Ngộ độc rượu Ethanol

Post key: 0a92a294-140f-586c-8630-5a1e5bc36b5d
Slug: ngo-doc-ruou-ethanol
Excerpt: Ngộ độc rượu cấp có thể gây rối loạn tri giác sâu, suy hô hấp và tử vong. Cần nhận diện giai đoạn lâm sàng theo diễn tiến (kích thích–ức chế–hôn mê), đánh giá mức độ nặng và biến chứng (hạ đường huyết, co giật, tụt huyết áp, hạ thân nhiệt, tiêu cơ vân, toan chuyển hoá…). Chẩn đoán dựa trên khai thác loại rượu, lâm sàng và xét nghiệm: định lượng ethanol máu; áp lực thẩm thấu và khoảng trống ALTT để theo dõi; đồng thời làm xét nghiệm cơ bản (khí máu, điện giải, đường, ure/creatinin, AST/ALT, CPK, ECG, nước tiểu) và các thăm dò khi nghi biến chứng. Cần chẩn đoán phân biệt với ngộ độc methanol (toan chuyển hoá thật sự), hôn mê do đái tháo đường, ngộ độc thuốc an thần và các nguyên nhân nội sọ/ngoại sọ khác. Điều trị ưu tiên ổn định ABC, xử trí suy hô hấp, hạ huyết áp, chống co giật, điều chỉnh hạ đường huyết và điện giải; dùng vitamin nhóm B (đặc biệt B1) trước khi truyền glucose. Với trường hợp nặng có thể cân nhắc tẩy độc và tăng thải trừ (hút dịch dạ dày khi đến sớm, thận nhân tạo trong các tình huống chọn lọc như suy thận, tiêu cơ vân nặng, toan chuyển hoá nặng, rối loạn điện giải nặng). Tiên lượng phụ thuộc mức độ nặng và thời điểm điều trị; phòng bệnh chủ yếu là tránh uống rượu không kiểm soát, đặc biệt ở nhóm nguy cơ (trẻ em, phụ nữ mang thai/cho con bú, người lái xe/vận hành máy móc, người đang dùng thuốc hoặc có bệnh lý nền).
Recognized tags: chan-doan, dieu-tri, du-phong, xet-nghiem, cap-cuu, bo-y-te, bang-tra, nang

GIỚI THIỆU

Ngộ độc rượu cấp có thể dẫn đến hôn mê, suy hô hấp và tử vong. Ở các ca nặng, nguyên nhân thường liên quan đến việc uống nhiều hoặc xuất hiện các biến chứng như chấn thương, hạ đường huyết,…

Cần nhận diện và phân biệt ngộ độc rượu ethanol với các loại rượu khác, đặc biệt là methanol và ethylen glycol.


NGUYÊN NHÂN
  • Thường do uống quá nhiều rượu, bia; một số ít do tự tử bằng rượu hoặc các sản phẩm từ rượu.

CHẨN ĐOÁN

Loại rượu uống

  • Có thể hỗ trợ định hướng chẩn đoán nếu bệnh nhân uống các loại rượu thực phẩm hoặc bia có nguồn gốc rõ ràng.

Lâm sàng

Ngộ độc rượu cấp gây ra nhiều rối loạn tâm thần và rối loạn thực thể. Nguyên nhân điển hình là uống quá nhiều rượu; liều gây độc thay đổi tùy theo từng cơ thể và thường cao hơn ở người nghiện rượu. Trên lâm sàng, bệnh thường diễn tiến qua các giai đoạn đồng thời gây tổn thương ở nhiều cơ quan khác nhau:

  1. Giai đoạn kích thích: Sảng khoái, hưng phấn thần kinh (vui vẻ, nói nhiều), giảm khả năng tự kiềm chế (mất điều hòa, kích thích, hung hãn). Vận động phối hợp bị rối loạn: đi đứng loạng choạng.
  2. Giai đoạn ức chế: Tri giác giảm dần, giảm khả năng tập trung, lú lẫn. Phản xạ gân xương giảm, trương lực cơ giảm. Giãn mạch ngoại vi.
  3. Giai đoạn hôn mê: Hôn mê, thở yếu hoặc ngừng thở dẫn đến suy hô hấp, viêm phổi sặc. Giãn mạch, tụt huyết áp, rối loạn nhịp tim, trụy mạch. Hạ thân nhiệt. Hạ đường huyết. Co giật, tiêu cơ vân, rối loạn điện giải, toan chuyển hóa.

Đối chiếu nồng độ ethanol máu và triệu chứng lâm sàng ở người không nghiện rượu

Nồng độ Ethanol huyết thanh (mg/dL) Triệu chứng lâm sàng
20-50 Rối loạn ức chế, kích thích nghịch thường, cảm xúc không ổn định, thích giao du với người khác, hưng cảm, nói nhiều.
50-100 Chậm đáp ứng, giảm khả năng phán xét, mất điều hòa vận động biên độ nhỏ, loạn vận ngôn.
100-200 Nhìn đôi, bạo lực, mất định hướng, lẫn lộn, vô cảm, sững sờ, giãn mạch.
200-400 Ức chế hô hấp, mất các phản xạ bảo vệ đường thở, giảm thân nhiệt, đái ỉa không tự chủ, tụt huyết áp, hôn mê.
> 400 Trụy tim mạch, tử vong.

Cận lâm sàng

Các xét nghiệm cần thiết để chẩn đoán và theo dõi ngộ độc rượu ethanol bao gồm:

  • Định lượng nồng độ ethanol (khuyến cáo nên làm thêm methanol trong máu, do thường có ngộ độc phối hợp).
  • Áp lực thẩm thấu máu: đo trực tiếp bằng máy đo.
  • Khoảng trống ALTT = áp lực thẩm thấu (ALTT) đo được – ALTT ước tính (ALTT máu ước tính = Na x 2 + Ure (mmol/L) + Glucose (mmol/L).
  • Khoảng trống ALTT tăng nếu >10 mOsm/kg, ở đây là do rượu gây nên, tuy nhiên không cho biết cụ thể là do methanol, ethanol hay glycol.
  • Ước tính nồng độ rượu thông qua khoảng trống áp lực thẩm thấu (Nồng độ rượu ước tính = 4,6 x khoảng trống áp lực thẩm thấu (mg/dL), chỉ có thể áp dụng được khi trong máu chỉ có ethanol đơn thuần.

Kết hợp khoảng trống thẩm thấu và khí máu trong chẩn đoán và theo dõi: trong ngộ độc ethanol đơn thuần thì khoảng trống thẩm thấu giảm dần trở về 0 và đồng thời khí máu không có nhiễm toan chuyển hóa (nếu có thường là nhẹ, do nhiễm toan xe tôn hoặc toan lactic).

  • Xét nghiệm cơ bản: khí máu, công thức máu, urê, đường, creatinin, điện giải, AST, ALT, CPK, điện tim, tổng phân tích nước tiểu giúp đánh giá tình trạng các cơ quan và tiên lượng tình trạng ngộ độc.
  • Các xét nghiệm khác để tìm tổn thương cơ quan khác hoặc biến chứng: xquang phổi, CT-scanner sọ não, siêu âm bụng, nội soi tiêu hóa…

Chẩn đoán xác định

Dựa vào hỏi bệnh về việc có uống rượu hay không, các biểu hiện lâm sàng và các xét nghiệm theo hướng dẫn đã nêu ở phần tương ứng.

Chẩn đoán phân biệt

  1. Ngộ độc methanol: Toan chuyển hóa thực sự thường do chất chuyển hóa format gây nên; khoảng trống ALTT lúc đầu tăng, khí máu bình thường, sau đó giảm dần nhưng đồng thời toan chuyển hóa xuất hiện và tăng dần, kết thúc là tử vong hoặc di chứng hoặc hồi phục nếu điều trị đúng và kịp thời. Định lượng có methanol trong máu.
  2. Hôn mê do đái tháo đường: Tiền sử, hôn mê do tăng ALTT kèm tăng đường huyết; hôn mê hạ đường huyết hoặc do nhiễm toan.
  3. Hôn mê do ngộ độc thuốc an thần, gây ngủ: Tiền sử dùng thuốc, hôn mê sâu yên tĩnh; xét nghiệm tìm thấy độc chất trong dịch dạ dày và nước tiểu.
  4. Rối loạn ý thức do các nguyên nhân khác nhau: nhiễm trùng thần kinh trung ương, xuất huyết nội sọ…

ĐIỀU TRỊ

Nguyên tắc điều trị

  • Ổn định người bệnh và điều trị các triệu chứng, biến chứng.

Điều trị cụ thể

Mức độ nhẹ

  • Nghỉ ngơi yên tĩnh.
  • Truyền dịch, truyền glucose và vitamin nhóm B.

Mức độ nặng

  • Hôn mê sâu, co giật, ứ đọng đờm rãi, tụt lưỡi, suy hô hấp, thở yếu, ngừng thở: nằm nghiêng, đặt canun miệng, hút đờm rãi, thở ôxy, đặt nội khí quản, thở máy với chế độ tăng thông khí (tùy theo mức độ).
  • Tụt huyết áp: truyền dịch, thuốc vận mạch nếu cần.
  • Dinh dưỡng: Truyền glucose 10-20% nếu hạ đƣờng huyết, (truyền glucoose ưu trương để bổ sung năng lượng), có thể bolus ngay 25-50 g đường 50-100 mL loại glucose 50% nếu hạ đường huyết ban đầu.
  • Vitamin B1 tiêm bắp 100-300mg (người lớn) hoặc 50mg (trẻ em), trước khi truyền glucose.
  • Nôn nhiều: tiêm thuốc chống nôn, uống thuốc bọc niêm mạc dạ dày, tiêm thuốc giảm tiết dịch vị, bù nước điện giải bằng truyền tĩnh mạch.
  • Tiêu cơ vân: truyền dịch theo CVP, cân bằng điện giải, đảm bảo nước tiểu 150 – 200 mL/giờ.
  • Hạ thân nhiệt: ủ ấm.
  • Lưu ý phát hiện và xử trí chấn thương và biến chứng khác.

Tẩy độc và tăng thải trừ chất độc

  • Đặt sonde dạ dày và hút dịch nếu bệnh nhân đến trong vòng 1 giờ và bệnh nhân nôn ít. Trường hợp đến muộn hơn nhưng uống số lượng lớn vẫn có thể cân nhắc hút.
  • Tăng thải trừ: trường hợp nặng thở máy thải trừ nhanh ethanol, thận nhân tạo có tác dụng nhưng không cần thiết; có thể cân nhắc chỉ định trong các trường hợp: suy thận, tiêu cơ vân, toan chuyển hóa, rối loạn điện giải nặng.

TIÊN LƯỢNG, BIẾN CHỨNG VÀ PHÒNG TRÁNH

Tiên lượng

  • Ngộ độc nhẹ tiên lượng tốt nếu nhanh ổn định, được điều trị sớm và đúng.
  • Ngộ độc nặng khi có hôn mê sâu, tụt huyết áp, thiếu oxy kéo dài, ngộ độc phối hợp (methanol), kèm theo nhiều biến chứng nặng như: chấn thương, suy thận, tiêu cơ vân… điều trị muộn.

Biến chứng

Biến chứng sớm, trực tiếp gồm: hôn mê, suy hô hấp, tụt huyết áp, hạ thân nhiệt, hạ đường máu, chấn thương, sặc phổi, viêm phổi, tiêu cơ vân, suy thận, viêm dạ dày, rối loạn nước, điện giải, toan máu.

Phòng bệnh

  • Tối ưu là không uống rượu nếu bản thân không kiểm soát được việc sử dụng.
  • Cần lưu ý các nhóm đối tượng không nên uống rượu, gồm: trẻ em và vị thành niên; phụ nữ (đặc biệt phụ nữ đang mang thai, đang cho con bú); người thực hiện các động tác tinh vi (ví dụ lái xe, vận hành máy móc); người không kiểm soát được số lượng rượu đã uống; người mới bỏ rượu; người đang dùng thuốc hoặc đang bị bệnh (trong các trường hợp này phải hỏi bác sỹ).
  • Uống đúng thời điểm: chỉ nên uống nếu sau đó có thể nghỉ ngơi, sau giờ làm việc và hạn chế đi lại.
  • Uống ít dựa trên khả năng và tác dụng: vẫn tỉnh táo, phán xét đúng, nói rõ nét và đi lại vững. Cần xác định mức lượng rượu có thể uống trong khả năng của bản thân và cố gắng tuân thủ. Người Việt Nam trưởng thành không uống quá 50ml rượu 40 độ hoặc không quá 400ml bia loại 5 độ.
  • Trong cuộc uống, nên có thêm những người uống ít rượu để cùng tham gia.
  • Ăn đầy đủ trước, trong và ngay sau khi uống.
  • Giữ ấm, tránh lạnh nếu thời tiết lạnh.
  • Không lái xe, không vận hành máy móc, không lao động đặc biệt có nguy cơ với sức khỏe (ngã, tai nạn…).
  • Chọn loại rượu/bia và thực phẩm an toàn.

Tài liệu tham khảo

  1. Hướng dẫn chẩn đoán và xử trí ngộ độc. Bộ Y Tế. 31/08/2015