàn tăng động hoặc do luồng không khí bên trong có thể tự phát gây ra nhịp thở hỗ trợ trong một số máy thở. Ở những bệnh nhân được đánh giá chết não khi đang điều trị bằng ECMO, đã có đề xuất một nghiệm pháp ngưng thở đã được sửa đổi. Cách này gồm ngắt kết nối bệnh nhân khỏi máy thở trong khi giảm lưu lượng khí oxy của máy (duy trì FO2 ở mức 1,0) xuống 1 L/ phút cho đến khi PaCO2 tăng lên > 60 mmHg (> 8 kPa).
CÁC PHẢN XẠ CHUNG VÀ SUY GIẢM CHỨC NĂNG VẬN ĐỘNG
Phản xạ gan bàn chân
Nhằm bảo vệ long bàn chân, khi vuốt sinh lý lòng bàn chân sẽ làm ngón chân cái gấp về phía lòng bàn chân và đồng thời khép các ngón chân còn lại. Sự dạn rộng (dorsiflexion) của ngón chân cái được gọi là phản ứng duỗi của ngón chân hoặc dấu hiệu Babinski. Hiện tượng này là sinh lý ở trẻ sơ sinh, nhưng luôn bất thường ở trẻ lớn và người trưởng thành.
Để tạo được phản xạ gan bàn chân, cần cạo/ kích thích toàn bộ lòng bàn chân bắt đầu từ gót chân, di chuyển về phía trước tới mặt bên của lòng bàn chân, sau đó cong từ đường giữa về phía gốc ngón chân cái (Hình 7.12).
Các biến thể để kiểm tra phản xạ gan bàn chân được trình bày trong Hình 7.13.
Ngoài các biến thể trên, một cách hữu ích khác để đánh giá phản ứng gan bàn chân là dấu hiệu Chaddock. Dấu hiệu này liên quan đến kích thích hoặc vuốt bàn chân phía bên ngoài từ vùng mắt cá, dẫn đến duỗi ngón chân cái. Mặc dù dấu hiệu này thường được đánh giá trong thực hành lâm sàng, sinh lý học thần kinh của phản xạ bệnh lý vẫn chưa được hiểu đầy đủ; được cho là liên quan đến đường vỏ - tủy và các trung tâm cao hơn.
Trong thực hành lâm sàng, kiểm tra phản xạ gan bàn chân thường được dùng để phân biệt thực tế giữa thức tỉnh muộn do dùng thuốc an thần và tổn thương não do rối loạn chuyển hóa/ cấu trúc. Phản xạ Plantar dương tính một bên gợi ý tổn thương trên lều ở bên đối diện hoặc tổn thương tủy sống ở cùng bên và cần được tiếp tục chẩn đoán. Trong trường hợp yếu các cơ duỗi ngón chân hoặc bệnh lý thần kinh (xa), dấu hiệu Babinski có thể không xuất hiện.
Các phản xạ nguyên thủy
Những phản xạ nắm, mõm, ngoáy, mút và sờ gan bàn tay được xếp vào nhóm phản xạ nguyên thủy (cổ xưa) hoặc dấu hiệu phóng thích thùy trán. Phản xạ cầm nắm được kiểm tra bằng cách đưa một vật vào tay bệnh nhân rồi từ từ rút ra theo động tác vuốt ve (Hình 7.14).
Với phản xạ cầm nắm dương tính, bệnh nhân sẽ giữ/ nắm lấy vật. Phản xạ mõm được tạo ra bằng cách chạm vào môi ở đường giữa; khi phản xạ dương tính, miệng thực hiện động tác mút hoặc tạo thành “mõm”. Tương tự, nếu phản xạ mút dương tính, bệnh nhân bắt đầu mút khi chạm nhẹ vào môi, đồng thời miệng mở và đầu quay về phía kích thích xúc giác (ví dụ tại một góc của miệng).
Để kiểm tra phản xạ gan bàn tay – cằm, người khám quét cơ gấp của ngón tay cái từ vùng cổ tay đến gốc của ngón tay cái; sự co giật của cơ cằm cùng bên khi làm động tác này là phản ứng dương tính.
Tất cả các phản xạ nêu trên đều là sinh lý ở trẻ sơ sinh, nhưng khi xuất hiện ở trẻ lớn/ người trưởng thành lại gợi ý tổn thương não lan tỏa, bao gồm tổn thương các thùy trán (ví dụ: quan sát ở bệnh nhân sau phẫu thuật tim khi tỉnh dậy sau gây mê). Mặc dù đã được đề xuất trước đây, không có phản xạ nào trong nhóm này có thể được sử dụng để xác định vị trí tổn thương thùy trán.
Các bất thường vận động và bệnh lý vận động chuyển hóa
Rung giật cơ (myoclonus) là các cơn giật đột ngột, ngắn (<0,25 s), không tự chủ, không theo nhịp của một hoặc nhiều cơ/nhóm cơ riêng lẻ; có thể khu trú, một bên hoặc hai bên. Rung giật cơ có thể được khởi phát do các thuốc thường sử dụng ở bệnh nhân nặng (ví dụ như propofol, etomidate), do bệnh não chuyển hóa (ví dụ như tang ure huyết, tăng CO2) hoặc do tổn thương tủy sống.
Rung giật cơ có thể xuất hiện tự phát hoặc được gây ra bởi tiếng ồn, kích thích xúc giác hoặc kích thích đau đớn. Một dấu hiệu thường gặp và khá đặc hiệu của tổn thương não lan tỏa nặng, chủ yếu do thiếu oxy (ví dụ sau ngừng tim), là rung giật cơ ở lưỡi, quanh miệng và/hoặc quanh ổ mắt. Trong vòng vài giờ, các cơn giật lan từ vai đến thân và tứ chi. Trong vòng 24-48 giờ, các cơn giật đạt cường độ tối đa và giảm dần trong vài ngày. Rung giật cơ toàn thể liên quan đến bệnh não nặng sau thiếu oxy và, trong hầu hết các trường hợp, là dấu hiệu lâm sàng của tiên lượng xấu. Rung giật cơ do cử động có chủ ý hiếm khi gặp ở bệnh nhân bệnh nặng, nhưng đôi khi được ghi nhận ở những bệnh nhân đang hồi phục sau thiếu oxy não ("hội chứng Lance Adams"). So với rung giật cơ do thiếu oxy, dạng rung giật cơ này khởi phát chậm hơn (vài ngày thay vì vài giờ) sau khi ngừng tim.
Bệnh não do chuyển hóa có thể liên quan đến nhiều kiểu rối loạn vận động. Bệnh não gan (độ I và II) có thể kèm run tay, còn được gọi là chứng run tay chân (asterixis). Mặc dù asterixis điển hình ở bệnh nhân bệnh não gan, nó cũng có thể gặp trong các bệnh não chuyển hóa khác (ví dụ như bệnh não do tang urê huyết máu, bệnh não do phenytoin). Vỗ run tay thường có tính chất loạn nhịp và được tạo ra khi bệnh nhân mở rộng cánh tay, làm tăng duỗi bàn tay ở cổ tay và quạt các ngón tay ("Hình 7.16").
Khác với rung giật cơ, các chuyển động không phải do co cơ gây ra mà do sự gián đoạn ngắn trong quá trình co của cơ duỗi dài cổ tay (tức là myoclonus “âm tính”), dẫn đến chuyển động nhanh xuống của cổ tay; sau đó tiếp theo là chuyển động giật, chỉnh sửa. Run tay (tremor) phân biệt với rung giật cơ (myoclonus) và asterixis ở chỗ cả cơ chủ vận và cơ đối kháng đều được kích hoạt, vì vậy tạo ra cử động hai chiều.
ĐÁNH GIÁ CHỨC NĂNG TIỂU NÃO
Không thể chạm mũi thường đi kèm với run gợi ý mất điều hòa xảy ra ở cùng bên với tổn thương tiểu não. Ở nghiệm pháp ngón tay, bệnh nhân được yêu cầu nhắm vào ngón tay của người thăm khám thay vì chạm vào mũi của chính mình. Điểm quan trọng là phải giữ vai bệnh nhân cố định để có thể thực hiện và diễn giải nghiệm pháp chính xác.
Trong nghiệm pháp gót chân – đầu gối, bác sĩ yêu cầu bệnh nhân di chuyển gót chân trên ống chân từ đầu gối xuống bàn chân.
Rối loạn vận động nhanh mô tả việc không thực hiện được các chuyển động luân phiên nhanh chóng như xoay tay và ngửa ( Hình 7.18 ) hoặc chạm đầu ngón tay cái vào các ngón khác.
Rối loạn nhịp nhàng và bất thường hồi phục (rebound) được đánh giá bằng cách bệnh nhân chủ động gập cánh tay trước sức đề kháng của người khám. Trong rối loạn chức năng tiểu não, lực cản đột ngột được giải phóng sẽ gây ra sự phục hồi rõ rệt vào tay người khám (cần nhớ tránh để bệnh nhân đập vào mặt).
SUY GIẢM CHỨC NĂNG NÃO CỔ XƯA
Sảng
Các rối loạn quá trình ngôn ngữ
Mất ngôn ngữ được hiểu là tình trạng mất khả năng hiểu và hình thành ngôn ngữ do rối loạn chức năng của não. Các thể mất ngôn ngữ phổ biến nhất được trình bày trong Bảng 7.10.
| Bảng 7.10: Các dạng mất ngôn ngữ phổ biến nhất gặp ở bệnh nhân nặng | |||||
|---|---|---|---|---|---|
| Dạng | Miêu tả | Trôi chảy | Hiểu | Lặp lại |
Tổn thương bán cầu não trái |
| Broca (mất biểu đạt) |
Hiểu nhưng khó diễn đạt |
Không | Toàn vẹn |
Suy giảm |
Vùng Broca |
| Wernicke (mất tiếp thu) |
Nói nhưng không hiểu |
Tốt | Suy giảm |
Suy giảm |
Vùng Wernicke |
| Mất ngôn dẫn truyền |
Hiểu nhưng không lặp lại |
Tốt | Toàn vẹn |
Suy giảm |
Thùy thái dương trên |
| Mất ngôn vận động xuyên vỏ |
Nói không trôi chảy |
Không | Toàn vẹn |
Tốt | Kề bên vùng Broca |
| Mất ngôn cảm giác xuyên vỏ |
Trôi trải, lặp lại tốt nhưng không hiểu |
Tốt | Suy giảm |
Tốt | Vùng cận của thùy đỉnh, thái dương và chẩm |
| Mất ngôn toàn thể |
Suy giảm các quá trình ngôn ngữ |
Không | Suy giảm |
Suy giảm |
Tổn thương lớn bán cầu ưu thế |
Các thể mất ngôn ngữ có thể được phân biệt dựa trên mức độ trôi chảy và khả năng hiểu cũng như khả năng lặp lại các từ. Để đánh giá trôi chảy, cần hỏi các câu hỏi mở thay vì câu hỏi đóng; ví dụ: “Bạn có thể cho tôi biết điều gì đã xảy ra/ đưa bạn đến với chúng tôi không?”. Chức năng nói ở đa số người nằm tại bán cầu trái bất kể sự chi phối của tay, như minh họa trong Hình 7.20.
Do đó, tổn thương bán cầu não trái có thể làm suy giảm khả năng hiểu và hình thành ngôn ngữ. Những chức năng nhận thức khác như đọc hoặc viết có liên quan chặt chẽ với quá trình xử lý ngôn ngữ và cũng có thể bị ảnh hưởng. Đáng chú ý, ở một số bệnh nhân mắc một số dạng rối loạn ngôn ngữ nhất định (ví dụ: chứng mất ngôn ngữ/ mất ngôn ngữ biểu cảm của Broca), khả năng hát hoặc chửi thề vẫn có thể được duy trì.
Một chẩn đoán phân biệt quan trọng với chứng mất ngôn ngữ của Wernicke hoặc chứng mất ngôn ngữ trôi chảy/ dễ tiếp thu ở bệnh nhân viêm màng não thức tỉnh sau khi dùng thuốc an thần là tình trạng mất thính lực mới. Ban đầu, các bệnh nhân này có thể vẫn còn mê sảng và không thể giao tiếp nếu không được cung cấp thông tin thông qua nghe được.
Chứng mất ngôn ngữ cần được phân biệt rõ ràng với các rối loạn vận động như khó phát âm, phản ánh các khó khăn trong việc phát âm các từ. Vì vậy, lời nói có thể khó hiểu (ví dụ: “nói ngọng”); tuy nhiên nội dung và ngữ pháp thường vẫn bình thường (ngôn ngữ viết thường bình thường). Rối loạn phát âm thường gặp ở bệnh nhân liệt họng, bệnh nhân có bệnh lý ngôn ngữ hoặc liệt mặt, cũng như ở bệnh nhân bị bệnh tiểu não. Không có khả năng tạo ra âm thanh và lời nói được gọi là đột biến và hiếm khi gặp ở bệnh nhân nặng.
GIÁ TRỊ CÁC DẤU HIỆU LÂM SÀNG TIÊN LƯỢNG THẦN KINH
Dự đoán khả năng phục hồi của bệnh nhân sau hôn mê là một vấn đề khó khăn, song có ý nghĩa thiết thực đối với bệnh nhân và gia đình. Ở đa số bệnh nhân hôn mê (ví dụ do chấn thương sọ não, bệnh não thiếu oxy, đột quỵ), tiên lượng thần kinh được xây dựng dựa trên các dấu hiệu lâm sàng, các kỹ thuật hình ảnh (ví dụ chụp cắt lớp vi tính, chụp cộng hưởng từ) và thăm dò sinh lý thần kinh (ví dụ điện não, điện thế gợi lên). Mặc dù giữa các cá thể có khác biệt (tuổi tác, trạng thái chức năng trước khi mắc bệnh) và tùy nguyên nhân gây hôn mê, vẫn có một số quy tắc thường được áp dụng.
Nói chung, thời gian càng kéo dài trước khi xuất hiện các dấu hiệu tỉnh táo thì khả năng hồi phục hoàn toàn chức năng thần kinh nói chung càng thấp. Các yếu tố như an thần, rối loạn chức năng cơ quan và các rối loạn chuyển hóa có thể ảnh hưởng đến thời điểm hồi phục; do đó cần được cân nhắc khi giải thích thời gian hồi phục. Tiến triển từ hôn mê đến tỉnh hoàn toàn thường là một quá trình từ từ, thường bao gồm giai đoạn kích động và bồn chồn. Các dấu hiệu lâm sàng tinh tế (ví dụ các cử động có mục đích và/ hoặc cử động phòng thủ trong quá trình chăm sóc điều dưỡng hoặc vật lý trị liệu) thường phản ánh phục hồi sớm. Các cử động sinh lý của chi trên hoặc chi dưới [ví dụ: vắt chéo chân (“dấu hiệu bắt chéo chân”) hoặc đặt bàn tay gấp trên ngực] cũng có liên quan đến khả năng phục hồi thần kinh thuận lợi.
Tiên lượng thần kinh ở bệnh nhân bị bệnh não thiếu oxy sau khi hồi sức do ngừng tim là một nhiệm vụ thường gặp trong khoa chăm sóc đặc biệt. Các dấu hiệu lâm sàng gợi ý tiên lượng xấu (tử vong hoặc tàn tật nặng) mặc dù kiểm soát nhiệt độ mục tiêu bằng quản lý kiểm soát nhiệt độ mục tiêu là tiêu chảy sớm (<24 giờ) (biểu hiện viêm đại tràng do thiếu máu cục bộ). Các dấu hiệu gồm: đồng tử hai bên không có đáp ứng ánh sáng và/ hoặc không có phản xạ giác mạc, cũng như không có hoặc đáp ứng vận động duỗi với đau ở 72 giờ sau khi tuần hoàn tự phát trở lại và/ hoặc sau khi làm ấm trở lại. Tương tự như phản xạ giác mạc, phản ứng vận động với kích thích đau thường bị ức chế bởi thuốc an thần. Vì vậy, cần theo dõi kéo dài ở những bệnh nhân đã có thể nhận liều an thần cao, ở những người có rối loạn chức năng thận hoặc gan và ở các đối tượng mới ngừng sử dụng thuốc an thần.
Mặc dù sự hiện diện của các cơn giật lẻ tẻ có liên quan đến tiên lượng xấu, trạng thái giật cơ (giật khởi phát quanh mắt và quanh miệng rồi lan rộng ra toàn bộ cơ thể và đạt mức tối đa trong vòng 48 giờ) được xem là dấu hiệu tiên lượng xấu với tỷ lệ âm tính giả gần 0%.
NHẬN DIỆN CÁC HỘI CHỨNG ĐỘT QUỊ
| Bảng 7.11: Các hội chứng đột quỵ chính | |
|---|---|
| Hội chứng | Diễn giải |
| ĐM não giữa - MCA, bên phải | Liệt nửa người bên trái/ liệt bán thân (tay > chân), dị cảm ½ người bên trái, bán manh bên trái, bỏ quên ½ người (bao gồm cả thị giác) bên trái, mất phối hợp, nhìn liên hợp và đầu quay sang bên phải (trong tắc MCA gần), kích động |
| MCA, bên trái | Liệt 1/2 người bên phải / liệt bán thân (tay > chân), dị cảm ½ người bên phải, bán manh bên phải, mất ngôn ngữ, nhìn liên hợp và đầu quay sang bên trái (trong tắc gần MCA) |
| ĐM não trước | Liệt nửa người đối bên/ liệt bán thân (chân >> tay), thay đổi tính cách, thờ ơ, đại tiểu tiện không tự chủ, phản xạ sơ khai |
| ĐM não sau | Bán manh đối bên, liệt nửa người đối bên, dị cảm (trong tắc PCA gần), giảm mức độ thức tỉnh nếu đồi thị bị ảnh hưởng |
| Lỗ khuyết | Liệt nửa người đối bên đơn thuần hoặc dị cảm đơn thuần hoặc hội chứng nói khó - bàn tay vụng về |
| Tiểu não (>90% PICA) a | Buồn nôn, nôn, chóng mặt, nhức đầu, mất điều hòa cùng bên, nói khó, khó nuốt, rung giật nhãn cầu cùng bên |
| Cầu não | Hôn mê, liệt tứ chi, đồng tử co nhỏ, mắt nhấp nhái, ngừng thở |
| Thân nền | Liệt dây thần kinh sọ cùng bên, liệt nửa người/ dị cảm đối bên, chóng mặt, trạng thái tinh thần u uất, ánh mắt không hòa hợp, lệch xiên, thở ồn ào hoặc ngưng thở |
Do thời gian hạn hẹp dành cho các can thiệp điều trị trong đột quỵ, việc nhận biết sớm có ý nghĩa then chốt. Từ viết tắt FAST đã được đề xuất như một cách thức ban đầu nhanh chóng nhằm đánh giá bất kỳ cá nhân nào có khả năng mắc đột quỵ. Ban đầu, FAST được mô tả như một biện pháp hỗ trợ để nhận ra nhanh và thúc đẩy việc xử trí các nạn nhân đột quỵ. Từ viết tắt của bất đối xứng trên khuôn mặt - Facial asymmetry, Yếu cánh tay - Arm weakness, Khó khăn khi nói - Speech difficulties và Thời gian - Time (về bản chất là gọi dịch vụ cấp cứu/đến bệnh viện và quan trọng là thời gian để tiến hành điều trị tiêu huyết khối ở những ứng viên phù hợp, lý tưởng là trong vòng 3 giờ kể từ khi có triệu chứng đột quỵ cấp tính khởi phát). Một số tác giả đã mở rộng từ viết tắt thành BEFAST với “B” đề cập đến Cân bằng - Balance và “E”, Mắt - Eye.
| Bảng 7.12: Các dấu hiệu/ triệu chứng lâm sàng của xuất huyết dưới nhện (SAH) và huyết khối tĩnh mạch xoang não (CSVT) | ||
|---|---|---|
| Bệnh sử | Triệu chứng lâm sàng | |
| SAH | Các biến cố thần kinh/ trọng điểm 10–20 ngày trước (10–40%) bao gồm: nhức đầu, chóng mặt, đau mắt, nhìn đôi và/ hoặc mất thị lực |
Phân loại Hunt và Hess:
I: Không có triệu chứng hoặc nhức đầu nhẹ II: Đau đầu dữ dội (“đau đầu sấm sét”), cứng cổ a , đau cổ, liệt dây thần kinh sọ III: Lú lẫn và/ hoặc thiếu hụt thần kinh nhẹ IV: Liệt nửa người và/ hoặc liệt nửa người V: Hôn mê |
|
Phân loại của Liên đoàn phẫu thuật Thần kinh thế giới:
I: GCS 15 II: GCS 13–14 không có thiếu hụt vận động III: GCS 13–14 và thiếu hụt vận động V: GCS 7–12 có hay không có thiếu hụt vận động V: GCS ≤6 có/ không thiếu hụt vận động |
||
| CSV T | Tình trạng mất nước trước đó, thời kỳ chu sinh, tăng đông máu, viêm màng não, nhiễm trùng vùng mũi | Nhức đầu (90%), nôn mửa, co giật khu trú (40%), thay đổi trạng thái tâm thần, liệt dây thần kinh sọ, hội chứng nửa thân b , sụp mi cùng bên và phù quanh ổ mắt c , thiếu khu trú d |
Khi các khối máu tụ trong não mở rộng đáng kể về thể tích trong những phút và giờ đầu tiên, chúng thường kèm theo các dấu hiệu và triệu chứng bổ sung ngoài các thiếu hụt do tổn thương chính gây ra hơn là đột quỵ do thiếu máu cục bộ (ví dụ: co giật). Các thăm khám thực thể gợi ý sự hiện diện của đột quỵ xuất huyết bao gồm suy giảm thần kinh và/ hoặc mức độ ý thức xấu đi nhanh chóng, hôn mê, nhức đầu, cứng cổ, phản xạ duỗi gan bàn chân hai bên, nôn mửa, và tăng huyết áp động mạch nặng nề. Mất khả năng kiểm soát và bảo vệ đường thở ở bệnh nhân xuất huyết thường xuyên hơn đột quỵ do thiếu máu cục bộ. Mặc dù co giật thường liên quan đến đột quỵ xuất huyết, chúng hiếm khi xảy ra do hậu quả của đột quỵ do thiếu máu cục bộ. Chứng liệt nửa người (hemi) thoáng qua sau cơn động kinh — còn được gọi là chứng liệt Todd — là một dạng giả đột quỵ phổ biến. Một số bệnh lý khác có thể biểu hiện giống đột quỵ và do đó cần đưa vào chẩn đoán phân biệt. Các tình trạng lâm sàng này bao gồm khối u não, nhiễm trùng toàn thân hoặc nhiễm trùng huyết, hạ đường huyết, hạ natri máu hoặc rối loạn tâm thần (ví dụ: rối loạn chuyển đổi).
| Bảng 7.14: Thang đo mức độ nghiêm trọng đột quỵ cấp tính trước khi nhập viện | |
|---|---|
| Các thành phần | Diễn giải |
| Tháng và / hoặc tuổi không chính xác = 1 điểm | Mức độ ý thức NIHSS> 0 |
| Liệt và / hoặc lệch gaze = 1 điểm | NIHSS gaze >0 |
| Yếu cánh tay = 1 điểm | Vận động cánh tay NIHSS> 0 |
NHẬN DIỆN CÁC HOẠT ĐỘNG KINH
NHẬN DIỆN CÁC KÍCH THÍCH MÀNG NÃO
Viêm màng não do vi khuẩn
Đánh giá dịch não tủy qua nhìn đại thể
CÁC THỰC HÀNH LÂM SÀNG
Đặc điểm lâm sàng của Hội chứng kháng cholinergic trung ương
| Hộp 1: Đặc điểm lâm sàng của Hội chứng kháng cholinergic trung ương |
|---|
Mặc dù cơ chế kháng cholinergic có liên quan đến cơ chế bệnh sinh của sảng ở bệnh nhân nặng, Hội chứng kháng cholinergic trung ương được xem là một hội chứng riêng biệt, có tính chất giống sảng, đồng thời biểu hiện bằng sự phối hợp các dấu hiệu lâm sàng sau:
|
Các chẩn đoán phân biệt ở bệnh nhân tỉnh táo, nhưng không phản ứng
| Hộp 2: Các chẩn đoán phân biệt ở bệnh nhân tỉnh táo, nhưng không phản ứng |
|---|
| Hội chứng khóa trong |
| Do các tổn thương ở cầu não hai bên với sự phá hủy các vùng vận động thuộc cầu não (ví dụ trong huyết khối động mạch thân nền hoặc xuất huyết cầu não, hội chứng mất cân bằng thẩm thấu); bệnh nhân bị liệt tứ chi, vẫn thở tự nhiên và chỉ có thể giao tiếp bằng cử động mắt hướng lên và chớp mắt |
| Hội chứng thức không đáp ứng (trước đây được gọi là trạng thái thực vật) |
| Tình trạng thiếu nhận thức dai dẳng (> 1 tháng) hoặc vĩnh viễn (> 3–12 tháng) mặc dù có thể có sự thức (mắt mở) sau chấn thương sọ não hoặc không do chấn thương sọ não |
| Tổn thương thùy trán đơn độc |
| Sự thờ ơ, chán nản (mất động lực) và chậm phản ứng với các kích thích từ môi trường bên ngoài có thể xuất hiện khi tổn thương một hoặc cả hai thùy trán (ví dụ do chấn thương hoặc đột quỵ) |
| Đột biến Akinetic |
| Một hội chứng thùy trán đặc thù, trong đó bệnh nhân không vận động nhưng chỉ thực hiện các cử động tối thiểu để tiến hành các hoạt động đã được lựa chọn (ví dụ: ăn) |
| Mất ngôn ngữ toàn bộ |
| Không có khả năng hiểu và nói phần lớn, thường do đột quỵ hoặc chấn thương bán cầu lớn bên trái; đặc biệt nếu triệu chứng khởi đầu từ một cơn đột quỵ, các biểu hiện khác (hội chứng nửa người bên phải) thường đi kèm. Chứng mất ngôn ngữ toàn bộ đơn độc rất hiếm, có thể làm bệnh nhân tỉnh táo nhưng không thể giao tiếp, tuy nhiên vẫn có thể thực hiện các hoạt động có ý nghĩa |
| Trạng thái sau động kinh |
| Trong một khoảng thời gian giới hạn sau cơn động kinh (vài phút đến vài giờ), bệnh nhân có thể tỉnh nhưng không phản ứng; trong một số trường hợp có thể xuất hiện liệt một hoặc nhiều bộ phận cơ thể (liệt Todd) |
| Bệnh não chuyển hóa |
| Rất ít bệnh nhân bị bệnh não chuyển hóa (phần lớn có nguồn gốc nhiễm trùng máu hoặc gan) có thể mở mắt nhưng không đáp ứng |
| Không phản ứng do tâm thần hoặc phân ly |
| Xem Hộp 4 |
| Giai đoạn hấp hối |
| Màu da xám, mắt mở, nhìn chằm chằm, chớp mắt tối thiểu, há miệng, thở phì phò / thở hổn hển |
Ngoài ra, cách ghi nhớ sau đây tóm tắt các dấu hiệu lâm sàng chính của hội chứng kháng cholinergic trung ương: “đỏ như củ cải đường, khô như xương, mù như dơi, điên như người làm nón (nhân vật trong truyện Alice trong xứ thần tiên), nóng như thỏ rừng, và đầy như một cái bình”.
Cần lưu ý rằng nhiều trường hợp hội chứng kháng cholinergic trung ương xảy ra ở bệnh nhân sau phẫu thuật, do đó có thể gặp trong phòng hồi sức. Tình huống lâm sàng cổ điển là tình trạng kích động cấp tính không giải thích được (hoang tưởng) ở một bệnh nhân sau phẫu thuật ổn định. Việc chấm dứt nhanh chóng (<5–10 phút) tình trạng kích động và bình thường hóa trạng thái tinh thần khi được tiêm tĩnh mạch 2 mg physostigmine có thể được dùng để xác nhận chẩn đoán.
Phân biệt Chóng mặt Ngoại biên và Chóng mặt Trung tâm
| Hộp 3: Phân biệt Chóng mặt Ngoại biên và Chóng mặt Trung tâm | ||
|---|---|---|
| Ngoại biên | Trung tâm | |
| Ví dụ | Tiền đình | Viêm não vung thân não / đột quỵ tiểu não |
| Bệnh nền | Lành tính | Đe dọa tính mạng |
| Khởi phát | Đột ngột | Đột ngột hay từ từ |
| Rung giật nhãn cầu | Mệt mỏi | Không mệt mỏi |
| Định hướng | Một chiều | Đa chiều |
| Thiếu hụt thần kinh | Không | Hiện diện |
| Giảm thính lực hay ù tai | Có thể có | Không |
| Buồn nôn, ói | Thường xuyên | Hiếm khi |
Ngược lại, chỉ có một số ít bệnh nhân đáp ứng nhưng không mở được mắt. Một nguyên nhân quan trọng cần nghĩ đến ở bệnh nhân nặng là tình trạng sụp mi mắt, còn gọi là “sụp mi do não”. Hiện tượng này thường được quan sát ở bệnh nhân đột quỵ bán cầu não (bên phải), trong đó sụp mí hai bên có thể là dấu hiệu của thoát vị đĩa đệm sắp xảy ra. Một nguyên nhân tiềm ẩn khác là viêm dây thần kinh / bệnh lý thần kinh sọ não (ví dụ CN III) như gặp trong hội chứng Guillain-Barré hoặc viêm đa dây thần kinh sọ.
Phân biệt giữa chứng không đáp ứng do tâm lý và tình trạng hôn mê
| Hộp 4: Phân biệt giữa chứng không đáp ứng do tâm lý và tình trạng hôn mê |
|---|
|
Chẩn đoán phân biệt Cứng cổ ở bệnh nhân nặng
| Hộp 5: Chẩn đoán phân biệt Cứng cổ ở bệnh nhân nặng |
|---|
Cứng cổ trong suốt phạm vi cử động:
|
Tài liệu tham khảo
- Delirium in mechanically ventilated patients: validity and reliability of the confusion assessment method for the intensive care unit (CAM-ICU). JAMA 286:2703– 2710
- Prehospital acute stroke severity scale to predict large artery occlusion: design and comparison with other scales. Stroke 47:1772–1776
- Thăm khám lâm sàng tại ICU. Clinical Examination Skills in the Adult Critically ill patient. Dịch sang tiếng Việt. Bs. Hồ Hoàng Kim