GIỚI THIỆU
- Dạng dịch tiêm: 5000 đơn vị/mL.
LIỀU DÙNG
Trẻ sơ sinh
Bệnh viện Nhi Đồng 2
Điều trị huyết khối:
Duy trì catheter tĩnh mạch trung tâm:
Phòng ngừa thuyên tắc stent ống động mạch:
- Tấn công: 75 UI/kg truyền tĩnh mạch trong 10 phút, sau đó duy trì: 28 UI/kg/giờ; mục tiêu aPTT 60-85 giây, tương đương Anti Xa 0.3-0.7 đơn vị/mL.
- 0.5-1 UI/mL dịch.
- 10 UI/kg/giờ trong 24 giờ, sau đó chuyển sang dự phòng kháng đông uống.
Trẻ em
Bệnh viện Nhi Đồng 1
DIC do thuyên tắc mạch:
- TTM cách khoảng 75-100 đơn vị/4 giờ.
- Hoặc TTM liên tục 15-20 đơn vị/kg/giờ sau khi bơm trược tiếp (bolus) một liều đầu 50-70 đơn vị/kg.
Người lớn
Dự phòng huyết khối tĩnh mạch
Tất cả các bệnh nhân cần được đánh giá nguy cơ thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch, nguy cơ chảy máu, chống chỉ định và thận trọng đối với thuốc chống đông.
Bệnh nhân nhẹ cân (< 50kg) có thể nhạy hơn với liều dự phòng thường quy, làm tăng khả năng đạt mức độ chống đông cao hơn dự tính; cân nhắc tuân thủ khoảng cách dùng thuốc mỗi 12 giờ 1 lần.
Đối tượng: bệnh nhân nội khoa cấp tính, ngoại khoa chung, phẫu thuật chỉnh hình, bệnh nhân hồi sức tích cực.
- Tiêm dưới da: 5.000 UI x 2-3 lần/ngày (8-12 giờ/lần). Tiếp tục kéo dài trong thời gian nằm viện hoặc cho đến khi có thể đi lại hoàn toàn; dự phòng kéo dài ngoài thời gian nằm viện vì tình trạng cấp tính không được khuyến cáo thường quy.
- Ở bệnh nhân phẫu thuật: liều đầu tiên của Heparin được tiêm 2 giờ trước phẫu thuật, tiếp theo 2-3 lần/ngày sau phẫu thuật.
- Bệnh nhân ung thư đang hoạt động
- Tiêm dưới da: 5.000 UI 2-4 giờ trước phẫu thuật, sau đó 5.000 UI mỗi 8 giờ hoặc 5.000 UI mỗi 8-12 giờ bắt đầu ~6-24 giờ sau phẫu thuật. Lưu ý, khoảng thời gian dự phòng tối ưu không được thiết lập, nhưng thường cho tối thiểu 7-10 ngày; kéo dài đến 4 tuần có thể hợp lý trong trường hợp trải qua phẫu thuật lớn vùng bụng hoặc chậu.
- Tiêm dưới da: 5.000 UI mỗi 8-12 giờ, liều ban đầu được cho ≥ 2 giờ trước phẫu thuật. Ngoài ra, có thể trì hoãn điều trị dự phòng bằng thuốc cho đến sau phẫu thuật (ví dụ: nguy cơ chảy máu cao) khi mà an toàn để bắt đầu sử dụng. Tiếp tục cho đến khi đi lại hoàn toàn và nguy cơ VTE giảm đi (thường tới 10 ngày).
- Tiêm dưới da: 5.000 UI mỗi 8-12 giờ, liều ban đầu được cho ≥ 12 giờ trước phẫu thuật hoặc ≥ 12 giờ sau phẫu thuật một khi cầm máu đã đạt được. Thời gian dự phòng tối ưu chưa được biết, nhưng thường cho tối thiểu 10-14 ngày và có thể mở rộng đến 35 ngày; một số chuyên gia đề nghị khoảng thời gian giới hạn dưới thấp hơn (10-14 ngày) đối với phẫu thuật thay khớp gối toàn phần hoặc giới hạn dưới cao hơn (~30 ngày) đối với phẫu thuật thay khớp háng toàn phần. Đối với khoảng thời gian dự phòng kéo dài, có thể chuyển sang chống đông đường uống hoặc thay thế bằng thuốc chống đông tiêm dưới da với tần suất dùng liều thấp hơn.
Lưu ý, cường độ liều được cá nhân hóa dựa trên nguy cơ huyết khối và biến chứng chảy máu.
- Liều dự phòng (còn gọi là liều trung gian để phòng trường hợp tăng cân khi mang thai)
- Ba tháng đầu: Tiêm dưới da: 5.000-7.500 UI mỗi 12 giờ.
- Ba tháng giữa: Tiêm dưới da: 7.500-10.000 UI mỗi 12 giờ.
- Ban tháng cuối: Tiêm dưới da: 10.000 UI mỗi 12 giờ (giảm liều nếu aPTT tăng cao).
Lưu ý, với những bệnh nhân có nguy cơ phát triển VTE cao nhất (ví dụ: tiền sử huyết khối tái phát, bệnh huyết khối nặng), đặc biệt là những bệnh nhân đang điều trị lâu dài bằng thuốc chống đông đường uống trước khi mang thai:
- Tiêm dưới da: 10.000 UI mỗi 12 giờ; điều chỉnh liều để đạt mục tiêu aPTT gấp 1,5-2,5 lần so với chứng, đo 6 giờ sau khi tiêm thuốc; theo dõi aPTT mỗi ngày một lần cho đến khi ổn định và trong phạm vi điều trị, sau đó theo dõi mỗi 1-2 tuần.
- Trước khi sinh: Ngừng Heparin khi bắt đầu chuyển dạ tự nhiên. Trước khi khởi phát chuyển dạ hoặc sinh mổ theo kế hoạch, ngừng Heparin ≥ 12 giờ trước đó ở những bệnh nhân dùng 7.500-10.000 UI mỗi 12 giờ hoặc ≥ 24 giờ trước đó ở những bệnh nhân dùng > 10.000 UI/liều, > 20.000 UI/ngày, hoặc liều điều trị được điều chỉnh. Cân nhắc kiểm tra các thông số đông máu trước khi sinh. Việc ngừng thuốc thích hợp là đặc biệt quan trọng nếu có kế hoạch gây tê trục thần kinh.
- Sau sinh: ở bệnh nhân nguy cơ VTE cao người mà cần liều điều trị được điều chỉnh, có thể bắt đầu lại ≥ 4-6 giờ sau sinh ngã âm đạo hoặc ≥ 6-12 giờ sau sinh mổ trừ khi xảy ra chảy máu đáng kể hoặc đặt ống thông trục thần kinh do chấn thương. Đối với những bệnh nhân cần liều dự phòng VTE thấp hơn (ví dụ: bệnh nhân không nhận được liều điều trị được điều chỉnh trong thời gian mang thai) hoặc những bệnh nhân không bị VTE cấp, hãy bắt đầu lại điều trị dự phòng 6-12 sau khi sinh ngã âm đạo và 12-24 sau sinh mổ. Thuốc chống đông nên tiếp tục đến 6 tuần sau sinh, nhưng có thể lâu hơn.
- 5.000 UI x 2 lần/ngày.
Điều trị huyết khối tĩnh mạch sâu
Đối tượng: thuyên tắc phổi huyết động không ổn định trong giai đoạn cấp (5-21 ngày), thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch sâu chi dưới, thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch có triệu chứng ở bệnh nhân ung thư.
Ngoài ra, có thể áp dụng 1 trong 2 phác đồ sau: thường áp dụng cho bệnh nhân ngoại trú.
| Theo dõi và chỉnh liều Heparin UFH bơm tiêm điện truyền liên tục | |
|---|---|
| APTT | Liều Heparin |
| Liều ban đầu | 80 UI/kg bolus (5.000 UI, tối đa 10.000 UI), sau đó TTM 18 UI/kg (1.000-1.500 UI/giờ) |
| < 35 giây (<1,2 x chứng) |
80 UI/kg bolus, sau đó tăng liều TTM 4 UI/kg/giờ |
| 35-45 giây (1,2-1,5 x chứng) |
40 UI/kg bolus, sau đó tăng liều TTM 2 UI/kg/giờ |
| 46-70 giây (1,5-2,3 x chứng) |
Không thay đổi liều(*) |
| 71-90 giây (2,3-3,0 x chứng) |
Giảm liều truyền xuống 2 UI/kg/giờ |
| > 90 giây (>3,0 x chứng) |
Ngừng TTM 2 giờ, sau đó giảm liều TTM xuống 3 UI/kg/giờ |
Ghi chú:
Xét nghiệm aPTT lần đầu sau khi bolus Heparin 4-6 tiếng. Sau đó xét nghiệm lại aPTT mỗi 6 tiếng.
(*) Nếu aPTT đạt liều điều trị hai lần liên tiếp: xét nghiệm aPTT vào buổi sáng hàng ngày.
TTM: truyền tĩnh mạch; UI: đơn vị.
Ngoài ra, có thể áp dụng 1 trong 2 phác đồ sau: thường áp dụng cho bệnh nhân ngoại trú.
- Tiêm tĩnh mạch 5.000 UI, sau đó tiêm dưới da 17.500 UI (250 UI/kg) mỗi 12 giờ trong ngày đầu tiên, những ngày sau chỉnh theo APTT (1,5-2,3 lần chứng).
- Hoặc phác đồ: Tiêm dưới da 333 UI/kg, sau đó 250 UI/kg mỗi 12 giờ, không cần xét nghiệm APTT.
Lọc máu liên tục CRRT
Priming dây và quả lọc:
Hướng dẫn từ Uptodate:
- 5.000 UI cho 1 lít dịch NaCL 0.9% x 2 lần.
- Trường hợp bệnh nhân có nguy cơ chảy máu cao khi kết nối với bệnh nhân: cho dòng trở về thải bỏ phần dịch chứa Heparin còn lại trong hệ thống dây, sau đó STOP rồi kết nối với bệnh nhân.
Cần làm xét nghiệm để đánh giá nguy cơ chảy máu:
Theo dõi chống đông trong quá trình CRRT
- Không có nguy cơ chảy máu: Bolus trước màng 2.000 UI, sau đó truyền liên tục với liều khởi đầu 10 UI/kg/giờ.
- Nguy cơ chảy máu thấp: Bolus trước màng 1.000 UI, sau đó truyền liên tục với liều khởi đầu 5 UI/kg/giờ.
- Nguy cơ chảy máu cao: Bolus trước màng 500 UI hoặc không dùng, không dùng liều duy trì.
- Xét nghiệm APTT hoặc ACT mỗi 6 giờ, mục tiêu APTT sau màng 45-60 giây hoặc 1,5-2,5 lần so với chứng hoặc ACT từ 180-200 giây.
Xem chi tiết tại: Kháng đông Heparin UFH (không phân đoạn) trong CRRT và công cụ: Chỉnh liều Heparin UFH truyền liên tục.
Hướng dẫn từ Uptodate:
- Khởi đầu: Bolus IV 500-1.000 UI.
- Sau đó, truyền liên tục: 500 UI/giờ, chuẩn độ để duy trì aPTT ~1,5 lần mức kiểm soát hoặc ~45 giây.
Thay huyết tương
Liều thường dùng:
- Priming dây và quả lọc: 5.000 UI/1000 ml NaCl 0.9% x 1-3 chai để rửa màng.
- Liều khởi đầu 20 UI/kg (20-60 UI/kg/giờ - bệnh viện Chợ Rẫy).
- Liều duy trì: 10 UI/kg/giờ (10-20 UI/kg/giờ - bệnh viện Chợ Rẫy). Mục tiêu duy trì APTT 1,5-2 lần so với chứng (khoảng 45-70 giây). Chỉnh liều tương tự CRRT. Liều Heparin trong thay huyết tương thường cao hơn CRRT vì Heparin sẽ bị mất đi khi huyết tương được thay thế.
| Nguy cơ chảy máu | Heparin |
|---|---|
Không có nguy cơ
|
|
Nguy cơ thấp
|
|
Nguy cơ cao
|
|
Xem chi tiết tại: Thay huyết tương Plasma Exchange.
Thận nhân tạo định kỳ
Chống đông hệ thống dây dẫn tuần hoàn máu (circuit).
Nguy cơ chảy máu tiêu chuẩn:
Khởi đầu IV:
Bolus 1.000 UI hoặc 2.000 UI tại thời điểm bắt đầu lọc máu (chạy thận nhân tạo), tiếp theo truyền liên tục 500 UI/giờ; ngừng 60 phút trước khi kết thúc lọc máu.
- Nếu huyết khối xảy ra trong khởi nửa đầu của phiên lọc máu: Tăng liều Bolus IV lên 500 UI trước mỗi phiên lọc máu tiếp theo (ví dụ: cho 1.500 UI hoặc 2.500 UI, phụ thuộc vào liều đã thử dùng trước đó, khi bắt đầu chạy thận nhân tạo) cho đến khi huyết khối không còn xảy ra hoặc tăng liều lên đến tối đa 4.000 UI. Cho liều duy trì truyền liên tục như mô tả ở trên.
- Nếu huyết khối xảy ra trong nửa sau của phiên lọc máu: Cho liều Bolus IV tương tự, nhưng tăng liều truyền liên tục lên 100 UI/giờ đối với mỗi phiên lọc máu tiếp theo (ví dụ: cho 600 UI/giờ) cho đến khi huyết khối không còn xảy ra hoặc tăng liều đến tối đa 1.000 UI/giờ; ngừng truyền 30 phút trước khi kết thúc lọc máu.
Nguy cơ chảy máu cao:
Không có thực hành tiêu chuẩn nào để ngăn ngừa đông máu trong quá trình chạy thận nhân tạo ở bệnh nhân có nguy cơ chảy máu cao. Lọc máu mà không sử dụng chống đông được ưu tiên hơn; tuy nhiên, có thể xem xét dùng heparin cho những bệnh nhân tiếp tục bị tái diễn huyết khối do lọc máu.
- Khởi đầu IV: Bolus 1.000 UI tại thời điểm bắt đầu lọc máu; không truyền liên tục trong quá trình thực hiện thủ thuật (lọc máu).
- Nếu huyết khối xảy ra trong quá trì chạy thận nhân tạo: Bolus IV 1.000 UI tại thời điểm bắt đầu phiên lọc máu tiếp theo, tiếp theo truyền liên tục 500 UI/giờ; ngừng truyền 60 phút trước khi kết thúc lọc máu; nếu huyết khối tiếp tục, tăng liều truyền liên tục lên mỗi 100 UI/giờ trong mỗi phiên lọc máu tiếp theo (ví dụ: cho 600 UI/giờ) cho đến khi huyết khối không còn xảy ra hoặc tăng liều đến tối đa 1.000 UI/giờ.
Rung nhĩ
Phòng ngừa đột quỵ và huyết khối hệ thống trong rung nhĩ.
Lưu ý trong rung nhĩ:
- Khi nhập viện ngắn hạn (ví dụ nhập viện để làm thủ thuật hoặc phẫu thuật), bệnh nhân cấp cứu đang dùng thuốc chống đông đường uống và không có nguy cơ cao bị thuyên tắc huyết khối ngay không cần bắc cầu thuốc chống đông.
- Những bệnh nhân có nguy cơ cao bị huyết khối tắc mạch (ví dụ: chuyển nhịp gần đây, điểm CHA2DS2-VASc cao, đột quỵ tắc mạch do huyết khối từ tim trước đó, hiện có huyết khối trong tim) có thể được cân nhắc bắc cầu bằng thuốc chống đông đường tiêm (xem thêm: Chuyển đổi giữa các thuốc chống đông ).
Liều lượng:
- Khởi đầu: Bolus IV 60-80 UI/kg (tối đa: 5.000 UI),
- Tiếp theo sau, truyền liên tục IV: 12-18 UI/kg/giờ (tối đa: 1.000 UI/giờ).
- Phác đồ định lượng của mỗi cơ sở y tế có thể khác nhau; điều chỉnh tốc độ truyền để duy trì mục tiêu chống đông.
Tắc động mạc ngoại biên cấp tính (sử dụng ngoài nhãn)
Thông tin về liều lượng cụ thể còn hạn chế; tuy nhiên, thuốc chống đông thường được sử dụng tại thời điểm chẩn đoán nhằm hạn chế sự lan rộng của huyết khối trong khi bệnh nhân được đánh giá các biện pháp can thiệp có thể khác.
Liều lượng:
- Khởi đầu: Bolus IV 60-80 UI/kg,
- Tiếp theo sau, truyền liên tục IV: 12-18 UI/kg/giờ.
- Điều chỉnh tốc độ truyền để duy trì mục tiêu chống đông theo phác đồ của cơ sở y tế.
Van tim cơ học
Bắc cầu chống đông (trong trường hợp gián đoạn điều trị bằng Warfarin, sử dụng ngoài nhãn):
Quản lý sau phẫu thuật (để chuyển sang Warfarin, sử dụng ngoài nhãn):
Nên cân nhắc bắc cầu trong khoảng thời gian chống đông máu dưới ngưỡng điều trị đối với những bệnh nhân thay van 2 lá, van 3 lá hoặc van động mạch phổi cơ học. Tuy nhiên, đối với bệnh nhân thay van động mạch chủ cơ học, không cần bắc cầu trừ khi có thêm yếu tố nguy cơ huyết khối tắc mạch hoặc bệnh nhân có van động mạch chủ thế hệ cũ.
- Tĩnh mạch (IV): Dữ liệu còn hạn chế. Khởi đầu 18 UI/kg/giờ (không Bolus) bắt đầu khi INR giảm dưới ngưỡng điều trị; điều chỉnh tốc độ truyền để duy trì mục tiêu chống đông dựa trên phác đồ của cơ sở y tế. Nếu bệnh nhân phải trải qua một thủ thuật xâm lấn, hãy ngừng sử dụng Heparin 4-6 giờ trước khi thực hiện thủ thuật; bắt đầu lại truyền Heparin ≥ 24 giờ sau thủ thuật khi nguy cơ chảy máu có thể chấp nhận được. Tiếp tục dùng Heparin cho đến khi dùng lại Warfarin và INR nằm trong ngưỡng điều trị trong 2 ngày liên tiếp.
Lưu ý: bắt đầu sau phẫu thuật khi mà nguy cơ chảy máu chấp nhận được.
- Tĩnh mạch (IV): Dữ liệu còn hạn chế. Khởi đầu 12-18 UI/kg/giờ (không bolus); điều chỉnh tốc độ truyền để duy trì mục tiêu chống đông dựa trên phác đồ của cơ sở y tế. Dùng đồng thời (chồng chéo) với Warfarin cho đến khi INR ổn định và nằm trong ngưỡng điều trị trong ≥ 2 ngày liên tiếp.
Hội chứng vành cấp (ASC): nhồi máu cơ tim ST chênh lên (STEMI) (sử dụng ngoài nhãn)
- Hỗ trợ đối với can thiệp mạch vành qua da: (xem phần can thiệp mạch vành qua da) để biết hướng dẫn về liều lượng.
- Hỗ trợ đối với tiêu sợi huyết: IV: bolus 60 UI/kg (tối đa 4.000 UI), tiếp theo truyền 12 UI/kg/giờ (tối đa: 1.000 UI/giờ); điều chỉnh tốc độ truyền để duy trì mục tiêu chống đông dựa trên phác đồ của cơ sở y tế; tiếp tục trong ≥ 48 giờ hoặc cho đến khi tái thông mạch máu (nếu được thực hiện).
- Không có kế hoạch tái tưới máu: IV: bolus 50-70 UI/kg (tối đa: 5.000 UI), tiếp theo truyền 12 UI/kg/giờ; điều chỉnh tốc độ truyền để duy trì mục tiêu chống đông dựa trên phác đồ của cơ sở y tế; tiếp tục cho ≥ 48 giờ.
Hội chứng vành cấp (ASC) không ST chênh lên (sử dụng ngoài nhãn)
- Phương pháp không xâm lấn, tiếp cận theo hướng dẫn thiếu máu cục bộ: IV: bolus 60 UI/kg (tối đa: 5.000 UI), tiếp theo truyền 12 UI/kg/giờ (tối đa: 1.000 UI/giờ); điều chỉnh tốc độ truyền để duy trì mục tiêu chống đông dựa trên phác đồ của cơ sở y tế; tiếp tục trong ≥ 48 giờ, cho đến khi xuất viện hoặc cho đến khi việc điều trị thay đổi sang chiến lược xâm lấn (ví dụ: can thiệp mạch vành qua da[PCI]).
- Tiếp cận xâm lấn (bổ sung cho can thiệp mạch vành qua da): xem phần can thiệp mạch vành qua da để hướng dẫn liều lượng.
Can thiệp mạch vành qua da (sử dụng ngoài nhãn)
Không điều trị chống đông trước đó:
Điều trị chống đông trước đó:
- Điều trị chống đông trước đó với Heparin:
- Không có kế hoạch sử dụng thuốc ức chế Glycoprotein IIb/IIIa: IV: khởi đầu bolus 70-100 UI/kg (tối đa: 10.000 UI) để đạt thời gian đông máu hoạt hóa (ACT) 250-300 giây (mục tiêu ACT có thể thay đổi phụ thuộc vào thiết bị tại giường Point-of-care); lặp lại liều bolus khi cần để duy trì mục tiêu ACT trong suốt quá trình thủ thuật.
- Có kế hoạch sử dụng thuốc ức chế Glycoprotein IIb/IIIa: IV: khởi đầu bolus 50-70 UI/kg (tối đa: 7.000 UI) để đạt ACT 200-250 giây (bất kể thiết bị Point-of-care); lặp lại liều bolus khi cần để duy trì mục tiêu ACT trong suốt quá trình thủ thuật.
- Điều trị chống đông trước đó với Heparin:
- Không có kế hoạch sử dụng thuốc ức chế Glycoprotein IIb/IIIa: IV: kiểm tra ACT trước khi PCI và cho Heparin bolus khi cần (ví dụ: 2.000-5.000 UI) để đạt ACT 250-300 giây (mục tiêu ACT có thể thay đổi tùy theo thiết bị Point-of-care); lặp lại bolus (tối đa: 10.000 UI) khi cần để duy trì ACT mục tiêu trong suốt quá trình thủ thuật.
- Có kế hoạch sử dụng thuốc ức chế Glycoprotein IIb/IIIa: IV: kiểm tra ACT trước khi PCI và cho Heparin bolus khi cần (ví dụ: 2.000-5.000 UI) để đạt ACT 200-250 giây (bất kể thiết bị Point-of-care); lặp lại bolus (tối đa: 7.000 UI) khi cần để duy trì ACT mục tiêu trong suốt quá trình thủ thuật.
- Nếu can thiệp mạch vành qua da xảy ra ≤ 12 giờ sau liều Enoxaparin tiêm dưới da cuối cùng: Việc chuyển sang dùng Heparin UFH có thể không được ưu tiên để giảm nguy cơ biến chứng chảy máu. Xem: Enoxaparin để tham khảo khuyến cáo về liều lượng.
- Nếu can thiệp mạch vành qua da xảy ra > 12 giờ sau liều Enoxaparin tiêm dưới da cuối cùng: Có thể sử dụng Heparin UFH; tham khảo hướng dẫn đối với PCI mà không điều trị bằng thuốc chống đông trước đó.
- Không có kế hoạch sử dụng thuốc ức chế Glycoprotein IIb/IIIa: IV: liều bolus ban đầu 85 UI/kg (tối đa: 10.000 UI) để đạt được ACT 250-300 giây (mục tiêu ACT có thể thay đổi tùy theo thiết bị Point-of-care); lặp lại bolus khi cần để duy trì ACT mục tiêu trong suốt quá trình thủ thuật.
- Có kế hoạch sử dụng thuốc ức chế Glycoprotein IIb/IIIa: IV: liều bolus ban đầu 60 UI/kg (tối đa: 7.000 UI) để đạt được ACT 200-250 giây (bất kể thiết bị Point-of-care); lặp lại bolus khi cần để duy trì ACT mục tiêu trong suốt quá trình thủ thuật.
Bỏng lạnh (Frostbite)
Điều trị bổ sung (sử dụng ngoài nhãn): Lưu ý, bệnh nhân nên được chuyển đến cơ sở quen thuộc với việc quản lý bệnh nhân bỏng lạnh.
Thuốc chống đông có thể được sử dụng kết hợp với liệu pháp tiêu sợi huyết, hoặc dùng đồng thời hoặc sau khi dùng thuốc tiêu sợi huyết, nhưng không phải đơn trị liệu. Phác đồ tối ưu chưa xác định; tham khảo phác đồ sau:
- Khi dùng thuốc tiêu sợi huyết đường tĩnh mạch (IV): IV: 500-1.000 UI/giờ dưới dạng liều cố định hoặc hướng tới mục tiêu aPTT x 2 lần so với chứng trong tối đa 6 giờ; một số trung tâm mở rộng khoảng thời gian lên đến 5 ngày hoặc chuyển sang điều trị heparin trọng lượng phân tử thấp (LMWH) (ví dụ: Enoxaparin).
- Khi dùng tiêu sợi huyết đường trong động mạch: cho trong động mạch: 500 UI/giờ qua catheter động mạch; hướng tới mục tiêu aPTT 50-70 giây; sau khi ngừng liệu pháp tiêu sợi huyết, tiếp tục thuốc chống đông trong 72-96 giờ hoặc chuyển sang liệu pháp LMWH (ví dụ: Enoxaparin). Thay vì Heparin trong động mạch, một số gợi ý sử dụng Heparin IV sau tiêu sợi huyết đường động mạch (xem liều IV ở trên).
Liệu pháp bổ sung trong kỹ thuật khóa kháng sinh (Antibiotic lock)
Sử dụng ngoài nhãn (ngoài hướng dẫn sử dụng của nhà sản xuất). Lưu ý: Antibiotic lock được triển khai đồng thời với kháng sinh toàn thân đối với một số nhiễm trùng liên quan đến catheter khi catheter không thể loại bỏ.
Heparin không tương thích với Ethanol (cồn); vì vậy không nên phối hợp heparin với liệu pháp khóa (lock) Ethanol. Heparin cũng không tương thích với một số kháng sinh; cần xác nhận mức độ tương thích trước khi sử dụng.
-
Cho vào trong catheter
100-5.000 UI/mL kết hợp với một kháng sinh thích hợp. Nồng độ Heparin phụ thuộc vào khả năng tương thích với kháng sinh đã chọn, nồng độ kháng sinh và loại catheter; có thể thay đổi tùy theo cơ sở y tế.Đối với bệnh nhân bệnh thận giai đoạn cuối cần chạy thận nhân tạo, nồng độ Heparin cuối cùng tối đa không được vượt quá 1.000 UI/mL do tăng nguy cơ chảy máu.Nhỏ vào lòng (lumen) từng cổng tiếp cận (Access Port) của catheter bằng một thể tích đủ để lấp đầy ống thông (ví dụ: 2-5 mL) với thời gian lưu tối đa ≤ 72 giờ, tùy thuộc vào tần suất sử dụng catheter.Rút dung dịch khóa (lock) trước khi sử dụng catheter; sau mỗi lần sử dụng catheter, thay thế bằng dung dịch khóa mới.
Chuyển từ thuốc chống đông khác sang Heparin không phân đoạn IV
- Chuyển từ liều điều trị Heparin trọng lượng phân tử thấp (LMWH) hoặc Fondaparinux tiêm dưới da sang liều điều trị Heparin không phân đoạn (UFH) IV: bắt đầu Heparin IV mà không dùng liều bolus (tốc độ truyền phụ thuộc vào chỉ định) 1 đến 2 giờ trước liều tiếp theo của LMWH hoặc Fondaparinux.
- Chuyển từ Warfarin sang liều điều trị của UFH IV: ngừng Wararin và, khi INR càng gần giới hạn dưới của ngưỡng INR mục tiêu càng tốt, bắt đầu UFH IV mà không cần dùng liều bolus (tốc độ truyền phụ thuộc vào chỉ định).
- Chuyển từ DOAC sang UFH IV: ngừng DOAC và, khi đến liều DOAC tiếp theo, bắt đầu UFH IV mà không cần dùng liều bolus (tốc độ truyền phụ thuộc vào chỉ định).
Chuyển từ Heparin không phân đoạn (UFH) IV sang thuốc chống đông khác
- Chuyển từ liều điều trị UFH IV sang Heparin trọng lượng phân tử thấp (LMWH) hoặc Fondaparinux tiêm dưới da: ngừng UFH IV và trong vòng 1 giờ bắt đầu LMWH hoặc Fondaparinux tiêm dưới da. Lưu ý: nếu aPTT không nằm trong phạm vi điều trị tại thời điểm ngừng Heparin, hãy tham khảo phác đồ tại cơ sở.
- Chuyển từ liều điều trị UFH IV sang Warfarin: bắt đầu Warfarin và tiếp tục UFH IV cho đến khi INR nằm trong ngưỡng điều trị. Lưu ý: bắc cầu (đồng thời) UFH IV với Warfarin cho đến khi INR ≥ 2 trong ít nhất 2 lần đo cách nhau khoảng 24 giờ (thời gian bắc cầu khoảng 5 ngày).
- Chuyển từ liều điều trị UFH IV sang thuốc chống đông đường uống tác dụng trực tiếp (DOAC): bắt đầu DOAC khi ngừng UFH IV (tham khảo phác đồ tại cơ sở nếu aPTT cao hơn ngưỡng mục tiêu).
Chỉnh liều khi suy thận
- Chức năng thận thay đổi: liều IV, tiêm dưới da. Suy thận nhẹ đến nặng: không cần chỉnh liều khởi đầu; điều chỉnh liều duy trì để đạt mục tiêu chống đông dựa trên phác đồ của tổ chức.
- Liệu pháp thay thế thận: thẩm tách kém. Liều IV, tiêm dưới da: không cần bổ sung liều hoặc điều chỉnh liều khởi đầu ở những bệnh nhân đang điều trị thay thế thận (ví dụ: chạy thận nhân tạo, thẩm phâm phúc mạc, CRRT, PIRRT); điều chỉnh để duy trì mục tiêu chống đông dựa trên phác đồ của tổ chức.
Chỉnh liều khi suy gan
- Không cần chỉnh liều; điều chỉnh liều heparin liều điều trị theo aPTT hoặc yếu tố kháng Xa hoạt hóa.
Chỉnh liều khi béo phì
Dự phòng thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch:
- Béo phì độ 1, 2 hoặc 3 (BMI ≥ 30 kg/m2): tiêm dưới da: 5.000 - 7.500 UI mỗi 8 giờ. Lưu ý: việc sử dụng liều 5.000 UI mỗi 8 giờ là hợp lý. Ở những bệnh nhân có BMI > 50 kg/m2 hãy cân nhắc dùng 7.500 UI mỗi 8 giờ.
- Béo phì độ 1, hoặc 2 (BMI 30-39 kg/m2): IV: sử dụng cân nặng thực tế cho liều được tính tóa; điều chỉnh tốc độ truyền để duy trì mục tiêu giá trị xét nghiệm dựa trên phác đồ của tổ chức.
- Béo phì độ 3 (BMI ≥ 40 kg/m2): IV: sử dụng cân nặng điều chỉnh cho liều được tính toán; điều chỉnh tốc độ truyền để duy trì mục tiêu giá trị xét nghiệm dựa trên phác đồ của tổ chức. Ngoài ra, liều dựa trên cân nặng thực tế (có hoặc không có liều bolus) có thể được xem xét với giảm liều duy trì ban đầu (ví dụ: 12 UI/kg/giờ đối với VTE).
Giảm tiểu cầu do Heparin
- Ngừng ngay lập tức tất cả các liệu pháp điều trị và tiếp xúc với Heparin (ví dụ: truyền Heparin và catheter phủ Heparin) đối với trường hợp giảm tiểu cầu do Heparin có xác suất trung bình hoặc cao hoặc giảm tiểu cầu do Heparin kèm huyết khối dựa trên điểm 4T; chuyển sang thuốc chống đông thay thế không Heparin (nonHeparin).
Người lớn tuổi
- Bệnh nhân > 60 tuổi có thể có nồng độ huyết thanh và đáp ứng lâm sàng cao hơn (aPTT kéo dài hơn) so với bệnh nhân trẻ hơn khi dùng cùng một liều lượng tương tự.
- Có thể cần liều lượng thấp hơn.
PHẢN ỨNG BẤT LỢI
Chảy máu nặng
Heparin làm tăng nguy cơ chảy máu (xuất huyết), bao gồm chảy máu nặng. Chảy máu có thể xuất hiện ở bất kỳ vị trí nào và có thể nghiêm trọng đến mức đe dọa tính mạng, có báo cáo về các trường hợp tử vong (ví dụ, chảy máu nội sọ). Chảy máu có thể hồi phục khi sử dụng protamine.
Cơ chế:
Liên quan đến liều lượng; liên kết với antitrombin III, tăng hoạt tính của nó lên 1.000 lần. Phức hợp này làm bất hoạt các yếu tố IIa (trombin), Xa, IXa, XIa và XIIa, dẫn đến giảm đông máu.
Liên quan đến liều lượng; liên kết với antitrombin III, tăng hoạt tính của nó lên 1.000 lần. Phức hợp này làm bất hoạt các yếu tố IIa (trombin), Xa, IXa, XIa và XIIa, dẫn đến giảm đông máu.
Khởi phát:
Đa dạng; có thể xảy ra bất kỳ lúc nào nhưng dữ liệu cho thấy tình trạng này phổ biến hơn vào cuối đợt điều trị theo kế hoạch. Chảy máu có thể xảy ra sớm hơn; tuy nhiên, điều này phần lớn được thúc đẩy bởi các yếu tố nguy cơ chảy máu khác.
Đa dạng; có thể xảy ra bất kỳ lúc nào nhưng dữ liệu cho thấy tình trạng này phổ biến hơn vào cuối đợt điều trị theo kế hoạch. Chảy máu có thể xảy ra sớm hơn; tuy nhiên, điều này phần lớn được thúc đẩy bởi các yếu tố nguy cơ chảy máu khác.
Các yếu tố nguy cơ:
- Liều dùng (liều bolus hoặc truyền quá mức) hoặc mức aPTT trên mức điều trị
- Suy thận
- Tăng huyết áp nghiêm trọng và không được kiểm soát
- Tiền sử đột quỵ xuất huyết
- Xuất huyết tiêu hóa gần đây
- Phụ nữ
- Tuổi >60
- Điều trị đồng thời với thuốc kháng tiểu cầu (ví dụ thuốc ức chế P2Y12, thuốc ức chế GPIIb/IIIa)
- Sử dụng đồng thời thuốc tiêu sợi huyết
- Bệnh gan gây cầm máu kém
- Tổn thương loét đường tiêu hóa
- Dẫn lưu ống tiêu hóa liên tục
- Viêm nội tâm mạc bán cấp do vi khuẩn
- Rối loạn đông máu đồng thời
- Bệnh nhân bị thiếu hụt antitrombin III di truyền đang được điều trị đồng thời bằng antitrombin III
- Phẫu thuật não, cột sống hoặc nhãn khoa gần đây
- Phẫu thuật, chấn thương hoặc thủ thuật xâm lấn gần đây
- Can thiệp cột sống, bao gồm gây tê ngoài màng cứng hoặc chọc tủy sống
Loãng xương
Các nghiên cứu chủ yếu ở bệnh nhân đang mang thai cho thấy heparin có thể làm giảm đáng kể mật độ khoáng xương (BMD) ≥10% so với số đo xương đùi ban đầu. Một nghiên cứu ở bệnh nhân chạy thận nhân tạo cho thấy BMD giảm chủ yếu ở cột sống thắt lưng. Sự mất mát BMD có thể vẫn còn đáng kể sau 6 tháng ngừng thuốc. Gãy xương ít gặp.
Cơ chế:
Liên quan đến liều lượng và thời gian; liên kết với Osteoprotegerin, ức chế hoàn toàn sự tương tác của nó với RANKL trên các nguyên bào xương. Điều này thúc đẩy liên kết RANK-RANKL, kích hoạt các nguyên bào xương và gây ra sự tiêu xương.
Liên quan đến liều lượng và thời gian; liên kết với Osteoprotegerin, ức chế hoàn toàn sự tương tác của nó với RANKL trên các nguyên bào xương. Điều này thúc đẩy liên kết RANK-RANKL, kích hoạt các nguyên bào xương và gây ra sự tiêu xương.
Khởi phát:
Trì hoãn; xảy ra sau khoảng 3 đến 6 tháng.
Trì hoãn; xảy ra sau khoảng 3 đến 6 tháng.
Các yếu tố nguy cơ:
- Liều cao (15.000 đến 30.000 đơn vị/ngày), nhưng điều này còn gây tranh cãi
- Sử dụng lâu dài ít nhất 3 đến 6 tháng
- Sử dụng heparin không phân đoạn (so với heparin trọng lượng phân tử thấp)
- Mang thai
Giảm tiểu cầu
Giảm tiểu cầu nhẹ có thể xảy ra trong quá trình điều trị. Giảm tiểu cầu do heparin không có huyết khối (HIT) hoặc có huyết khối (HITT) cũng có thể xảy ra, cần phải ngừng điều trị và có thể gây tử vong nếu không điều trị. Nên nghi ngờ HIT/HITT nếu số lượng tiểu cầu giảm 30% đến 50% so với ban đầu, có hoặc không có hình thành huyết khối mới, trong khi điều trị bằng heparin.
Điểm 4T có thể được sử dụng để đánh giá xác suất xảy ra HIT và việc có nên tiếp tục theo đuổi đánh giá trong phòng thí nghiệm hay không. Kháng thể HIT/HITT sẽ biến mất khoảng 90 đến 100 ngày sau khi ngừng điều trị; tuy nhiên, vẫn chưa rõ liệu những người có tiền sử HIT/HITT có dễ bị phản ứng trở lại hơn nếu tiếp xúc lại với heparin hay không. Do đó, nên tránh sử dụng heparin (hoặc chỉ cho phép sử dụng ngắn hạn đối với các chỉ định cụ thể) ngay cả sau khi đã ly giải kháng thể.
Cơ chế:
Liên quan đến thời gian; HIT là một biến chứng qua trung gian miễn dịch trong đó kháng thể IgG hướng vào phức hợp heparin và protein tiểu cầu, yếu tố tiểu cầu 4 (PF4), liên kết với thụ thể FcγIIa trên tiểu cầu. Điều này gây ra sự kích hoạt, kết tập tiểu cầu và tạo ra trombin đáng kể, dẫn đến huyết khối. Giảm tiểu cầu là thứ yếu do việc kích hoạt và sử dụng tiểu cầu một cách đáng kể, loại bỏ chúng khỏi tuần hoàn một cách hiệu quả.
Liên quan đến thời gian; HIT là một biến chứng qua trung gian miễn dịch trong đó kháng thể IgG hướng vào phức hợp heparin và protein tiểu cầu, yếu tố tiểu cầu 4 (PF4), liên kết với thụ thể FcγIIa trên tiểu cầu. Điều này gây ra sự kích hoạt, kết tập tiểu cầu và tạo ra trombin đáng kể, dẫn đến huyết khối. Giảm tiểu cầu là thứ yếu do việc kích hoạt và sử dụng tiểu cầu một cách đáng kể, loại bỏ chúng khỏi tuần hoàn một cách hiệu quả.
Khởi phát:
Đa dạng; sự giảm số lượng tiểu cầu thường xảy ra từ 5 đến 10 ngày sau khi bắt đầu sử dụng heparin; tuy nhiên, số lượng tiểu cầu có thể giảm trong vòng 24 giờ sau khi bắt đầu sử dụng heparin trong “HIT khởi phát nhanh”, có xu hướng xảy ra ở những người có kháng thể heparin lưu hành thứ phát sau phơi nhiễm gần đây. “HIT khởi phát muộn” cũng có thể xảy ra, xảy ra khi số lượng tiểu cầu giảm vài tuần sau khi ngừng sử dụng heparin. Huyết khối có thể xuất hiện trước tình trạng giảm tiểu cầu trong 25% trường hợp.
Đa dạng; sự giảm số lượng tiểu cầu thường xảy ra từ 5 đến 10 ngày sau khi bắt đầu sử dụng heparin; tuy nhiên, số lượng tiểu cầu có thể giảm trong vòng 24 giờ sau khi bắt đầu sử dụng heparin trong “HIT khởi phát nhanh”, có xu hướng xảy ra ở những người có kháng thể heparin lưu hành thứ phát sau phơi nhiễm gần đây. “HIT khởi phát muộn” cũng có thể xảy ra, xảy ra khi số lượng tiểu cầu giảm vài tuần sau khi ngừng sử dụng heparin. Huyết khối có thể xuất hiện trước tình trạng giảm tiểu cầu trong 25% trường hợp.
Các yếu tố nguy cơ đối với HIT:
- Liệu trình heparin kéo dài hơn
- Sử dụng heparin không phân đoạn (so với heparin trọng lượng phân tử thấp)
- Heparin nguồn gốc từ bò
- Bệnh nhân trải qua phẫu thuật (đặc biệt là phẫu thuật tim và chỉnh hình)
- Bệnh nhân có chấn thương nặng
- Nữ
- Nồng độ kháng thể cao (mật độ quang học hoặc hiệu giá)
- Giảm tiểu cầu rõ rệt (giảm >90% so với mức cơ bản)
Tài liệu tham khảo
- Phác đồ điều trị bệnh viện Nhi Đồng 1
- Khuyến cáo của Hội Tim Mạch Học Việt Nam về chẩn đoán, điều trị và dự phòng thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch 2022
- Heparin Unfractionated Drug infomation. Uptodate 2024