FCCS: Cơ bản về hỗ trợ chấn thương và bỏng

Post key: 112725bf-4ac7-5b50-bed6-06d6506e1ac8
Slug: fccs-co-ban-ve-ho-tro-chan-thuong-va-bong
Excerpt: Tài liệu FCCS (Basic Trauma and Burn Support) nhấn mạnh quản lý ban đầu bệnh nhân chấn thương nặng và bỏng theo tiếp cận “3 tầng” (đánh giá sơ cấp kèm hồi sức đồng thời ABCDE; đánh giá thứ cấp từ đầu đến chân; đánh giá lần ba liên tục). Mục tiêu là ưu tiên phát hiện và xử trí sớm các tổn thương đe dọa tính mạng, đồng thời bắt đầu hồi sức bỏng sớm và xác định chỉ định hội chẩn/chuyển tuyến lên cơ sở cao hơn. Nội dung bao gồm khung đánh giá ABCDE, các nguyên tắc không cần chẩn đoán xác định trước khi bảo vệ tính mạng, hạn chế trì hoãn chuyển viện, chỉ định chụp CT trong chấn thương đầu và chiến lược đánh giá tổn thương (bao gồm các chỉ điểm lâm sàng cho tràn khí màng phổi áp lực). Phần bỏng tập trung đánh giá và ổn định ban đầu, tính diện tích/bậc độ bỏng, xử trí sớm các vấn đề như escharotomy và nguy cơ tổn thương do hít phải, đồng thời theo dõi hiệu quả hồi sức qua dấu hiệu tưới máu/tiểu đủ.
Recognized tags: cap-cuu, khan-cap, nang, theo-doi, xet-nghiem, hinh-anh, ca-lam-sang

GIỚI THIỆU

Chương trình FCCS không nhằm thay thế khóa học Hỗ trợ sự sống sau Chấn thương Nâng cao (ATLS) do Ủy ban Phẫu thuật Chấn thương của Trường Đại học Hoa Kỳ cung cấp.
Cấp cứu chấn thương
Hồi sức tích cực là một cấu phần trong công tác chăm sóc người bệnh chấn thương. Tài liệu này được biên soạn nhằm tập trung làm rõ các vấn đề về đánh giá và điều trị dành cho nhân viên y tế khi tiếp nhận bệnh nhân chấn thương nặng. Nhân viên y tế thường xuyên trực tiếp chăm sóc các trường hợp do chấn thương được khuyến khích tham gia các khóa đào tạo chính quy về chấn thương, chẳng hạn như khóa học ATLS.

TỔNG QUAN

Tại Hoa Kỳ, thương tổn do chấn thương vẫn là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở những người trong độ tuổi từ 1 đến 44 tuổi. Các trường hợp tử vong do chấn thương diễn ra theo 3 giai đoạn.
  • Giai đoạn 1 xảy ra trong vòng vài giây đến vài phút sau chấn thương. Tử vong thường do chấn thương não hoặc chấn thương tủy sống nghiêm trọng, mất đường thở hoặc vỡ tim, động mạch chủ hoặc các mạch máu lớn khác. Rất ít bệnh nhân trong nhóm này có thể được cứu sống vì mức độ nặng của tổn thương; do đó, biện pháp phòng ngừa là cách duy nhất để giảm các trường hợp tử vong liên quan đến kiểu chấn thương như vậy.
  • Giai đoạn 2 xảy ra trong vòng vài phút đến vài giờ sau chấn thương. Các tử vong thường là hậu quả của tụ máu dưới màng cứng và ngoài màng cứng, tràn máu màng phổi, vỡ tạng đặc (lách hoặc gan), gãy xương chậu hoặc các chấn thương khác liên quan đến mất máu. “Giờ vàng” sau chấn thương được đặc trưng bởi yêu cầu đánh giá và xử trí nhanh chóng những tổn thương nêu trên.
  • Giai đoạn 3 xuất hiện trong vài ngày đến vài tuần sau chấn thương ban đầu; thường gặp nhất là do nhiễm trùng huyết kèm theo suy đa cơ quan ( Hình 1 ).
Những tiến bộ trong hồi sức tích cực và hỗ trợ đa cơ quan đã làm giảm đỉnh điểm muộn, xảy ra trong khoảng thời gian 3–4 tuần, tạo ra sự phân bố tỷ lệ tử vong hai chiều (tử vong ngay lập tức và tử vong sớm). Hiện tượng này được mô tả trong bài viết của Gunst và cộng sự. Việc làm phẳng đường cong tử vong nhấn mạnh tầm quan trọng của hồi sức tích cực trong điều trị bệnh nhân chấn thương nặng.
Hình 1. Sự phân bổ ba giai đoạn của các trường hợp tử vong do chấn thương
Hình 1. Sự phân bổ ba giai đoạn của các trường hợp tử vong do chấn thương

Mục tiêu của chủ đề này

  • Ưu tiên và khởi động việc đánh giá kịp thời bệnh nhân bị chấn thương.
  • Bắt đầu điều trị các tổn thương do chấn thương đe dọa tính mạng.
  • Sử dụng chụp X quang để xác định chấn thương nặng.
  • Xác định và đáp ứng với các thay đổi đáng kể trong tình trạng bệnh nhân sau chấn thương.
  • Bắt đầu quản lý vết bỏng sớm.
  • Tìm hiểu các chỉ định để tiến hành hội chẩn phẫu thuật và/hoặc chuyển bệnh nhân lên cấp độ chăm sóc cao hơn.

Ca lâm sàng

Một người đàn ông 37 tuổi đang làm việc tại một công trường xây dựng thì bị rơi khỏi giàn giáo cao khoảng 20 feet (hơn 6 mét). Ông đội mũ cứng, nhưng mũ rơi ra trong lúc ngã. Bệnh nhân khó đánh thức và chỉ rên rỉ. Ông bị gãy hở ở xương cổ tay và bầm tím ở lưng và hông trái. Các dấu hiệu sinh tồn gồm huyết áp 86/68 mm Hg, nhịp tim 100 nhịp/phút và nhịp thở 32 nhịp/phút.
Bệnh nhân hôn mê và chỉ cử động được chi trên; da lạnh và ẩm.
  • Mục tiêu đánh giá sơ cấp là gì?
  • Những can thiệp ban đầu khẩn cấp nhất là gì?

QUẢN LÝ CHẤN THƯƠNG

Việc tiếp cận bệnh nhân chấn thương nặng được thực hiện theo chiến lược “3 tầng”:
  1. Đánh giá sơ cấp kết hợp hồi sức đồng thời – phát hiện và xử trí các tổn thương đe dọa tính mạng.
  2. Đánh giá thứ cấp – đánh giá và điều trị toàn diện từ đầu đến chân, đồng thời khai thác tiền sử/bệnh sử.
  3. Đánh giá lần ba – xác định toàn bộ tổn thương, lập danh sách và triển khai kế hoạch điều trị.
Chiến lược 3 tầng này được định hướng bởi các nguyên tắc sau:
  1. Trước tiên phải điều trị nguyên nhân gây đe dọa tính mạng lớn nhất.
  2. Không nhất thiết phải có chẩn đoán xác định trước khi bắt đầu các can thiệp nhằm bảo vệ tính mạng.
  3. Không bắt buộc phải có tiền sử/bệnh sử chi tiết để bắt đầu chăm sóc ban đầu.
Việc xử trí sớm bệnh nhân chấn thương nặng đòi hỏi đánh giá và điều trị đồng thời. Mục tiêu ưu tiên là bảo đảm cung cấp đủ oxy cho các cơ quan quan trọng bằng cách tuân thủ trình tự ưu tiên để nhận diện và can thiệp ngay các tổn thương có khả năng gây tử vong tức thì (đánh giá sơ cấp). Quy trình chăm sóc nên được tiến hành theo thứ tự: bắt đầu bằng đánh giá sơ cấp nhanh chóng và hồi sức đồng thời chức năng sống còn, sau đó thực hiện đánh giá thứ cấp chi tiết hơn (khám toàn thân từ đầu đến chân) và cuối cùng chuyển sang giai đoạn điều trị dứt điểm/triệt để theo chuyên khoa. Toàn bộ quá trình bắt đầu bằng ABCDE trong chăm sóc chấn thương (xem thêm: Checklist Trauma), trong đó ABCDE hướng dẫn nhận định các tình trạng đe dọa tính mạng theo trình tự ban đầu về đường thở(A), hô hấp/nhịp thở(B), tuần hoàn(C), khiếm khuyết thần kinh(D) và bộc lộ/môi trường(E) (Bảng 1).
Bảng 1. Đánh giá ban đầu chấn thương
  • Đường thở( Airway): duy trì đường thở bằng cách hạn chế cử động cột sống cổ.
  • Nhịp thở/hô hấp( Breathing): thông khí và cung cấp oxy.
  • Tuần hoàn( Circulation): kiểm soát chảy máu.
  • Khiếm khuyết thần kinh( Disability): khám thần kinh ngắn gọn.
  • Bộc lộ/môi trường( Exposure/environment): cởi bỏ quần áo, tránh hạ thân nhiệt.
Đối với mọi bệnh nhân chấn thương nghiêm trọng, nên hội chẩn sớm một bác sĩ phẫu thuật có kinh nghiệm trong xử trí chấn thương trong quá trình điều trị. Việc chuyển người bệnh đến trung tâm có bác sĩ phẫu thuật chấn thương là yếu tố quan trọng đối với khả năng sống còn. Nếu bác sĩ phẫu thuật không thể có mặt ngay lập tức hoặc khi mức độ tổn thương vượt quá khả năng của cơ sở hiện tại, thì cần khởi động quá trình chuyển đến cơ sở điều trị cuối cùng (điều trị dứt điểm) mà không trì hoãn. Trong thời gian chờ chuyển tuyến, các tổn thương đe dọa tính mạng phải được xử trí và phản ứng của người bệnh với các can thiệp phải được theo dõi, đồng thời đánh giá lại định kỳ.

Đánh giá sơ cấp và hồi sức đồng thời

Đường thở (Airway)

Nếu bệnh nhân có thể giao tiếp bằng lời nói thì đường thở thường không bị đe dọa ngay lập tức. Trong bối cảnh này, đường thở dứt khoát có vẻ không cần thiết. Đường thở dứt khoát được định nghĩa là một ống có vòng bít (Cuff – hay bóng chèn) được cố định trong đường thở sao cho vòng bít được bơm căng ngay bên dưới dây thanh âm. Trong giai đoạn đánh giá đường thở, cần hạn chế cử động cột sống cổ. Đánh giá đường thở gồm việc kiểm tra dị vật và các tổn thương gãy ở vùng mặt, hàm dưới hoặc khí quản/thanh quản có thể dẫn đến tắc nghẽn đường thở. Bệnh nhân có thể xuất hiện dấu hiệu tắc nghẽn sau giai đoạn ban đầu vốn là “lành tính” (trong khi không có bất thường rõ ràng), vì vậy đánh giá lại là yếu tố tối quan trọng. Chảy máu nhiều do chấn thương vùng hầu họng có thể cần được kiểm soát bằng đường thở dứt khoát (đặt nội khí quản).

Sự thông thoáng của đường thở cần được đánh giá lại thường xuyên, đặc biệt ở những bệnh nhân chấn thương đầu, sốc, gãy xương mặt, bỏng mặt và có nguy cơ tổn thương do hít phải (hít phải).

Tình trạng thần kinh (khiếm khuyết) liên quan đến vấn đề đường thở. Ở bệnh nhân chấn thương đầu nặng, thang điểm hôn mê Glasgow (GCS) từ 8 điểm trở xuống, thường cần thiết lập đường thở dứt khoát. Phản ứng vận động không có chủ đích có thể hỗ trợ cho chỉ định xử trí đường thở ngay lập tức. Việc đánh giá lại tình trạng thông thoáng đường thở và tình trạng thần kinh trong suốt quá trình hồi sức là cần thiết; đồng thời nên cung cấp oxy bổ sung cho tất cả bệnh nhân chấn thương nặng.
Sau chấn thương kín, kiểm soát đường thở cần dựa trên giả định rằng có thể tồn tại gãy xương không ổn định hoặc tổn thương dây chằng ở cột sống cổ. Nếu cần can thiệp đường thở tích cực trước khi đánh giá khả năng gãy cột sống cổ, thì kỹ thuật được lựa chọn để kiểm soát đường thở (đặt nội khí quản, thiết bị hỗ trợ hoặc đường thở phẫu thuật) phải cân nhắc chuyên môn của nhân viên y tế hiện có, loại thiết bị sẵn có, các yếu tố liên quan đến bệnh nhân và dạng/đặc điểm tổn thương. Nếu bệnh nhân ngừng thở hoặc diễn tiến xấu nhanh chóng, thông khí bóng-mặt nạ (Bag-mask) hiệu quả có thể cứu sống. Nên ưu tiên đặt nội khí quản qua đường miệng theo kỹ thuật tiêu chuẩn, đồng thời hạn chế cử động cột sống cổ. Hạn chế cử động cột sống cổ có thể được thực hiện từ phía trước hoặc phía bên bệnh nhân. Nhân viên y tế hỗ trợ chẩm và hàm dưới bằng cả hai tay để duy trì sự thẳng hàng của cổ mà không bị kéo hoặc xao lãng. Khi đã đảm bảo an toàn với sự ổn định, phần trước của nẹp cổ có thể được tháo để cho phép can thiệp vào đường thở; việc hạn chế cử động tiếp tục duy trì cho đến khi nẹp cổ được đặt lại và thiết bị thở dứt khoát được cố định.
Nếu không thể thiết lập đường thở dứt khoát bằng các phương pháp khác, có thể cân nhắc các thiết bị hỗ trợ [ví dụ: đường thở qua mặt nạ (mask) thanh quản, đường thở hai nòng (double lumen) thực quản-khí quản], tuy nhiên đường thở phẫu thuật được chỉ định khi cần thiết.

Nếu bệnh nhân chống cự và cần can thiệp để hỗ trợ thông khí, nên tiến hành đặt nội khí quản với sự hỗ trợ của thuốc.

Các vấn đề quan trọng khác trong kiểm soát đường thở liên quan đồng thời đến gãy xương mặt. Gãy xương mặt không phải là vấn đề ưu tiên ngay lập tức, trừ khi có chảy máu nhiều hoặc tiết dịch không kiểm soát được. Tương tự, gãy xương mặt thường không đòi hỏi đặt nội khí quản. Tuy nhiên, gãy xương hàm dưới có nhiều khả năng đi kèm tổn thương mô mềm có thể làm tổn thương đường thở; vì vậy, đặt nội khí quản qua đường miệng hoặc thực hiện phẫu thuật đường thở được cân nhắc nếu cần một đường thở dứt khoát.

Nếu không thể đặt ống nội khí quản qua đường miệng hoặc không thể cung cấp đủ oxy/thông khí cho bệnh nhân, thì phẫu thuật mở màng nhẫn giáp cấp cứu được chỉ định hoặc mở khí quản khi nghi ngờ tổn thương khí quản/thanh quản.

Thông tin chi tiết hơn về quản lý đường thở nâng cao có thể tham khảo trong: Quản lý đường thở .

Hô hấp (Breathing)

Mặc dù nhiều tổn thương về sau có thể ảnh hưởng đến khả năng thông khí và oxy hóa, vẫn có một số tổn thương trọng yếu cần nhận diện và xử trí khẩn cấp, gồm tràn khí màng phổi áp lực (tension pneumothorax), tràn khí màng phổi hở (Open peumothorax) và tràn máu màng phổi lượng lớn (massive hemothorax).
Tràn khí màng phổi áp lực (Tension pneumothorax) – là một chẩn đoán lâm sàng do khí trong khoang màng phổi gây rối loạn sinh lý. Điều trị (chèn ống ngực) cần thực hiện trước khi chụp X quang ngực. Bệnh nhân thở tự nhiên thường có dấu hiệu thở nhanh, đói khí và không có âm thở ở bên phổi bị ảnh hưởng. Mặc dù trụy huyết động có thể xảy ra ở bất kỳ bệnh nhân nào, nhưng nó thường gặp ở nhóm được thông khí áp lực dương. Các dấu hiệu khác bao gồm khí quản lệch khỏi bên tổn thương và tĩnh mạch cổ căng phồng. Xem thêm: Thở máy để biết thông tin chi tiết hơn.
Tràn khí màng phổi hở (Open pneumothorax) – thường liên quan đến mất mô mềm ở thành ngực tạo thành “vết thương ngực hít”. Nhân viên y tế cấp cứu ngoại viện thường xử trí vết thương này tại hiện trường bằng cách băng kín khí được cố định ở ba mặt (tạo thành van một chiều: khí ra được nhưng không vào được). Khi đến bệnh viện, cần đặt ống dẫn lưu màng phổi (ống ngực) và thực hiện đóng vết thương dứt điểm trong phòng mổ. Trước khi đóng vết thương dứt điểm, nên băng vết thương bằng băng vô trùng.
Tràn máu màng phổi lượng lớn (Massive hemothorax) – được gợi ý bởi sinh lý bệnh, khám thực thể và chụp X quang ngực. Thường được định nghĩa là > 1.500 mL máu (tương ứng với sốc mất máu độ III) trong khoang màng phổi, hoặc mất máu liên tục đang diễn ra > 200 mL mỗi giờ trong 2 đến 4 giờ liên tiếp. Lượng máu trong khoang màng phổi có thể làm suy giảm oxy hóa và thông khí. Nên đặt ống dẫn lưu màng phổi (ống ngực) và hội chẩn phẫu thuật để có thể thực hiện phẫu thuật lồng ngực. Truyền máu tự thân được lấy từ khoang màng phổi có thể hỗ trợ hồi sức cho bệnh nhân.
Các chấn thương khác liên quan đến vấn đề hô hấp bao gồm tràn khí màng phổi đơn giản (Simple pneumothorax) và gãy xương sườn. Thông thường, tràn khí màng phổi đơn giản đi kèm gãy xương sườn và có thể cần đặt ống ngực. Các bệnh nhân thường biểu hiện đau tại thành ngực. Tràn khí dưới da có thể sờ thấy được. Chụp X quang ngực có khí dưới da rất gợi ý tràn khí màng phổi và cần đặt ống dẫn lưu màng phổi. Cần cân nhắc thận trọng chỉ định đặt ống dẫn lưu màng phổi ở những bệnh nhân có tràn khí màng phổi trên X quang ngực và đang được gây mê toàn thân và thở máy áp lực dương.
Gãy xương sườn đôi khi bị bỏ sót trên X quang ngực; tuy nhiên, có thể nghi ngờ và ghi nhận gãy xương khi khám thực thể phát hiện đau (đau khi ấn) tại vị trí gãy. Có thể cần kiểm soát cơn đau để đảm bảo thông khí tự nhiên đầy đủ. Những bệnh nhân này có thể tiến triển suy hô hấp tăng CO 2 do thông khí không đầy đủ; vì vậy cần theo dõi liên tục thông khí và oxy hóa. Mảng sườn di động (Flail chest) được định nghĩa là hai hoặc nhiều vết gãy ở hai hoặc nhiều xương sườn liên tiếp. Tình trạng này có thể gây chuyển động nghịch thường của thành ngực (tức là chuyển động hướng vào trong của mảng sườn di động khi hít vào). Mảng sườn di động cũng đi kèm dập phổi bên dưới, đau và thiếu oxy máu. Các bệnh nhân cần kiểm soát đau tích cực và theo dõi liên tục oxy hóa và thông khí; họ có thể cần đặt nội khí quản do suy hô hấp nặng.
Theo dõi ca lâm sàng: Một người đàn ông 37 tuổi đang làm việc tại một công trường xây dựng thì bị ngã từ độ cao khoảng 20 feet khỏi giàn giáo. Ông bị tổn thương lách mức độ nặng cần phải cắt lách và đụng dập tủy sống ở T10.

Tuần hoàn (Circulation)

CA LÂM SÀNG:
Một bệnh nhân nữ 22 tuổi đến khoa cấp cứu với vết thương do đạn bắn vào đùi phải. Huyết áp ban đầu là 92/78 mm Hg, nhịp tim là 130 nhịp/phút. Bệnh nhân đã nhận 1 L dịch tinh thể từ dịch vụ cấp cứu y tế (EMS), huyết áp cải thiện đôi chút lên 108/70 nhưng sau đó quay trở lại chỉ số trước đó. Bệnh nhân đang lú lẫn và bức rức.
  • Bệnh nhân này có bị sốc hay không?
  • Mối lo ngại chính là gì?
  • Liệu pháp nào được khuyến cáo?

Nếu bolus dịch ban đầu chỉ mang lại cải thiện thoáng qua hoặc không đáp ứng thì cần hội chẩn phẫu thuật ngay lập tức. Đồng thời nên bắt đầu truyền các chế phẩm máu.

Nguyên nhân hàng đầu gây sốc ở bệnh nhân chấn thương là xuất huyết. Mục tiêu trọng tâm là nhận diện và kiểm soát xuất huyết cũng như khôi phục oxy hóa mô sớm nhất có thể. Điều trị theo kinh nghiệm ở người lớn bao gồm truyền dịch tinh thể đẳng trương ấm (1 L Ringer lactat hoặc dung dịch nước muối sinh lý thường) qua hai catheter tĩnh mạch ngoại vi khẩu kính lớn (tối thiểu 18-gauge) và kiểm soát xuất huyết bên ngoài bằng băng ép thủ công. Mục tiêu của liệu pháp truyền dịch theo kinh nghiệm là bình thường hóa huyết áp, đảo ngược nhịp tim nhanh và duy trì tưới máu cơ quan đầy đủ (xem: Chẩn đoán và xử trí sốc ).
Đối với bệnh nhân không có chấn thương sọ não nhưng bị xuất huyết nhiều có thể cần can thiệp phẫu thuật, thì xử trí với chiến lược hồi sức “hạ huyết áp cho phép” có thể phù hợp: hướng đến huyết áp tâm thu từ 90 đến 100 mm Hg cho đến khi kiểm soát xuất huyết bằng phẫu thuật. Can thiệp này hỗ trợ kiểm soát các mạch máu có thể còn huyết khối (cầm máu) và chưa chảy máu, nhưng vẫn có thể chảy máu lại nếu huyết áp được đưa về bình thường.
Khi giảm tưới máu và đáp ứng bù trừ mạch máu gây khó khăn cho việc thiết lập đường truyền ngoại vi, đặt ống thông tĩnh mạch trung tâm (lý tưởng nhất với thiết bị đặt vào 7F, 8.5F hoặc 9F) là lựa chọn thay thế, hoặc có thể sử dụng đường vào trong xương. Các thăm dò chẩn đoán đồng thời để xác định nguồn chảy máu có thể gồm chụp X quang ngực (tràn máu màng phổi), chụp X quang vùng chậu [gãy xương chậu, chấn thương dạng mở quyển sách (open-book) hoặc cắt dọc (thẳng đứng) vùng chậu], siêu âm đánh giá có trọng điểm trong chấn thương (FAST) hoặc chọc hút phúc mạc chẩn đoán (DPA) hoặc hút dịch rửa ổ bụng (DPL) [xuất huyết trong phúc mạc].
Nếu bệnh nhân huyết động ổn định, có thể tiến hành chụp cắt lớp vi tính (CT) vùng bụng và xương chậu với thuốc cản quang tiêm tĩnh mạch để mô tả rõ hơn tổn thương và đánh giá vùng sau phúc mạc, trừ khi có chỉ định phẫu thuật dứt khoát. Bệnh nhân huyết động không ổn định không nên di chuyển để chụp CT. Việc kiểm soát ngay lập tức xuất huyết bên ngoài phải được thực hiện đồng thời với hồi sức nhanh chóng.
Khi có chấn thương ở một chi, khuyến cáo sử dụng lực ép trực tiếp, có thể kèm băng gạc cầm máu. Nếu vẫn tiếp tục chảy máu, cần buộc dây garo ở phần chi phía trên vết thương. Tuyệt đối không kẹp kín vết thương đang chảy máu nhằm tránh nguy cơ tổn thương các cấu trúc lân cận.

Điều quan trọng là không đồng nhất “không hạ huyết áp” với “không bị sốc”. Bệnh nhân có thể mất máu đáng kể (sốc độ I hoặc độ II) mà huyết áp không thay đổi.

Như trong Bảng 2, huyết áp tâm thu, tần số tim, tần số hô hấp và tình trạng ý thức có thể sử dụng để đánh giá tình trạng mất máu. Trường Cao đẳng Phẫu thuật Hoa Kỳ cũng xác nhận giảm áp lực mạch (PP) là dấu hiệu của giảm tưới máu tiềm ẩn. Lượng máu trong tuần hoàn tương ứng với 7% trọng lượng cơ thể bình thường (70 mL/kg) ở người trưởng thành. Mất máu đến 1.200 mL có thể xảy ra ở người trưởng thành có huyết áp bình thường (70 kg [154 lb]) với nhịp tim nhanh tối thiểu. Xuất huyết độ II là sốc không biến chứng nhưng hồi sức bằng dịch tinh thể có thể đủ. Xuất huyết độ III cần hồi sức bằng dịch tinh thể và thường phải truyền máu bổ sung. Xuất huyết độ IV có thể được coi là mất máu nặng sớm và cần các biện pháp tích cực để khôi phục thể tích nội mạch, khả năng vận chuyển oxy và kiểm soát chảy máu.
Việc điều trị nên được định hướng theo đáp ứng ban đầu với điều trị hơn là dựa hoàn toàn vào phân loại. Bệnh nhân thường đáp ứng với hồi sức dịch theo một trong ba nhóm.
Nhóm thứ nhất (đáp ứng nhanh): lấy lại các dấu hiệu sinh tồn bình thường với một lượng dịch nhỏ.
Nhóm thứ hai (đáp ứng thoáng qua): ban đầu có đáp ứng với hồi sức dịch, nhưng sau đó có dấu hiệu suy giảm huyết động theo thời gian hoặc suy giảm trong quá trình hồi sức dịch; nhóm này cần truyền thêm dịch và tập trung đánh giá nguyên nhân cũng như cách điều trị tổn thương. Đáp ứng thoáng qua gợi ý tình trạng xuất huyết đang diễn ra.
Nhóm thứ ba (không đáp ứng): không có dấu hiệu cải thiện sinh lý mặc dù đã hồi sức dịch; nhóm này thường cần can thiệp phẫu thuật ngay lập tức và có thể đang bị xuất huyết nặng. Nếu không có can thiệp nhanh chóng, tích cực thì tỷ lệ tử vong cao; cuối cùng có thể phải truyền máu số lượng lớn (> 10 đơn vị hồng cầu lắng [PRBC] trong 24 giờ đầu nhập viện hoặc hơn 4 đơn vị trong 1 giờ).
Bảng 2. Phân loại xuất huyết dựa theo dấu hiệu và triệu chứng
Thông số Độ I Độ II(nhẹ) Độ III(vừa) Độ IV(nặng)
Mất máu khoảng < 15% 15-30% 31-40% > 40%
Tần số tim ↔/↑ ↑/↑↑
Huyết áp ↔/↓
Áp lực mạch(PP)
Tần số thở ↔/↑
Lượng nước tiểu ↓↓
Điểm Glasgow(GCS)
Kiềm dư (1) 0 đến -2 mEq/L -2 đến -6 mEq/L -6 đến -10 mEq/L -10 mEq/L hoặc ít hơn
Nhu cầu truyền chế phẩm máu Theo dõi Có thể Quy trình truyền máu số lượng lớn
(1) Kiềm dư là lượng bazơ (HCO3 -, tính bằng mEq/L) cao hơn hoặc thấp hơn mức bình thường trong cơ thể. Số âm được gọi là thiếu hụt bazơ và biểu thị tình trạng nhiễm toan chuyển hóa.

Canxi ion hóa có thể cần được theo dõi và lượng citrat trong PRBC bổ sung có thể gây chelate hóa canxi, thúc đẩy rối loạn đông máu ở những bệnh nhân được truyền máu số lượng lớn.

Khi bắt đầu hồi sức cho bệnh nhân bị sốc, có thể dùng dịch tinh thể đẳng trương; tuy nhiên, thể tích này cần được giới hạn và giảm thiểu không quá 1 L. Nếu chưa đạt đáp ứng sinh lý đầy đủ, nên tiếp tục bằng truyền sớm các chế phẩm máu. Máu phản ứng chéo đầy đủ (cùng nhóm) hiếm khi có sẵn để hồi sức chấn thương khẩn cấp. Loại máu cụ thể chưa phản ứng chéo có thể được sử dụng an toàn và thường có sẵn tại nhiều bệnh viện trong vòng 15 đến 20 phút nhận được sau khi yêu cầu. Nếu không có sẵn loại máu cụ thể và bệnh nhân không ổn định, nên sử dụng PRBC (hồng cầu lắng) nhóm O-Rh âm. Ở hầu hết các trung tâm chấn thương, máu không phản ứng chéo gần như có sẵn ngay lập tức tại khu vực hồi sức chấn thương để sử dụng cho bệnh nhân chấn thương không ổn định. PRBC O-Rh dương là một lựa chọn cho nam giới và phụ nữ ngoài độ tuổi sinh đẻ.
Trong các tình huống dự kiến hoặc có khả năng phải truyền máu số lượng lớn, việc sử dụng sớm phương pháp hồi sức cân bằng bằng cách phối hợp PRBC, huyết tương tươi đông lạnh (FPP), tiểu cầu (PLT) và tủa lạnh cần được cân nhắc kỹ lưỡng. Trong các tình huống này, ưu tiên khẩn cấp nhất là kiểm soát tình trạng xuất huyết đang diễn ra. Thông thường, điều này liên quan đến can thiệp phẫu thuật. Tuy nhiên, với một số tổn thương nhất định, đặc biệt là gãy xương chậu nghiêm trọng có chảy máu tích cực thành khối máu tụ ở vùng chậu, các biện pháp can thiệp khác như chụp động mạch với nút mạch (gây tắc mạch) có thể giúp bảo vệ tính mạng.
Nhiều trung tâm chấn thương có sẵn quy trình truyền máu số lượng lớn để cho phép thu gom nhanh các chế phẩm máu nhằm sử dụng cho bệnh nhân chấn thương nặng, không ổn định, chảy máu ồ ạt. Bằng chứng ngày càng gia tăng cho thấy nên giảm thiểu việc sử dụng các dung dịch tinh thể, đặc biệt ở nhóm bệnh nhân này. Nhiều dữ liệu cũng cho thấy hồi sức dựa trên tỷ lệ (hồng cầu lắng, huyết tương tươi đông lạnh và tiểu cầu gần tỷ lệ 1:1:1) có thể cải thiện kết cục và giúp giảm tác động sinh lý ở bệnh nhân nguy kịch. Hồi sức dựa trên tỷ lệ có thể mang lại lợi ích tương tự như sử dụng máu toàn phần và hữu ích trong việc giảm thiểu rối loạn đông máu có thể phát triển ở bệnh nhân chấn thương nặng. Máu toàn phần sẵn có ở một số cơ sở và là thành phần của quy trình truyền máu số lượng lớn ở bệnh nhân sốc xuất huyết.
Các nghiên cứu về lợi ích của máu toàn phần vẫn đang tiếp tục. Axit Tranexamic (TXA) cũng có thể được xem xét như một phần của hồi sức trong nhóm bệnh nhân này, mặc dù một số bằng chứng cho thấy biến chứng huyết khối có thể gia tăng. Đo độ đàn hồi huyết khối (TEG) hoặc đo đàn hồi đồ cục máu đông (ROTEM) cũng có thể được sử dụng để hướng dẫn chính xác hơn việc bổ sung các thành phần còn thiếu trong quá trình hồi sức.

Bệnh nhân mất máu lượng lớn cần được hồi sức cân bằng sớm và tích cực với hồng cầu lắng, huyết tương tươi đông lạnh và tiểu cầu, đồng thời kiểm soát xuất huyết một cách tích cực.

Khiếm khuyết (Disability) (Đánh giá thần kinh)

Đánh giá thần kinh nhanh chóng được thực hiện như một phần của khảo sát ban đầu (đánh giá sơ cấp) và bao gồm: xác định mức độ ý thức/điểm hôn mê Glasgow (GCS), kích thước và phản xạ đồng tử, các dấu hiệu bên (giúp định vị các vấn đề thần kinh ở một bên não hoặc tủy sống) và mức độ tổn thương tủy sống tổng thể nếu có. Điểm GCS là phương pháp nhanh, đơn giản để đánh giá mức độ ý thức và dự đoán kết cục (đặc biệt là đáp ứng vận động tốt nhất). Suy giảm mức độ ý thức có thể phản ánh giảm tưới máu não hoặc hậu quả của chấn thương não trực tiếp. Hạ đường huyết, ethanol, ma túy và các thuốc khác cũng có thể liên quan. Sự thay đổi ý thức cho thấy cần đánh giá lại ngay oxy hóa, thông khí và tưới máu mô. Cho đến khi chứng minh được nguyên nhân khác, mọi thay đổi ý thức nên được xem là do tổn thương nội sọ. Để cải thiện kết cục, cần thực hiện mọi nỗ lực nhằm ngăn ngừa tổn thương não thứ phát và bảo đảm cung cấp đủ oxy, thông khí và huyết áp.
Nếu tình trạng bệnh nhân cho phép, có thể tiến hành thăm khám chi tiết trước khi an thần và trước khi đặt nội khí quản nhằm xác định sự hiện diện của tổn thương nội sọ hoặc tủy sống cục bộ. Không nên trì hoãn việc thiết lập đường thở dứt khoát để kiểm soát đường thở và/hoặc hô hấp và thông khí nhằm phục vụ khám thần kinh chi tiết. Khi tổn thương thần kinh đã được chẩn đoán hoặc thậm chí nghi ngờ, cần chuyển bệnh nhân đến cơ sở điều trị dứt điểm trước khi thực hiện thêm chẩn đoán hình ảnh.

Bộ lộ và kiểm soát môi trường (Exposure and Environmental Control)

Trong toàn bộ giai đoạn hồi sức ban đầu, cần nỗ lực kiểm soát và phòng ngừa hạ thân nhiệt. Bệnh nhân thường hạ thân nhiệt sau khi tiếp xúc môi trường lạnh và nhiệt độ cơ thể có thể tiếp tục giảm hơn nữa sau khi hồi sức với dịch truyền hoặc máu lạnh ở nhiệt độ phòng, cởi quần áo phục vụ thăm khám, mất phản xạ điều nhiệt do sốc hoặc do sử dụng một số thuốc.
Bệnh nhân có thể mất nhiệt qua nhiều cơ chế bao gồm bức xạ, dẫn truyền (truyền trực tiếp), đối lưu (dòng khí) và bay hơi. Bắt buộc phải cởi bỏ quần áo ướt. Ví dụ, bệnh nhân mặc quần áo ướt sẽ mất nhiệt nhanh hơn do nước có độ dẫn nhiệt lớn hơn nhiều so với không khí. Ngoài ra, vì hạ thân nhiệt góp phần gây rối loạn đông máu, trụy tim mạch và làm xấu kết cục, do đó cần phòng tránh và điều trị tích cực.
Các chiến lược làm ấm thường dùng nhất gồm làm ấm bên ngoài thụ động và làm ấm chủ động (bên ngoài và bên trong). Các biện pháp làm ấm bên ngoài thụ động bao gồm làm ấm môi trường, cởi bỏ quần áo ướt và sử dụng vật liệu cách nhiệt (ví dụ: chăn). Các can thiệp bổ sung cho làm ấm chủ động bên ngoài bao gồm chăn làm ấm, đệm sưởi, năng lượng bức xạ và hệ thống không khí được làm nóng bắt buộc. Các phương pháp làm ấm bên trong chủ động bao gồm làm ấm dịch truyền tĩnh mạch đến khoảng 39°C (102°F) thông qua dịch ấm lưu lượng cao và làm ấm không khí (40–45°C [104°F– 113°F]) được làm ẩm qua ống nội khí quản. Các biện pháp xâm lấn hơn bao gồm rửa khoang trong hoặc làm ấm máu ngoài cơ thể.

Theo dõi

Các thông số như tần số tim, huyết áp, tần số thở, tình trạng axit-bazơ, nhiệt độ cơ thể và lượng nước tiểu được sử dụng để dẫn hướng hồi sức đầy đủ. Việc theo dõi bắt đầu từ lần đánh giá đầu tiên và cần được lặp lại thường xuyên. Đo độ bão hòa oxy xung mạch (SpO 2) là công cụ bổ trợ có giá trị trong theo dõi độ bão hòa hemoglobin với oxy ở bệnh nhân chấn thương, nhưng không hữu ích để đánh giá mức độ thông khí đầy đủ. Huyết áp, như dấu hiệu theo dõi, có thể chỉ phản ánh kém mức độ tưới máu mô thực tế. Các dấu hiệu chuyển hóa bổ sung như lactate huyết thanh, thiếu hụt bazơ và pH giúp xác định tốt hơn mức độ hồi sức đầy đủ. Tưới máu ngoại vi có thể được đánh giá bằng kiểm tra khả năng đổ đầy mao mạch và sự hiện diện của các mạch ngoại vi.
Nên đặt ống thông tiểu càng sớm càng tốt để theo dõi lượng nước tiểu như thước đo tưới máu thận, mặc dù cần sử dụng thận trọng ở bệnh nhân nam khi nghi ngờ tổn thương niệu đạo (ví dụ: máu ở lỗ niệu đạo, tụ máu bìu, hoặc tuyến tiền liệt bất thường khi khám trực tràng). Ở những bệnh nhân này, chụp niệu đạo ngược có thể được dùng để đánh giá nhanh tổn thương niệu đạo.

Sốc mất máu

Trong hồi sức, điều quan trọng là xác định nguyên nhân tiềm ẩn gây hạ huyết áp. Việc tìm kiếm tình trạng mất máu tiềm ẩn cần được thực hiện sau khi đã kiểm soát mọi tình trạng chảy máu bên ngoài. Các vị trí mất máu thường gặp là ngực, bụng, xương chậu/sau phúc mạc và các mô mềm liên quan đến các vết gãy xương dài.
a. Tràn máu màng phổi.
  • Chụp X quang ngực (lý tưởng nhất là bệnh nhân ở tư thế thẳng đứng hoặc Trendelenburg đảo ngược khi huyết động ổn định) là phương tiện sàng lọc đáng tin cậy để phát hiện chảy máu trong lồng ngực. Siêu âm ngực cũng có thể phát hiện tràn máu màng phổi hoặc tràn dịch màng ngoài tim một cách tin cậy.
  • Tràn máu màng phổi cần được dẫn lưu kịp thời bằng cách đặt ống ngực (chest tube), sau đó chụp X quang để xác nhận vị trí ống ngực, lượng máu thoát ra và mức độ giãn nở của phổi. Như đã nêu trước đó, mất nhanh 1.500 mL máu khi đặt ống ngực hoặc mất liên tục > 200 mL/giờ trong 2 đến 4 giờ có thể cần phẫu thuật lồng ngực. Nếu có sẵn, thiết bị truyền máu tự thân nên được gắn vào bất kỳ ống dẫn lưu ngực nào đã đặt cho trường hợp tràn máu màng phổi lượng lớn.
b. Xuất huyết trong ổ bụng.
  • Khám bụng thường bị hạn chế trong phát hiện chảy máu cấp tính, đặc biệt ở bệnh nhân chấn thương ngực dưới, gãy xương sườn, chấn thương tủy sống, nhiễm độc hoặc thay đổi mức độ ý thức. Mọi bệnh nhân bị chấn thương kín thành ngực/bụng kèm thân mình đáng kể do một cú văng trực tiếp, do giảm tốc độ, hoặc do vết thương xuyên thấu qua thân mình phải được xem là có nguy cơ tổn thương mạch máu hoặc nội tạng vùng bụng.
  • Siêu âm có trọng điểm trong chấn thương (FAST) và chọc hút phúc mạc chẩn đoán (DPA) hoặc hút dịch rửa ổ bụng (DPL) là các phương pháp phù hợp nhất để xác định xuất huyết đáng kể trong phúc mạc, mặc dù tại hầu hết cơ sở, FAST đã thay thế phần lớn việc sử dụng DPL. Khi có sẵn và được thực hiện bởi nhân sự được đào tạo, FAST có độ nhạy, độ đặc hiệu và độ chính xác tương đương với DPL trong phát hiện tràn máu phúc mạc và cần cân nhắc đánh giá phẫu thuật ngay để xác định nhu cầu can thiệp phẫu thuật. Ở bệnh nhân ổn định có kết quả FAST dương tính, chụp CT bụng và xương chậu với thuốc cản quang tiêm tĩnh mạch có thể phù hợp để xác định nguồn chảy máu và xác định nhu cầu can thiệp bổ sung (ví dụ: chụp động mạch cho chấn thương kín tạng đặc). Xuất huyết trong ổ bụng thường do rách lách hoặc gan, tổn thương tạng khác hoặc tụ máu sau phúc mạc. Bệnh nhân sốc không phải ứng viên phù hợp cho chụp CT và cần phẫu thuật để kiểm soát chảy máu.
c. Chảy máu vùng chậu.
  • Đánh giá độ ổn định của xương bằng khám thực thể và chụp X quang vùng chậu là quan trọng để nhận diện sớm các gãy xương chậu lớn. Bệnh nhân bị gãy xương chậu (đặc biệt khi có lực nén ép trước-sau mức độ cao hoặc cắt dọc) có nguy cơ cao bị chảy máu nặng, thường là chảy máu tĩnh mạch.
  • Xử trí ban đầu gồm bổ sung thể tích máu tích cực và có thể ép theo chu vi đồng thời chèn ép cơ học bằng một số dạng đai cố định vùng chậu (băng quấn vùng chậu). Cố định xương bên ngoài có thể hữu ích nếu giải phẫu gãy xương phù hợp và nên được tham vấn sớm bởi bác sĩ phẫu thuật chỉnh hình trong quá trình điều trị. Ở bệnh nhân có chảy máu động mạch liên quan đến chấn thương vùng chậu, CT có thể cho thấy sự tích tụ thuốc cản quang. Chụp động mạch vùng chậu để gây thuyên tắc nên được cân nhắc ở bệnh nhân hạ huyết áp vì làm tăng khả năng chảy máu động mạch. Chụp động mạch có thể cần thiết ở khoảng 10% bệnh nhân bị gãy xương chậu. Gần đây, chụp động mạch đã trở thành phương thức điều trị được lựa chọn để kiểm soát chảy máu do gãy xương chậu và khối tụ máu, kể cả ở bệnh nhân không ổn định.
Đai cố định vùng chậu có thể là một thiết bị bán sẵn trên thị trường hoặc một tấm ga trải giường quấn chặt quanh xương chậu; thao tác này tập trung lực ép lớn hơn ở vị trí các phần nhô ra của xương.
d. Gãy xương.
  • Bệnh nhân bị gãy xương có thể kèm xuất huyết ở các mô xung quanh. Ước tính lượng máu mất do gãy xương thay đổi theo vị trí: xương sườn 125 mL; xương quay hoặc xương trụ 250–500 mL; xương cánh tay 500–750 mL; xương chày hoặc xương mác 500–1.000 mL; xương đùi 1.000–2.000 mL; xương chậu 1.000 mL đến mất máu lượng lớn. Bệnh nhân đa chấn thương có thể bị mất máu nghiêm trọng do tổn thương cơ xương, cần được nhận biết sớm và hồi sức thích hợp ngay lập tức. Ở bệnh nhân gãy xương dài, khám thực thể lặp đi lặp lại để phát hiện sưng tấy mô mềm và sự phát triển của hội chứng khoang là bắt buộc.
e. Chảy máu bên ngoài.
  • Chảy máu bên ngoài có thể rất nghiêm trọng, ví dụ khi động mạch hoặc tĩnh mạch lớn bị rách khiến ép trực tiếp bằng áp lực làm giảm lượng máu mất. Một số tình huống khác, như vết rách da đầu, có thể không được nhận biết là nguồn gây mất máu đáng kể.
  • Ép trực tiếp nhanh chóng (có hoặc không có gạc cầm máu), khâu tạm thời vết thương hoặc đặt garô ở chi đang chảy máu có thể bảo vệ tính mạng. Nếu không có garô bán trên thị trường, có thể thay thế bằng vòng đo huyết áp được bơm căng đến áp suất cao hơn huyết áp tâm thu của bệnh nhân. Sau khi sử dụng garô cần hội chẩn phẫu thuật vì garô làm tăng nguy cơ tổn thương do thiếu máu cục bộ ở chi. Thời gian đặt garô phải được ghi trên garô và thông báo cho cơ sở tiếp nhận khi bệnh nhân được chuyển đi.
  • Trong một số tình huống, bao gồm xung đột quân sự và các sự kiện gây thương vong hàng loạt có chủ ý, việc kiểm soát sớm chảy máu kết hợp với sử dụng rộng rãi garô có thể giúp bảo vệ tính mạng và có thể được ưu tiên trong đánh giá/quản lý ban đầu.

Sốc không do mất máu

Chẩn đoán phân biệt sốc không do mất máu (không xuất huyết) ở bệnh nhân chấn thương gồm: sốc tắc nghẽn (tràn khí màng phổi áp lực, chèn ép tim), sốc tim (tổn thương tim kín) và sốc phân bố (sốc thần kinh do tổn thương tủy sống cấp tính). Chấn thương đầu là nguyên nhân hiếm gặp gây hạ huyết áp nhưng khi xảy ra thường là biến cố xảy ra trước tử vong.
a. Tràn khí màng phổi áp lực.
  • Tràn khí màng phổi áp lực gây rối loạn huyết động và rối loạn chức năng phổi do nhu mô phổi bị đè ép cấp tính và trung thất bị đẩy lệch ra khỏi một bên lồng ngực khi áp lực tăng. Không được trì hoãn chẩn đoán bằng chụp X quang ngực. Dấu hiệu thường không có âm thở, lồng ngực nâng lên không đồng bộ và bệnh nhân có thể suy hô hấp, suy giảm độ bão hòa oxy cấp tính, nhịp tim chậm và đôi khi tĩnh mạch cổ bị nổi căng. Tĩnh mạch nổi kinh điển có thể không xuất hiện trong các ca tràn khí màng phổi phức tạp do giảm thể tích. Tất cả ngoại trừ thay đổi tổng thể về âm thở có thể khó nhận ra trong phòng hồi sức. Dịch chuyển khí quản là dấu hiệu muộn và có thể không hiện diện sớm. Ở người lớn, giải áp lồng ngực được thực hiện bằng cách chọc kim ở khoang liên sườn thứ hai trên đường trung đòn hoặc phẫu thuật mở ngực có thăm dò bằng ngón tay tại khoang liên sườn thứ năm đường nách trước; đây là can thiệp bảo vệ tính mạng theo sau bằng đặt ống dẫn lưu ngực.
Nếu nghi ngờ tràn khí màng phổi áp lực ở bệnh nhân đang đặt nội khí quản, cần ngắt kết nối bệnh nhân khỏi máy thở và dẫn khí khoang màng phổi bằng phẫu thuật mở ngực với thăm dò ngón tay hoặc chọc kim giảm áp, sau đó tiến hành mở ngực đặt ống ngực. Thông khí thủ công (bóp bóng bằng tay) có thể làm thấy tăng sức cản.
b. Chèn ép tim.
  • Các dấu hiệu kinh điển của chèn ép tim gồm hạ huyết áp, tiếng tim xa xăm, tĩnh mạch cảnh nổi căng và mạch nghịch thường (giảm độ mạnh của mạch trong thì hít vào khi thở tự nhiên) có thể bị che lấp bởi tiếng ồn và giảm thể tích máu (làm giảm mức căng của tĩnh mạch cảnh). Siêu âm (FAST) là thăm dò nhạy để phát hiện dịch trong màng ngoài tim. Nên thực hiện cửa sổ màng ngoài tim ở bệnh nhân sốc kháng trị, tăng áp tĩnh mạch trung tâm (CVP) dai dẳng và có vết thương xuyên thấu nguy cơ cao (giữa núm vú, trên bờ sườn, dưới xương đòn). Khi không có sẵn nhân sự chuyên môn phẫu thuật, chọc dịch màng ngoài tim bằng kim (needle)/catheter có thể thực hiện như can thiệp tạm thời. Đôi khi, chấn thương ngực kín nặng có thể làm vỡ bề mặt tim; phần lớn các trường hợp liên quan đến rách tâm nhĩ và có thể khỏi nếu được chẩn đoán sớm.
c. Chấn thương tim kín.
  • Chẩn đoán chấn thương tim kín cần được nghi ngờ ở bệnh nhân có tai nạn va chạm trực diện tốc độ cao, kèm hạ huyết áp hoặc rối loạn nhịp tim không giải thích được, hoặc ít gặp hơn là sốc tim. Các thay đổi trên điện tâm đồ (ECG) thường không đặc hiệu và có thể bao gồm ngoại tâm thu thất (co tâm thất sớm), block nhánh, rung nhĩ, nhịp nhanh xoang không giải thích được và thay đổi đoạn ST. Nếu có khả năng xảy ra chấn thương tim kín, cần thực hiện sàng lọc ECG tại khoa cấp cứu. Ở bệnh nhân có bất thường mới, cần nhập viện để theo dõi ECG liên tục. Đối với bệnh nhân có bất thường từ trước, cần đối chiếu với ECG trước đó. Những bệnh nhân huyết động ổn định, không có bất thường ECG và troponin tim âm tính thì không cần đánh giá hoặc theo dõi thêm về tim. Siêu âm tim được chỉ định ở bệnh nhân hạ huyết áp hoặc rối loạn nhịp tim không giải thích được nhằm đánh giá chức năng tim và tổn thương cấu trúc. Điều trị gồm điều chỉnh tình trạng nhiễm toan, giảm oxy máu và rối loạn điện giải; quản lý dịch phù hợp; và điều trị bằng thuốc cho các rối loạn nhịp tim đe dọa tính mạng.
  • Thuốc tăng co bóp cơ tim (Inotrope) có thể được chỉ định để hỗ trợ chức năng huyết động. Điều quan trọng là phải bảo đảm rằng tình trạng hạ huyết áp dai dẳng không phải do mất máu đang diễn ra. Bệnh nhân có thể bị nhồi máu cơ tim cấp thứ phát sau chấn thương tim, hoặc nhồi máu cơ tim cấp có thể là nguyên nhân dẫn đến chấn thương (ví dụ: rơi ngã, tai nạn xe cơ giới). Đôi khi, các bệnh nhân này cần hội chẩn cấp cứu tim mạch để đặt ống thông tim.
Thất phải thường bị ảnh hưởng nhiều nhất trong chấn thương tim kín, và tăng thể tích tuần hoàn là liệu pháp ban đầu cho tình trạng hạ huyết áp khi không có phù phổi.
d. Sốc thần kinh.
  • Sốc thần kinh, là một trạng thái sốc sinh lý, xảy ra khi tổn thương tủy sống cổ hoặc tổn thương mức cao của ngực (trên mức T6) gây cắt hạch giao cảm. Mất trương lực vận mạch dẫn đến giãn mạch các mạch máu nội tạng và ngoại biên. Đặc trưng bởi hạ huyết áp, thường kèm nhịp tim chậm tương đối hoặc tuyệt đối. Liệt mềm, mất phản xạ chi và cương đau dương vật (priapism – cương dương vật kéo dài) có thể là một số dấu hiệu thần kinh liên quan ban đầu; sau đó thường theo sau bởi co cứng (spasticity – liệt cứng). Những dấu hiệu thần kinh này phản ánh sốc cột sống. Điều trị hạ huyết áp bao gồm hồi sức thể tích và dùng thuốc vận mạch (phenylephrine hoặc norepinephrine) nếu truyền dịch không đảo ngược được tình trạng hạ huyết áp. Atropine hoặc dopamine có thể được cân nhắc khi có nhịp tim chậm liên quan với huyết động không ổn định.

Đánh giá thứ cấp: Chẩn đoán và điều trị tổn thương khác

Hầu hết bệnh nhân chấn thương cấp tính có thể được hồi sức đạt tình trạng huyết động ổn định. Đánh giá sơ cấp (ban đầu) nhằm nhận diện ngay các tổn thương cấp đe dọa tính mạng. Bước tiếp theo là hoàn tất đánh giá thứ cấp để xác định và xử trí các tổn thương khác. Đánh giá này rất quan trọng để đảm bảo phân loại thích hợp trong việc chuyển bệnh nhân đến phòng mổ, phòng chụp X quang hoặc ICU. Cần lưu ý: nếu tình trạng bệnh nhân diễn biến xấu hoặc thay đổi, phải quay trở lại đánh giá sơ cấp ban đầu và lặp lại toàn bộ quy trình.

Quá trình bệnh lý (tiền sử/bệnh sử)

Các thành phần thiết yếu trong khai thác bệnh sử bao gồm chi tiết cơ chế chấn thương, bệnh lý nội khoa trước đây, tiền sử phẫu thuật (ví dụ: hỏi về sẹo phẫu thuật), các thuốc đang dùng, dị ứng và chủng ngừa uốn ván.

Khám thực thể

  • Bệnh nhân cần được thăm khám toàn thân từ đầu đến chân.
  • Hộp sọ được kiểm tra cẩn thận để nhận diện các tổn thương tiềm ẩn. Dấu hiệu gãy xương sọ gồm chảy máu màng nhĩ, chảy nước mũi hoặc chảy nước tai; Dấu hiệu Battle (bầm tím ở da trên xương chũm – gợi ý nứt ở đáy hộp sọ); và đôi mắt gấu trúc. Sờ nắn xương mặt, hàm dưới và cổ để phát hiện đau và tiếng lạo xạo. Điểm GCS và khám thần kinh đã bị hạn chế trong đánh giá ban đầu được sử dụng để đánh giá chấn thương đầu (xem: FCCS hỗ trợ thần kinh ). Kiểm tra vận động mắt ra ngoài nhãn cầu để loại trừ mắc kẹt cơ hoặc dây thần kinh. Quan sát hai lỗ mũi để phát hiện máu và tụ máu vách ngăn.
  • Cổ được đánh giá tình trạng giãn(nổi căng) tĩnh mạch cổ, vị trí khí quản và tràn khí dưới da. Đau cổ hoặc đau khi ấn vùng cột sống cổ cần chụp X quang bổ sung (xem phần sau), CT hoặc chụp cộng hưởng từ.
  • Nghe (bằng ống nghe) và sờ ngực để phát hiện đau và tiếng lạo xạo.
  • Phối hợp xoay lật người bệnh (Log roll Technique) bộc lộ phần lưng để sờ nắn cột sống ngực và thắt lưng nhằm tìm điểm đau và có thể phát hiện thêm tổn thương khác.
  • Trong chấn thương xuyên thấu, cần loại trừ các vết thương vào/ra tiềm ẩn ở vùng nách, cổ hoặc bẹn. Điều này có thể yêu cầu lật người bệnh đầy đủ (Full log roll) lần 2 sang phía đối diện hoặc thực hiện quarter roll.
  • Khám bụng cũng được thực hiện tương tự: nghe (bằng ống nghe) và sờ nắn.
  • Xương chậu cần đánh giá độ ổn định bằng lực ép phía bên, lực ép trước-sau và chuyển động tịnh tiến nhẹ nhàng. Ở bệnh nhân tỉnh táo, nếu không có đau khi cử động mà không kèm vấn đề về đau khi dùng lực ép thì thường đủ để loại trừ gãy xương chậu đáng kể. Không nên thăm khám kiểm tra quá nhiều lần nhằm xác định độ ổn định vùng chậu vì có thể làm tổn thương thêm.
  • Trực tràng được đánh giá về trương lực và sự hiện diện/không có máu để đảm bảo tuyến tiền liệt không bị di lệch hoặc khó sờ thấy. Tụ máu tầng sinh môn (đáy chậu)/bìu và máu ở lỗ niệu đạo gợi ý khả năng tổn thương tiết niệu sinh dục, làm tăng nguy cơ khi đặt ống thông tiểu.
  • Các chi được khám, sờ nắn và đánh giá giới hạn vận động cũng như tính toàn vẹn của mạch máu – thần kinh.

Thăm dò xét nghiệm

  • Xét nghiệm tối thiểu bao gồm công thức máu, điện giải đồ, đường huyết, nồng độ cồn (alcohol) trong máu và sàng lọc độc chất.
  • Đo khí máu động mạch (ABG) cần được phân tích ở những bệnh nhân được chọn để xác nhận thông khí và tưới máu đầy đủ (có hiện tượng nhiễm toan).
  • Xét nghiệm đo độ đàn hồi cục máu Viscoelastic [TEG(đàn hồi cục máu đồ) hoặc ROTEM(động học cục máu đông)], nếu sẵn có, có thể mô tả rõ hơn rối loạn đông máu do chấn thương và cung cấp hướng dẫn về quy trình truyền máu số lượng lớn.
  • Ở bất kỳ bệnh nhân nào có bằng chứng giảm thể tích máu, cần làm nhóm máu và xét nghiệm đông máu.
  • Nồng độ amylase huyết thanh tăng cao có thể là dấu hiệu tổn thương tụy hoặc ruột ở bệnh nhân chấn thương bụng kín, mặc dù thường tăng sau vài giờ so với chấn thương ban đầu.
  • Cần kiểm tra và theo dõi creatinine phosphokinase (CK) nếu nghi ngờ tiêu cơ vân hoặc hội chứng khoang.
  • Hematocrit (HCT) có thể không phản ánh tình trạng thể tích cấp tính; sự cân bằng hồi sức đang diễn ra do dịch chuyển dịch xuyên mao mạch có thể cần hàng giờ mới phản ánh bằng giảm hematocrit. Nhìn chung, giảm hematocrit 3% tương đương với 1 đơn vị máu mất đi.
  • Đo nồng độ lactate huyết thanh và theo dõi để giám sát độ thanh thải có thể hỗ trợ quản lý và tiên lượng.

Đánh giá lại kết quả xét nghiệm sau hồi sức ban đầu. Giá trị tuyệt đối có thể không quan trọng bằng xu hướng.

Thăm dò chẩn đoán hình ảnh

a. Chung.
Trong đánh giá chấn thương kín đa hệ thống, thường chụp X quang ngực nằm ngửa và xương chậu nằm ngửa ở giai đoạn đánh giá sơ cấp. Điều này cho phép diễn giải các phim X quang đã hoàn thành khi bắt đầu đánh giá thứ cấp. Chụp X quang thường quy vùng chậu có vai trò quan trọng trong việc xác định sớm các vết gãy lớn và có thể cho phép cố định vùng chậu sớm để giúp giảm mất máu đang diễn ra.
b. Đầu.
CT là bắt buộc để đánh giá ban đầu bệnh nhân chấn thương đầu hoặc bất kỳ bệnh nhân nào có mức độ ý thức suy giảm hoặc thay đổi. Cần đặc biệt lưu ý ở những bệnh nhân có cơ chế chấn thương kín và đang sử dụng thuốc chống đông máu và/hoặc thuốc kháng kết tập tiểu cầu, đặc biệt ở người cao tuổi. Nhiều trung tâm cũng thực hiện CT cột sống cổ đồng thời khi chụp đầu.
c. Cột sống.
Chụp X quang cột sống cổ mặt bên ban đầu hiện nay chủ yếu đã bị thay thế trong chẩn đoán chấn thương cột sống cổ. Do nhiều vấn đề thường gặp trong việc thu được hình ảnh đầy đủ cột sống cổ, bao gồm khó quan sát phần cột sống giữa C7 và T1 và đánh giá không tối ưu đoạn chẩm, đa số trung tâm hiện nay sử dụng CT để đánh giá ở bất kỳ khu vực nào không được làm rõ về mặt lâm sàng hoặc có kết quả nghi ngại khi khám thực thể. Ở bệnh nhân thuộc nhóm nguy cơ cao chấn thương cột sống cổ, việc cố định cột sống cổ cần được duy trì cho đến khi các thăm dò hình ảnh được cân nhắc và đối chiếu với khám thực thể nhằm tìm bằng chứng đau khi khám một cách tin cậy. Tuy nhiên, bệnh nhân cần được nhanh chóng tháo khỏi tấm ván cứng cố định cột sống (rigid spine board) vì nguy cơ tổn thương do chèn ép lên da khi bất động kéo dài. Cộng hưởng từ rất hữu ích để đánh giá chấn thương đĩa đệm, tổn thương tủy sống và dây chằng. Nếu phát hiện gãy xương cột sống cổ, cần chỉ định chẩn đoán hình ảnh bằng tia X (X-quang/ CT) toàn bộ cột sống vì khoảng ~ 10% bệnh nhân này có thể bị gãy cột sống ở vị trí thứ hai, không liền kề. CT ngực và bụng có thể được tái tạo để cung cấp thông tin về tổn thương cột sống mà không cần chụp thêm X-quang hoặc làm tăng phơi nhiễm tia xạ.
Khám thần kinh đơn thuần không loại trừ chấn thương cột sống cổ. Các cân nhắc sau áp dụng cho bệnh nhân có nguy cơ chấn thương cột sống cổ:
  • Những bệnh nhân tỉnh táo, hợp tác, không có thay đổi tình trạng thần kinh hoặc đau cổ có thể xem như có cột sống cổ ổn định và không cần chụp X quang; đồng thời cần thận trọng trước các chấn thương đánh lạc hướng làm sai lệch đánh giá nguy cơ chấn thương cột sống cổ.
  • Chụp CT sớm có thể tạo điều kiện thuận lợi cho đánh giá cột sống cổ ở bất kỳ bệnh nhân nào chấn thương đầu hoặc đã đặt nội khí quản; do đó, thêm đánh giá CT của cột sống cổ vào lần chụp CT đầu ban đầu là chiến lược phù hợp sau chấn thương.
  • Sự hiện diện của liệt hai chân hoặc liệt tứ chi là dấu hiệu gợi ý mất ổn định cột sống.
  • Bệnh nhân có tổn thương thần kinh nghi ngờ là hệ quả của chấn thương cột sống cổ cần được hội chẩn phẫu thuật cột sống.
  • Loại trừ tổn thương xương không đồng nghĩa loại trừ tổn thương dây chằng; MRI có thể giúp loại bỏ tổn thương dây chằng nếu thăm khám không đáng tin cậy.
d. Ngực.
Một khi cột sống đã được làm rõ tình trạng gãy xương, chụp X-quang ngực tư thế thẳng đứng (hoặc Trendelenburg đảo ngược) được chỉ định để xác định hoặc đánh giá tốt hơn tràn khí màng phổi, tràn máu màng phổi, trung thất giãn rộng hoặc bất thường (lo ngại tổn thương động mạch chủ) hoặc gãy xương, đồng thời để xác nhận vị trí các ống khác nhau (ví dụ: nội khí quản). X-quang ngực không đủ để loại trừ tổn thương động mạch chủ. Nếu gặp cơ chế va chạm phần bên hoặc giảm tốc đáng kể, cần nghi ngờ tổn thương động mạch chủ khi X-quang ngực cho thấy trung thất giãn rộng. CT mạch máu cung cấp phương pháp tuyệt vời để sàng lọc tổn thương động mạch chủ và đánh giá các tổn thương lồng ngực khác. Việc sử dụng CT đã thay thế phần lớn phương pháp chụp động mạch truyền thống trong chẩn đoán ban đầu tổn thương động mạch chủ ngực.
Tràn khí màng phổi dai dẳng (kéo dài) dù ống ngực vẫn hoạt động hoặc mất khí (dẫn lưu ra) kéo dài qua hệ thống ống dẫn lưu ngực có thể là dấu hiệu tổn thương khí phế quản.
e. Bụng.
Chụp X quang bụng thẳng trong chấn thương bụng kín thường không hữu ích. Ở bệnh nhân huyết động ổn định, CT bụng và xương chậu cùng với thăm khám FAST (siêu âm có trọng điểm trong chấn thương) là trụ cột chính để đánh giá bụng. FAST có thể được theo sau bằng CT bụng nếu xác định được dịch tự do trong phúc mạc ở bệnh nhân ổn định. DPL vẫn có thể được áp dụng trong một số trường hợp nhất định nhưng nhìn chung đã được thay thế bởi CT và FAST.
Ống thông mũi dạ dày giúp giải áp dạ dày và có thể giảm nguy cơ hít sặc; tuy nhiên, nên đặt bằng đường miệng ở những bệnh nhân có gãy xương vùng giữa mặt hoặc có thể gãy xương nền sọ. Máu trong dịch hút dạ dày có thể chỉ dấu một tổn thương tiềm ẩn ở dạ dày hoặc tá tràng và có thể cần thăm dò thêm.
f. Đường tiết niệu sinh dục.
Tiểu rau máu cần được đánh giá bằng CT hoặc các thăm dò với thuốc cản quang khác. Thăm dò này cung cấp chi tiết giải phẫu về các cấu trúc bụng và sau phúc mạc cũng như bất kỳ tổn thương trực tiếp nào đối với thận. Nếu khám thực thể gợi ý có tổn thương niệu đạo, nên chụp niệu đạo trước khi đặt ống thông tiểu. Chụp bàng quang được chỉ định nếu nghi ngờ tổn thương bàng quang. Chụp X quang bể thận qua viêm tiêm thuốc cản quang qua đường tĩnh mạch (IVU hoặc IVP) không có giá trị quá cao trong đánh giá ban đầu.
g. Gãy xương.
Phim chụp các chi (mặt trước-sau và mặt bên) phải thực hiện dựa trên khám thực thể hoặc than phiền của bệnh nhân. Phim chụp cần bao gồm khớp trên và khớp dưới vị trí gãy xương. Ưu tiên đánh giá các chấn thương vùng đầu và trung tâm. Ở bệnh nhân ổn định không có dấu hiệu tổn thương mạch máu thứ phát do tổn thương xương, nên trì hoãn chụp X quang chi để tránh làm chậm trễ thực hiện CT.

Các vấn đề khác

Kháng sinh toàn thân thường không dùng cho đến khi xác định được chỉ định cụ thể; tuy nhiên, có ba trường hợp được sử dụng kháng sinh: (1) bệnh nhân được theo dõi áp lực nội sọ hoặc đặt ống dẫn lưu ngực thường được dùng kháng sinh bao phủ vi khuẩn gram dương khi lắp đặt thiết bị; (2) bệnh nhân bị chấn thương thấu bụng có thể được dùng kháng sinh bao phủ vi khuẩn hiếu khí và kỵ khí gram âm trong 24 giờ đầu sau chấn thương; và (3) bệnh nhân bị gãy xương hở mức độ nhẹ được dùng kháng sinh bao phủ gram dương trong 24 giờ, trong khi gãy xương hở mức độ nặng cần kháng sinh bao phủ phổ rộng trong 48 giờ khi được sắp xếp đánh giá chấn thương chỉnh hình.

Hãy nhớ hội chẩn sớm các chuyên khoa để họ có thể cung cấp khuyến nghị đầu vào cho quyết định điều trị.

Một vấn đề quan trọng khác là nhu cầu dự phòng uốn ván đầy đủ ở bệnh nhân có vết thương hở. Tình trạng tiêm chủng hiện tại của bệnh nhân cần được xác minh và cập nhật nếu cần. Ở bệnh nhân tình trạng tiêm chủng không rõ ràng hoặc đặc biệt ở những vết thương dễ nhiễm uốn ván, nên cân nhắc sử dụng globulin miễn dịch (huyết thanh kháng uốn ván) uốn ván (Bảng 3).
Bảng 3. Hướng dẫn dự phòng uốn ván trong quản lý vết thương thường quy (a)
Tiền sử tiêm phòng uốn ván Vết thương nhỏ sạch
(Không dễ bị nhiễm Uốn ván (b) )
Tất cả các vết thương khác (b)
(Dễ bị nhiễm Uốn ván (c) )
Tdap hoặc Td (b) TIG (d) Tdap hoặc Td (b) TIG (d)
Không biết hoặc < 3 liều Không
≥ 3 liều (e) Không (f) Không Không (g) Không
Các từ viết tắt:
  • Tdap: giải độc tố uốn ván, giảm giải độc tố bạch hầu, vắc xin ho gà vô bào.
  • Td: giải độc tố uốn ván và giảm giải độc tố bạch hầu - dành cho người lớn (liều = 0,5 mL);
  • TIG: globulin miễn dịch uốn ván (huyết thanh kháng uốn ván) - người (liều 250 IU).
  • (a) Những bệnh nhân đã hoàn thành đợt tiêm chủng cơ bản 3 liều vắc xin uốn ván và đã nhận vắc xin chứa giải độc uốn ván <5 năm trước khi bị thương không cần tiêm vắc xin chứa giải độc tố uốn ván để quản lý vết thương.
  • (b) Trẻ em <7 tuổi – khuyến cáo Tdap; nếu vắc xin ho gà bị chống chỉ định thì tiêm Td. Trẻ em 7-9 tuổi hoặc người lớn >65 tuổi = Td được khuyến cáo. Trẻ em và người lớn 10-64 tuổi = Tdap được ưu tiên hơn Td nếu bệnh nhân chưa bao giờ tiêm Tdap và không có chống chỉ định với vắc xin ho gà. Đối với bệnh nhân > 7 tuổi, nếu Tdap không có sẵn hoặc không được chỉ định do tuổi tác, Td được ưu tiên hơn để giải độc uốn ván.
  • (c) Chẳng hạn như (nhưng không giới hạn) những vết thương bị nhiễm bẩn, phân, đất và nước bọt; vết thương đâm thủng; rách rời; và các vết thương do vật thể bay với vận tốc cao gây xuyên thủng (ví dụ: đạn), bỏng nát và tê cóng
  • (d) Nên sử dụng thuốc kháng độc tố uốn ván từ ngựa (Ví dụ: SAT) khi không có sẵn TIG.
  • (e) Nếu chỉ nhận được ba liều chất giải độc dạng dịch lỏng, thì nên tiêm liều thứ tư = tốt nhất là giải độc hấp phụ. Mặc dù đã được cấp phép nhưng giải độc uốn ván dạng dịch lỏng hiếm khi được sử dụng.
  • (f) Có, nếu ≥10 năm kể từ liều chứa giải độc tố uốn ván cuối cùng.
  • (g) Có, nếu ≥5 năm kể từ liều chứa giải độc tố uốn ván cuối cùng; không cần dùng thuốc tăng cường thường xuyên hơn và có thể làm tăng thêm các tác dụng phụ.

Bệnh nhân nữ trong độ tuổi sinh đẻ nên được hỏi về khả năng mang thai hoặc được kiểm tra bằng xét nghiệm β-HCG trước khi thực hiện đánh giá X quang mở rộng trừ khi có sự mất ổn định đáng kể về huyết động. Ưu tiên hàng đầu với bệnh nhân mang thai không ổn định luôn là hồi sức và ổn định cho mẹ. Bất kỳ phụ nữ nào trong tam cá nguyệt thứ hai hoặc thứ ba nên được đặt một cái nêm (gối, chăn gấp) dưới lưng để nâng cao bên phải, tránh đè ép tĩnh mạch chủ dưới. Điều này chỉ được thực hiện sau khi thăm khám kiểm tra cột sống và xương chậu không phát hiện bất kỳ cảm giác đau hoặc đau khi ấn nào – dấu hiệu có thể gợi ý gãy xương. Hãy nhớ rằng chăm sóc tối ưu cho người mẹ sẽ mang lại chăm sóc tối ưu cho thai nhi. Cân nhắc hội chẩn sản khoa ( FCCS: chăm sóc đặc biệt trong thai kỳ ).
Theo dõi tiếp ca lâm sàng: Một phụ nữ 22 tuổi đến khoa cấp cứu với vết thương do đạn bắn ở đùi phải. Cô bị gãy thân xương đùi và rách động mạch đùi nông. Ban đầu, cô trải qua cố định ngoài phần gãy xương đùi và tái tạo động mạch đùi bằng phương pháp ghép tĩnh mạch đối bên. Việc cố định chắc chắn được thực hiện bằng đinh nội tủy.

Đánh giá lần ba: Đánh giá liên tục

Một thanh niên 18 tuổi nằm trong phòng ICU sau khi bị vết thương do đạn bắn vào ngực trái đi qua cơ hoành, thùy trái của gan và lá lách. Trong phòng phẫu thuật, anh đã được sửa chữa cơ hoành trái sau khi xác nhận không còn chảy máu từ khoang ngực, sửa chữa thùy gan trái và cắt lách. Lượng nước tiểu ban đầu đủ cùng với huyết áp; tuy nhiên, nó giảm dần cùng với thoát máu tăng lên qua ống thông mũi dạ dày. Xét nghiệm độ đàn hồi cục máu viscoelastic thu được trước khi giảm cho thấy không có bất thường.
  • Nguyên nhân có thể gây chảy máu là gì?
  • Bước đầu tiên trong hồi sức nên làm gì là thích hợp nhất?
Sau khi các tổn thương đe dọa tính mạng và đe dọa tứ chi đã được xử trí, cùng với việc khắc phục các rối loạn chuyển hóa, cần thực hiện đánh giá có hệ thống định kỳ nhằm phát hiện các tổn thương tiềm ẩn mà trong giai đoạn tiếp cận ban đầu có thể chưa rõ. Đồng thời nhân viên y tế cần sẵn sàng quay lại giai đoạn hồi sức và/hoặc quay lại hồi sức khi tình trạng diễn biến thay đổi. Trong giai đoạn đầu điều trị, các thay đổi này không được xem là thất bại hay “đã làm sai điều gì đó”. Kiểu suy nghĩ/đánh giá này luôn gây chậm trễ và làm tăng nguy cơ kết cục bất lợi.

Khi có thay đổi tiêu cực, cần quay lại đánh giá sơ cấp và thứ cấp để tạo khung tư duy giúp tổ chức quá trình xử trí tích cực.

Việc sử dụng atropine hoặc dopamine, cũng như các thuốc giãn đồng tử, có thể làm giãn đồng tử và dẫn đến chẩn đoán sai về một chấn thương đầu nghiêm trọng hơn.

Chấn thương đầu

Đánh giá bệnh nhân chấn thương đầu là quá trình liên tục và cần hội chẩn phẫu thuật thần kinh sớm. Việc đánh giá tuần tự định kỳ điểm GCS, kích thước và phản xạ đồng tử cùng với sự hiện diện/không hiện diện các dấu hiệu thần kinh lệch sang một bên rất quan trọng. Mọi thay đổi ở kết quả khám cần được ghi nhận và xử trí ngay khi được phát hiện. Thông thường, mọi thay đổi khiến khám thần kinh trở nên xấu đi đều cần thực hiện lại CT đầu.
Chụp CT đầu theo định kỳ có thể cung cấp thông tin lâm sàng hữu ích, tuy nhiên chìa khóa để quản lý bệnh nhân là phát hiện các thay đổi trên khám thực thể. Chụp CT đầu theo lịch lặp lại không phải hiếm ở bệnh nhân dùng thuốc làm loãng máu như warfarin hoặc thuốc chống đông đường uống có tác dụng trực tiếp (DOAC). Tiếp tục hồi sức là bắt buộc nhằm tránh tổn thương não thứ phát, thường xảy ra khi bệnh nhân bị thiếu oxy hoặc hạ huyết áp trong giai đoạn chăm sóc cấp tính. Các tổn thương thứ phát này làm tăng nguy cơ dẫn đến kết cục xấu (xem thêm: FCCS: Hỗ trợ thần kinh ).

Chấn thương phổi

Bệnh nhân chấn thương thường có dạ dày đầy vào thời điểm bị tai nạn và có nguy cơ hít sặc. Hít phải chất axit từ dạ dày ban đầu có thể gây viêm phổi do hóa chất và thường dẫn đến viêm phổi nhiễm trùng hoặc hội chứng suy hô hấp cấp tính (ARDS). Trong quản lý ban đầu, kháng sinh không được chỉ định. Việc dùng kháng sinh sớm cũng có thể làm bệnh nhân dễ bị nhiễm các sinh vật kháng thuốc. Có thể cần nội soi phế quản để loại bỏ các chất dạng hạt lớn.
Tràn khí màng phổi hoặc tràn máu màng phổi khởi phát muộn có thể xảy ra sau chấn thương ngực. Ngoài ra, dập phổi và phát triển ARDS có thể không biểu hiện rõ ràng cho đến sau (12 đến 48 giờ). Đánh giá liên tục bao gồm khám thực thể, đo độ bão hòa oxy xung mạch (SpO 2) và/hoặc khí máu động mạch, chụp X quang ngực và thở máy.

Chấn thương tim

Theo dõi ECG liên tục và đo huyết áp thường xuyên là bắt buộc tại khoa Cấp Cứu và ICU. Có thể chỉ định theo dõi huyết áp động mạch liên tục (xem thêm: FCCS: theo dõi cân bằng oxy và tình trạng toan kiềm ). Rối loạn điện giải có thể dẫn đến rối loạn chức năng co bóp cơ tim hoặc rối loạn nhịp tim ở bệnh nhân được hồi sức tích cực. Các rối loạn điện giải thường gặp gồm tăng clo máu, hạ kali máu và tăng kali máu, hạ magie máu và hạ canxi máu.

Chấn thương bụng

Lạm dụng chất gây nghiện hoặc tổn thương thần kinh có thể không cho phép khám bụng ban đầu đáng tin cậy. Thủng tạng rỗng trong chấn thương bụng kín đôi khi khó chẩn đoán. Khí tự do dưới cơ hoành trên phim X quang ngực thẳng đứng, khí tự do trên gan trên phim X quang tư thế nằm nghiêng bên trái hoặc trên CT bụng cho thấy cần phải phẫu thuật thăm dò. CT cũng cung cấp thông tin về khoang sau phúc mạc. Ở bệnh nhân đang được chụp CT đầu vì chấn thương đầu và có tổn thương thần kinh không cần phẫu thuật, cần xem xét chụp bụng vì khám thực thể có thể không đáng tin cậy. Tuy nhiên, cần thận trọng khi diễn giải hình ảnh CT đối với tổn thương tạng rỗng; kết quả quét âm tính không loại trừ hoàn toàn khả năng có tổn thương tiềm ẩn.
Một tình trạng chưa được chẩn đoán là hội chứng khoang bụng. Tình trạng này xảy ra khi áp lực trong ổ bụng tăng lên do xuất huyết trong phúc mạc hoặc sau phúc mạc, tích tụ dịch báng, phù thứ phát do hồi sức bằng lượng dịch lớn hoặc đóng bụng trong phẫu thuật trong khi đang căng. Tăng áp lực trong ổ bụng (IAP) làm giảm cung lượng tim và chèn ép giường mạch máu cùng thận. Cơ hoành bị dịch chuyển lên trên do tăng áp lực ổ bụng dẫn đến giảm thể tích và độ giãn nở của lồng ngực. Thể tích giảm trong khoang màng phổi làm xu hướng xẹp phổi tăng lên; với bệnh nhân thở máy có tăng áp lực trong ổ bụng cần tăng áp lực đường thở để cung cấp thể tích khí lưu thông (Vt) cố định. Đè nén mạch máu có thể làm giảm lưu lượng máu đến gan và thận gây rối loạn chức năng. Cuối cùng, tăng áp lực ổ bụng làm tăng đáng kể áp lực nội sọ (xem thêm: FCCS: Các cân nhắc đặc biệt - tăng áp lực ổ bụng và hội chứng khoang bụng ). Thông thường, tăng huyết áp vùng bụng biểu hiện bằng lượng nước tiểu giảm, áp lực đỉnh đường thở (Ppeak) tăng, hạ huyết áp và bụng căng.

Chấn thương cơ xương khớp

Đánh giá thần kinh và mạch máu của các chi là quá trình liên tục. Sự sưng lên và căng cứng chi cần theo dõi sát để phát hiện sớm hội chứng khoang, đặc biệt ở bệnh nhân có khả năng đáp ứng kém (suy giảm thần kinh). Ở bệnh nhân tỉnh táo, khám thực thể tuần tự định kỳ là phương pháp theo dõi tốt nhất. Các dấu hiệu kinh điển gồm đau, xanh xao, mất mạch, dị cảm và/hoặc liệt. Dấu hiệu sớm hữu ích nhất là các báo cáo về đau không tương xứng với biểu hiện thực thể và cơn đau dữ dội khi duỗi ra thụ động ở các nhóm cơ liên quan. Ở bệnh nhân bất tỉnh hoặc khi thăm khám không đáng tin cậy, áp lực khoang có thể theo dõi bằng cách sử dụng kim có đầu dò áp lực. Áp lực > 30 mm Hg cho phép cân nhắc phẫu thuật cắt cân mạc.

Trong hội chứng khoang, cần cắt cân mạc khẩn cấp; mất mạch là dấu hiệu rất muộn.

Khám cơ xương khớp cần được lặp lại khi bệnh nhân hồi phục sau các chấn thương khác hoặc khi trạng thái tinh thần ổn định hơn để nhận diện đau hoặc cảm giác đau khi ấn mới. Sau đó, cần chụp X quang thông thường để xác định các gãy xương tiềm ẩn. Các chấn thương chỉnh hình thường được phát hiện muộn bao gồm gãy xương bả vai, gãy cột sống ngực và thắt lưng, gãy xương chậu, mắt cá chân và cổ tay.
Hội chứng vùi lấp (Crash syndrome, hay hội chứng tiêu cơ vân cấp) hội chứng tiêu cơ vân cấp cần được xem xét khi bệnh nhân bị mắc kẹt, có liên quan tổn thương khối cơ lớn, tình trạng chèn ép kéo dài do bất động kéo dài hoặc tổn thương mạch máu (chẳng hạn như sử dụng dây garô hoặc hội chứng khoang). Hội chứng vùi lấp hình thành khi tế bào cơ bị tổn thương ly giải, giải phóng myoglobin, kali, phốt pho và canxi. Biểu hiện gồm rối loạn nhịp tim, suy thận, nhiễm toan chuyển hóa và giảm thể tích máu. Ưu tiên bù nước trước khi tái tưới máu khối cơ bị vùi lấp thường được thực hiện hoàn tất trước khi đến bệnh viện. Tái thông mạch máu các chi thiếu máu cục bộ, cắt cân mạc đối với hội chứng khoang hoặc giải phóng garô có thể diễn tiến theo tình huống tương tự. Trước khi tái tưới máu, nên truyền nước muối sinh lý (1 đến 2 L dạng bolus hoặc 10–15 mL/kg/h). Cần theo dõi cẩn thận dấu hiệu tăng kali máu ở tim. Sau khi tái tưới máu, bù nước tích cực để duy trì lượng nước tiểu trên 3 đến 4 mL/kg/h giúp ngăn ngừa tổn thương thận liên quan đến sắc tố heme. Các thuốc bổ trợ như bicarbonate và mannitol đã được sử dụng.
Việc sử dụng garô ở chi ngày càng thường xuyên hơn tại hiện trường. Cần lưu ý thời gian đặt dây garô và liệu việc thắt garô có thực sự hiệu quả hay không. Cần chú ý tình trạng các chi nếu thời gian thắt garô hiệu quả vượt quá 90 đến 120 phút vì làm tăng nguy cơ biến chứng như hội chứng khoang, tiêu cơ vân, tổn thương do tái tưới máu và tổn thương thần kinh.

Các xem xét khác

Hồi sức là một quá trình liên tục. Các điểm cuối truyền thống, như bình thường hóa huyết áp, nhịp tim và lượng nước tiểu, không phải lúc nào cũng phản ánh sự điều chỉnh hoàn toàn tình trạng sốc. Việc đạt các dấu hiệu sinh tồn bình thường có thể xảy ra ngay cả khi vẫn giảm tưới máu mô, dẫn đến trạng thái sốc được đáp ứng bù trừ. Nồng độ lactate và giải quyết nhiễm toan chuyển hóa có thể cung cấp kết quả rõ ràng hơn về điểm cuối của hồi sức đầy đủ. Vì thời gian để bình thường hóa các thông số này có tính chất dự đoán khả năng sống sót, nên hồi sức bổ sung dưới dạng bù dịch, truyền chế phẩm máu hoặc hỗ trợ thuốc vận mạch có thể được chỉ định trong vòng 24 giờ đầu sau chấn thương ngay cả khi dấu hiệu sinh tồn bình thường hoặc gần bình thường. Nhiễm toan chuyển hóa dai dẳng hoặc lactate tăng cao có thể là dấu hiệu sớm của biến chứng, bao gồm xuất huyết đang diễn ra hoặc hội chứng khoang bụng.
Phẫu thuật kiểm soát tổn thương (viết tắt là kiểm soát chảy máu và khử nhiễm các tạng rỗng bị vỡ với sự thoát dịch) có thể cần thiết trong 24 đến 48 giờ đầu tiên trước khi thực hiện phẫu thuật dứt điểm. Nhiều bệnh nhân chấn thương được hưởng lợi từ trì hoãn phẫu thuật dứt điểm, đặc biệt là sửa chữa các gãy xương, trong giai đoạn này khi đang tiến hành ổn định. Quyết định phẫu thuật nên được đưa ra sau khi hội chẩn thích hợp với chuyên khoa phẫu thuật chính, bác sĩ hồi sức tích cực và các chuyên gia khác theo chỉ định.
Trong giai đoạn hồi sức cần ngay lập tức, đánh giá lại định kỳ có vai trò quan trọng. Khi bệnh nhân đã ổn định, cần đánh giá lại tất cả vị trí đường truyền tĩnh mạch. Do không thể luôn thực hiện các biện pháp vô trùng đầy đủ để ngăn nhiễm trùng liên quan đến đường truyền trong quá trình đặt đường truyền cấp cứu, nhiều đường truyền có thể cần thay thế. Nếu đặt đường truyền tĩnh mạch trung tâm không còn được chỉ định thì nên ngừng sử dụng.

Một số bệnh nhân có thể hưởng lợi khi trải qua các thủ thuật giúp ổn định như rửa sạch, cắt lọc và đặt cố định ngoài đối với các gãy hở, sau đó thực hiện sửa chữa dứt điểm được trì hoãn.

Theo dõi ca bệnh: Một thanh niên 18 tuổi nằm trong ICU sau khi bị vết thương do đạn bắn vào ngực trái đi qua cơ hoành, thùy trái của gan và lá lách. Anh đã được hồi sức cầm máu bao gồm hồng cầu đặc, huyết tương tươi đông lạnh và truyền tiểu cầu. Lượng nước tiểu được cải thiện cũng như dẫn lưu qua mũi dạ dày.

TỔN THƯƠNG DO BỎNG: ĐÁNH GIÁ VÀ ỔN ĐỊNH BAN ĐẦU

Ca lâm sàng: Một phụ nữ 56 tuổi được chuyển đến khoa cấp cứu sau tai nạn cháy nhà kèm nổ. Bệnh nhân được phát hiện ở bên ngoài nhà, tỉnh táo, có khả năng đáp ứng và mô tả đau bụng. Khám ghi nhận phồng rộp ở má, bồ hóng(bụi than) quanh mũi và phồng rộp ở cả hai bên cẳng tay và vùng ngực. Bạn được yêu cầu hỗ trợ quá trình chăm sóc ban đầu tại khoa cấp cứu.
  • Nguyên tắc ưu tiên đánh giá ban đầu là gì?
  • Yếu tố nguy cơ nguy hiểm nhất đối với bệnh nhân này là gì?

Tổng quan

Tổn thương do bỏng là một nguyên nhân đáng kể gây bệnh tật và tử vong. Gần nửa triệu trường hợp bỏng xảy ra mỗi năm, trong đó có khoảng 40.000 ca cần nhập viện. Tử vong do bỏng xảy ra với tần suất cao nhất do cháy khu dân cư kèm hít phải khói. Tương tự nhiều dạng chấn thương khác, bỏng có xu hướng gặp ở cả người trẻ lẫn người già. Ở trẻ em, bỏng nước là dạng thương tích thường gặp nhất; ngược lại, ở người lớn tại nơi làm việc, tổn thương do điện và do hóa chất chiếm ưu thế. Năm 1975, tỷ lệ tử vong khoảng 25% ở bệnh nhân bỏng nặng; hiện nay, nhờ các cải tiến trong chăm sóc bỏng, tỷ lệ tử vong giảm còn khoảng 4%. Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ tử vong do bỏng bao gồm kích thước tổn thương da, tuổi bệnh nhân và sự hiện diện hoặc vắng mặt của tổn thương do hít phải. Tổn thương bỏng không nên làm nhân viên y tế mất tập trung vào việc tìm kiếm các tổn thương khác có thể xảy ra do chấn thương kèm theo. Việc đánh giá và điều trị ban đầu ở bệnh nhân bỏng nghiêm trọng nên tuân theo quy trình tương tự như trong chấn thương, gồm đánh giá sơ cấp và đánh giá thứ cấp.

Đường thở (Airway)/ hô hấp (Breathing)

Việc đánh giá ban đầu về đường thở được hướng dẫn bởi phần bệnh sử của chấn thương. Những bệnh nhân có nguy cơ cao nhất bị tổn thương do hít phải khói thường có bệnh sử ở trong không gian kín nơi có lửa và khói. Khi thời gian tiếp xúc tăng, nguy cơ tổn thương cũng gia tăng. Tổn thương do hít phải khói có thể được mô tả theo ba cơ chế: (1) tổn thương do hạt(ví dụ: bụi bẩn), (2) tổn thương do sản phẩm phụ độc hại sinh ra trong quá trình đốt cháy, và (3) tổn thương do nhiệt tác động trực tiếp. Các hạt hiện diện trong bồ hóng(bụi than) và khói của đám cháy là nguyên nhân gây tổn thương đường thở phản ứng và có thể dẫn đến co thắt phế quản. Chất độc có thể tác động gây độc tế bào trực tiếp lên mô phế nang, hoặc ảnh hưởng đến con đường tạo năng lượng trong tế bào, hoặc liên kết với huyết sắc tố(hemoglobin) làm giảm lượng oxy sẵn có để sử dụng ở mức nội bào. Tổn thương do nhiệt trực tiếp có thể gây tổn thương miệng, mũi và đường hô hấp trên kèm sưng tấy đường thở.
Tổn thương do hít phải, là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong do bỏng, thường được chẩn đoán dựa trên sự phối hợp giữa các dấu hiệu và triệu chứng lâm sàng, và được xác nhận bằng nội soi phế quản. Các dấu hiệu lâm sàng bao gồm bỏng mặt, niêm mạc miệng khô, cháy sém mũi, có bồ hóng(bụi than) trong đường miệng và mũi, cùng với các biểu hiện phản ứng trầm trọng của đường thở. Các dấu hiệu trên nội soi phế quản gồm phù nề niêm mạc, loét, bong tróc và nút nhầy. X quang ngực thường bình thường khi nhập viện, và thiếu oxy máu thường bị đánh giá thấp. Các thăm dò chẩn đoán bổ sung cần cân nhắc bao gồm khí máu động mạch định kỳ theo chuỗi, tốc độ dòng đỉnh thở ra, đo độ bão hòa oxy xung mạch(SpO 2 ), CO 2 cuối thì thở ra(EtCO 2 ), lactate huyết thanh và carboxyhemoglobin (COHb).

Trong điều kiện thở khí phòng, thời gian bán hủy của carbon monoxide(CO) khi gắn với hemoglobin là 3 đến 4 giờ; khi thở 100% oxy, thời gian bán thải giảm còn 30 đến 90 phút.

Ba giai đoạn của tổn thương do hít đã được xác định:
  1. Tình trạng giảm oxy máu cấp tính kèm ngạt thở thường xuất hiện tại hiện trường vụ cháy.
  2. Phù đường hô hấp trên và phổi có thể tiến triển trong vài giờ đầu đến vài ngày sau chấn thương.
  3. Các biến chứng nhiễm trùng liên quan đến tiếp xúc nhiệt và chất kích thích hóa học có thể xuất hiện muộn hơn (ví dụ: viêm phổi).
Điều trị tổn thương do hít có thể bao gồm bổ sung oxy và thuốc giãn phế quản. Nếu nghi ngờ tiếp xúc với carbon monoxide(CO) , cần cung cấp oxy 100%. Nên đặt nội khí quản sớm, đặc biệt khi bệnh nhân dự kiến chuyển viện, vì tổn thương phổi và thanh quản có thể tiến triển nhanh chóng dù đánh giá đường thở ban đầu tạm chấp nhận được. Làm ẩm khí hít vào giúp kiểm soát bài tiết và giảm tổn thương do mất ẩm(khô) ở đường thở. Ở những bệnh nhân có khả năng bị tổn thương do hít trong không gian kín, cần cân nhắc khả năng nhiễm độc Cyanua , chỉ định dùng chất tạo methemoglobin (ví dụ: amyl nitrat, cyanocobalamin).

Tuần hoàn (Circulation)

Bệnh nhân bị bỏng lớn hơn (> 20% tổng diện tích bề mặt cơ thể [TBSA]) có nguy cơ bị sốc bỏng. Tình trạng này là kết quả của hội chứng rò rỉ mao mạch lan tỏa do giải phóng các cytokine, interleukin và các amin vận mạch, dẫn đến thoát dịch vào khoang thứ ba(dịch từ tuần hoàn máu vào khoảng kẽ giữa các tế bào trong cơ quan và mô). Sự kết hợp giữa giảm thể tích tuần hoàn do mất nước từ diện tích bề mặt bị bỏng và phù khoảng kẽ có thể dẫn tới tụt huyết áp hệ thống. Cần tiến hành hồi sức theo khuyến cáo của Hiệp hội Bỏng Hoa Kỳ(sẽ thảo luận sau) vì phương pháp này cho phép truyền một lượng lớn dịch trong thời gian kéo dài. Nên đặt ống thông tĩnh mạch ngoại vi có khẩu kính lớn(qua vết bỏng nếu cần thiết). Dung dịch hồi sức ưu tiên là dung dịch Ringer lactat. Không nên trì hoãn hoặc ngừng hồi sức nội mạch, đặc biệt ở bệnh nhân có tổn thương do hít, vì sự chậm trễ làm tăng nhu cầu dịch hồi sức.

Đánh giá tổn thương

Chiến lược đánh giá ban đầu tương tự cách tiếp cận trong chấn thương. Tiến hành đánh giá sơ bộ ban đầu(ABCDE), sau đó kiểm tra từ đầu đến chân. Tất cả quần áo không kết dính phải được cởi bỏ để xác định kích thước vết bỏng; đồng thời cần che phủ bệnh nhân bằng chăn vì nhiệt bị mất nhanh chóng. Tùy thuộc vào bệnh sử, bệnh nhân có thể có các chấn thương khác và cần được đánh giá chấn thương theo các hướng dẫn đã nêu.

Độ sâu của bỏng

Về mặt kinh điển, độ sâu bỏng được phân loại thành 3 độ. Tuy nhiên, một số mô tả tổn thương có thể lên tới 6 độ tùy thuộc vào mức độ liên quan của mô dưới da, cơ và nền xương. Trong phạm vi chuyên đề này, phân loại vết bỏng được sử dụng theo 4 mức độ như sau:
  1. Bề mặt (độ I): ban đỏ, đau đớn
  2. Độ dày một phần (độ II)
    • Bề mặt: đau, hồng, phù nề và phồng rộp
    • Sâu: đỏ hoặc lốm đốm đỏ và trắng, cảm giác kim châm được coi là áp lực thay vì đau, kèm hoặc không kèm mụn nước
  3. Độ dày toàn bộ (độ III): trắng, như da, không đau
  4. Độ IV: tổn thương toàn bộ các lớp da, mỡ, cơ và xương
Tổn thương toàn bộ và sâu hơn (độ III-IV) thường cần can thiệp bằng phẫu thuật.

Diện tích bỏng (Quy tắc số 9)

Quy tắc số 9 thường được dùng để ước tính diện tích bề mặt bị bỏng ( Hình 2 ). Theo quy tắc này, đầu và chi trên chiếm 9% tổng diện tích bề mặt cơ thể(TBSA). Thân trước, thân sau và chi dưới mỗi phần chiếm 18%, và đáy chậu chiếm 1% TBSA.
Hình 2. Quy tắc số 9 tính diện tích bỏng

Tính diện tích bỏng theo quy tắc số 9
Bỏng chiếm hết 1 khu vực Diện tích bỏng (%)
Đầu và cổ Toàn bộ 9
1 mặt trước hoặc sau đầu cổ 4.5
Riêng 1 mặt trước hoặc sau cổ 1
Tay Toàn bộ 1 tay 9
1 mặt trước hoặc sau 1 tay 4.5
Thân mình Toàn bộ 36
1 mặt trước hoặc sau(gồm cả mông) 18
Chân Toàn bộ 1 chân 18
1 mặt trước hoặc sau 1 chân 9
Đáy chậu (bộ phận sinh dục và quanh hậu môn) 1

Ở trẻ em, tỷ lệ kích thước đầu lớn hơn, do đó diện tích các phần cơ thể khác giảm tương đối. Ngoài ra, lòng bàn tay của bệnh nhân, tương ứng khoảng 1% TBSA, có thể được dùng để ước tính kích thước của vết bỏng nhỏ hoặc có hình dạng không đều. Một công cụ thường được sử dụng để ước tính TBSA ở trẻ dưới 15 tuổi là Biểu đồ Lund-Browder ( Hình 3 ).
Hình 3. Biểu đồ Lund-Browder

Tính diện tích bỏng theo biểu đồ Lund-Browder
Khu vực
(không phụ thuộc tuổi)
Diện tích
(%)
Cổ 1
Mặt trước hoặc sau 1 cánh tay 2
Mặt trước hoặc sau 1 cẳng tay 1.5
Mặt trước hoặc sau 1 bàn tay 1.5
Mặt trước hoặc sau thân mình(không gồm mông) 13
1 mông 2.5
Mặt trước(mu) hoặc sau (lòng và gót) chân 1.75
Vùng đáy chậu (bộ phận sinh dục và quanh hậu môn) 1
Các khu vực thay đổi theo tuổi. A,B,C tương ứng với 1 mặt trước hoặc sau
Tỷ lệ % tương đối diện tích bề mặt cơ thể bị ảnh hưởng bởi độ tuổi
< 1 1 5 10 15 Người lớn
A đầu (1 mặt trước hoặc sau)
9.5 8.5 6.5 5.5 4.5 3.5
B đùi (1 mặt trước hoặc sau)
2.75 3.25 4 4.25 4.5 4.75
C cẳng chân (1 mặt trước hoặc sau)
2.5 2.5 2.75 3 3.25 3.5
Biểu đồ Lund-Browder là phương pháp chính xác nhất để ước tính mức độ bỏng và phải được sử dụng khi đánh giá bệnh nhân nhi < 15 tuổi.

Hồi sức

Sốc bỏng thường khởi phát trong 24 đến 48 giờ đầu tiên, đặc trưng bởi giảm thể tích máu nặng, bao gồm cả thành phần kẽ và nội bào. Tăng tính thấm mao mạch là một cấu phần quan trọng của đáp ứng sốc bỏng. Ở các vết bỏng nhỏ, phù nề tối đa xuất hiện sau 8 đến 12 giờ kể từ thời điểm bị tổn thương; với vết bỏng lớn hơn, phù nề tối đa xuất hiện vào khoảng 12 đến 24 giờ. Giảm thể tích huyết tương đi kèm hình thành phù nề và gia tăng dịch ngoại bào. Mức độ phù nề phụ thuộc vào lượng dịch truyền trong quá trình hồi sức. Dịch và điện giải cần được bổ sung theo chỉ định dựa trên các chỉ số tưới máu cơ quan và tình trạng rối loạn điện giải. Do mất nước và điện giải trong bỏng phần lớn không thể cảm nhận/đo lường trực tiếp, nên lượng dịch mất đi không thể định lượng một cách đầy đủ. Vì vậy, cần thiết lập đường truyền tĩnh mạch và đặt ống thông tiểu. Trong bản cập nhật năm 2018 của Advanced Burn Life Support(Hỗ trợ sự sống bỏng nâng cao), Hiệp hội Bỏng Hoa Kỳ khuyến cáo ở bệnh nhân trên 14 tuổi: bắt đầu truyền dịch với tốc độ 500 mL/giờ và điều chỉnh nhanh để đạt tốc độ truyền theo cân nặng. Đối với vết bỏng nước(bỏng do nhiệt) hoặc vết bỏng do lửa: trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ có cân nặng nhỏ hơn hoặc bằng 30 kg nhận 3 mL Ringer lactate mỗi kg mỗi %TBSA và D5LR ở tốc độ duy trì. Trẻ em dưới 14 tuổi nhận 3 mL mỗi kg mỗi % TBSA; người lớn và trẻ lớn hơn nhận 2 mL mỗi kg mỗi %TBSA. Tốc độ truyền dịch cần tăng khi bỏng do điện. Tất cả bệnh nhân bỏng điện phải nhận 4 mL Ringer lactate mỗi kg mỗi %TBSA; tuy nhiên, trẻ sơ sinh và trẻ em cần bổ sung thêm D5LR(Ringer latate & Dextrose 5%) ở tốc độ duy trì.
Khởi đầu ở mức thấp có thể giúp giảm phù nề và các biến chứng ngoài mạch máu như hội chứng khoang bụng. Chỉ tính TBSA cho bỏng độ II hoặc độ III. Hồi sức được tiến hành bằng dung dịch Ringer Lactate: 50% lượng dịch tinh thể nên được thực hiện trong 8 giờ đầu sau tổn thương, phần còn lại trong 16 giờ tiếp theo. Việc xác nhận tính đầy đủ của hồi sức quan trọng hơn việc tuân thủ chặt chẽ công thức. Các dấu hiệu thay thế của hồi sức đầy đủ gồm bình thường hóa huyết áp, nhịp tim và lượng nước tiểu. Lượng nước tiểu thích hợp: ở người lớn là 0,5 đến 1 mL/kg/giờ; ở trẻ em > 30 kg đến 17 tuổi là 0,5 mL/kg/giờ; và ở trẻ nhỏ < 30 kg là 1 mL/kg/giờ. Đo khí máu động mạch để theo dõi pH, base thiếu hụt và nồng độ lactate huyết thanh cũng là những chỉ dấu tốt cho hồi sức đầy đủ. Mặc dù hồi sức thích hợp là cần thiết để duy trì sinh lý, cần thận trọng tránh hồi sức quá mức vì có thể dẫn đến tăng đáng kể phù ngoại vi, phù phổi, hội chứng khoang và tăng tỷ lệ bệnh tật do bỏng. Sau khi đạt được lượng nước tiểu mục tiêu, cần giảm dần lượng dịch truyền qua đường tĩnh mạch để phòng ngừa hồi sức quá mức.

Dù các công thức hồi sức thể tích có thể ước tính tốt nhu cầu thể tích ban đầu để hồi sức ở bệnh nhân bỏng nặng, chỉ số quan trọng nhất của hồi sức đầy đủ vẫn là lượng nước tiểu đầy đủ.

Cắt bỏ mảng mô chết đóng vảy (Escharotomy)

Chu vi vết bỏng ở một chi có thể dẫn đến phù nề đáng kể, trong khi mô bên dưới không có khả năng giãn nở do tính chất co thắt của vết thương bỏng. Từ đó, có thể xảy ra giảm tưới máu ở chi và mô, và chỉ có thể xử lý bằng phẫu thuật cắt bỏ mảng mô chết đóng vảy tại các chi và/hoặc tại đầu chi(ngón tay, ngón chân). Ở những vết bỏng lớn hơn vùng bụng và thành ngực, hội chứng khoang có thể phát triển, buộc phải cắt bỏ mô chết đóng vảy ở thân hoặc giảm áp ở bụng để bảo toàn chức năng tim mạch và hô hấp. Cần hội chẩn phẫu thuật ngay lập tức đối với bất kỳ vấn đề nào trong số này.

Tiếp xúc với khí Carbon monoxide (CO)

Một đám cháy trong không gian kín cần được đánh giá khả năng ngộ độc carbon monoxide (CO) đồng thời với việc xem xét tổn thương do hít phải. Máy theo dõi độ bão hòa oxy(SpO 2 ) thông thường không phát hiện carbon monoxide và có thể cho thấy độ bão hòa oxy tăng cao giả tạo; vì vậy, nếu nghi ngờ ngộ độc carbon monoxide, khí máu động mạch với nồng độ carboxyhemoglobin(COHb) sẽ làm rõ hình ảnh lâm sàng. Oxy lưu lượng cao 100% làm giảm thời gian bán hủy của carbon monoxide trong huyết tương và là phương pháp điều trị chính. Việc sử dụng sớm oxy cao áp đã được khuyến cáo cho những bệnh nhân có COHb cao (> 25%) hoặc có bằng chứng về độc tính thần kinh hoặc tim mạch đáng kể; tuy nhiên, dữ liệu hỗ trợ cho khuyến cáo này còn hạn chế.

Vết thương do bỏng

Chăm sóc vết thương tại chỗ bắt đầu bằng cắt lọc tuần tự các mô chết và bọng/phỏng nước bởi các chuyên khoa ngoại phù hợp. Cần thận trọng: ngoài việc băng vết thương bằng băng khô sạch để tránh hạ thân nhiệt, trước khi chuyển đến trung tâm bỏng hoặc hội chẩn phẫu thuật. Nếu vết thương bị nhiễm bẩn rõ ràng, có thể rửa nhẹ nhàng và che phủ bằng vải sợi sạch. Nếu bệnh nhân không thể chuyển đến trung tâm bỏng trong vòng 24 giờ, có thể cần làm sạch vết bỏng bằng chất tẩy rửa và bôi thuốc mỡ kháng sinh tại chỗ thích hợp(ví dụ, sulfadiazine bạc hoặc bacitracin) rồi băng kín để giúp ngăn ngừa mất nhiệt do bay hơi.

Các cân nhắc khác

Đặt ống thông mũi dạ dày và dự phòng loét đường tiêu hóa do căng thẳng(stress) được chỉ định khi bệnh nhân nôn mửa, cần đặt nội khí quản hoặc bị bỏng > 20% TBSA. Can thiệp này cũng có thể mang lại lợi ích trong việc hỗ trợ cung cấp dinh dưỡng cho bệnh nhân bỏng diện rộng do nhu cầu dinh dưỡng cao. Dùng thuốc phiện(Opiate) tiêm tĩnh mạch để giảm đau. Nên tháo nhẫn và vòng tay vì có thể gây sự siết lại sớm trong quá trình hồi sức. Bỏng là vết thương có nguy cơ uốn ván; do đó cần xem xét lại việc điều trị dự phòng uốn ván ( Bảng 3 ).

Các cân nhắc đặc biệt

Bỏng do hóa chất

Bỏng do hóa chất có thể do axit(ví dụ: sản phẩm tẩy rửa, ứng dụng công nghiệp), kiềm(ví dụ: hydrua natri, kali và soda amoniac) hoặc các hợp chất hữu cơ(ví dụ: sản phẩm dầu mỏ). Mức độ nghiêm trọng phụ thuộc vào tác nhân liên quan, nồng độ của tác nhân và thời gian tiếp xúc. Chăm sóc ban đầu yêu cầu nhanh chóng đưa bệnh nhân ra khỏi nguồn tổn thương do hóa chất. Về nguyên tắc, việc cởi bỏ quần áo là cần thiết. Các chất dạng khô phải được gạt đi(loại bỏ) và tưới(bơm rửa) thật nhiều nước vào vùng bị ảnh hưởng. Không sử dụng các chất trung hòa vì có thể làm tăng mức độ nghiêm trọng của vết bỏng.

Bỏng axit hydrofluoric (HF) có thể gây tổn thương đặc biệt nặng: làm đông tụ da khi tiếp xúc do các ion florua xâm nhập vào da và kết hợp với canxi và magie của tế bào; vì vậy cần cắt bỏ vết thương khẩn cấp. Axit HF thường xuất hiện trong bảng mạch, dung môi tẩy rửa và chất tẩy sơn.

Tiếp xúc với các sản phẩm dầu mỏ(chẳng hạn như bị đổ xăng tại hiện trường tai nạn xe cơ giới) liên quan đến sự xâm nhập nhanh qua da và suy đa cơ quan muộn. Một lần nữa, cần đảm bảo đưa bệnh nhân ra khỏi nguồn tiếp xúc càng sớm càng tốt và tưới(bơm rửa) tích cực(mạnh mẽ) các bề mặt bị ảnh hưởng. Khuyến cáo liên quan đến bỏng do hóa chất có sẵn từ các trung tâm bỏng khu vực.

Bỏng điện

Tổn thương do điện là một hội chứng có nhiều biểu hiện khác nhau. Tiếp xúc với nguồn điện < 440 vôn(Volt) gây tổn thương điện áp thấp tương tự như các vết bỏng ở da khác. Khi mức điện áp tiếp xúc vượt quá 1.000 vôn, nguy cơ tổn thương sâu và tổn thương ở da tăng cao.
Ba loại tổn thương da có thể xảy ra khi bị điện giật:
  1. Tổn thương vào và ra; thường khu trú, sâu, tại các điểm tiếp xúc với nguồn điện hoặc mặt đất(thường là tay và chân).
  2. Bỏng da do tổn thương hồ quang(vòng cung) từ vị trí chính tác động lên bệnh nhân; vết thương do tia lửa hoặc do ngọn lửa thực tế nếu quần áo bắt lửa.
  3. Tổn thương mô mềm sâu liên quan đến cơ, dây thần kinh hoặc giường mạch máu khi dòng điện đi qua các mô.
Cần cảnh giác với tràn khí màng phổi, tổn thương đường thở, ngừng tim và chấn thương kín thứ phát do té ngã và co cơ dữ dội. Áp lực khoang cơ có thể gia tăng, cần cắt cân mạc(fasciotomy) chứ không chỉ cắt bỏ mảng mô chết(escharotomy). Nếu có myoglobin trong nước tiểu hoặc nồng độ creatine kinase(CK) tăng cao, cần cung cấp đủ dịch nội mạch để tăng lượng nước tiểu lên 3 đến 4 mL/kg/giờ cho đến khi giải quyết tình trạng tiêu cơ vân. Bệnh nhân có thể bị tắc ruột sau khi bị điện giật. ECG nên được đánh giá trong tổn thương do điện.
Ưu tiên hàng đầu trong xử trí điện giật là loại bỏ mô hoại tử và giải áp các khoang mô sâu bị tổn thương, đặc biệt là cơ. Bắt đầu hồi sức ở mức 4 mL/kg/% tổn thương da TBSA và điều chỉnh để duy trì lượng nước tiểu từ 0,5 đến 1 mL/kg/h, trừ khi có tiêu cơ vân thì lượng nước tiểu cao hơn là điều mong muốn. Hồi sức dịch tích cực làm tăng khả năng lọc sắc tố và pha loãng sắt(gây độc cho thận). Kiềm hóa nước tiểu có thể được cân nhắc để giảm nguy cơ độc thận mặc dù còn thiếu bằng chứng ủng hộ. Nếu có vùng tổn thương mô mềm lớn, nên yêu cầu hội chẩn phẫu thuật.
Giống như các vết bỏng khác, nhiễm trùng là nguy cơ chính; đồng thời cần nhận diện các vấn đề tiềm ẩn khác như tổn thương cơ tim và mạch máu, bệnh não, đục thủy tinh thể và thủng ruột.
Chấn thương do sét đánh có thể được xem là dạng tiếp xúc nặng nề với dòng điện một chiều. Hầu hết tổn thương mang tính chất cục bộ(tại chỗ) do thời gian tiếp xúc cực kỳ ngắn. Tỷ lệ tử vong liên quan đến sét đánh chủ yếu do ngừng tim và suy hô hấp xảy ra sớm. Hỗ trợ sự sống cơ bản(BLS) và nâng cao(ACLS) tích cực có thể cứu sống các bệnh nhân này.

NHỮNG XEM XÉT VỀ GIỚI THIỆU VÀ VẬN CHUYỂN BỆNH NHÂN

Sự tham gia sớm của chuyên khoa phẫu thuật có vai trò then chốt trong chăm sóc bệnh nhân chấn thương. Ngay khi xác định có bệnh nhân chấn thương nặng đang đến, bác sĩ phẫu thuật cần được triệu tập sớm. Đồng thời, nên hội chẩn phẫu thuật thần kinh sớm đối với bệnh nhân chấn thương đầu.
Các hướng dẫn chung về phân loại tại hiện trường và vận chuyển liên cơ sở y tế thường dựa trên các tiêu chí sinh lý, giải phẫu và cơ chế chấn thương nguy cơ cao để xác định các yếu tố kích hoạt phân loại và vận chuyển. Có thể ngoại suy rằng các thông số này cũng có thể được dùng để khởi phát sự tham gia của bác sĩ phẫu thuật chấn thương. Một số tiêu chí chuyển bệnh nhân đến trung tâm bỏng theo Hiệp hội Bỏng Hoa Kỳ bao gồm:
  • Vết bỏng dày một phần (partial thickness) trên 10% TBSA
  • Bỏng ở mặt, tay, chân, cơ quan sinh dục, đáy chậu và các khớp lớn
  • Bỏng độ III ở mọi lứa tuổi
  • Bỏng do điện, bao gồm tổn thương do sét đánh
  • Bỏng do hóa chất
  • Tổn thương do hít phải
  • Tổn thương đáng kể ở bệnh nhân có độ tuổi quá cao hoặc kèm theo bệnh lý nền đáng kể
  • Bệnh nhân bị chấn thương kết hợp và có tổn thương do bỏng đã được chăm sóc bỏng nhưng được đánh giá là đã qua chăm sóc chấn thương*
  • Trẻ em tại bệnh viện mà không có nhân viên y tế hoặc thiết bị đạt tiêu chuẩn để chăm sóc bệnh nhân bỏng nhi khoa
  • Tổn thương do bỏng ở những bệnh nhân cần can thiệp đặc biệt về xã hội, cảm xúc hoặc phục hồi chức năng
*Bệnh nhân bị chấn thương nặng kèm theo bỏng nên được chuyển đến trung tâm chấn thương gần nhất trước khi cân nhắc chuyển sang trung tâm bỏng. Một số yếu tố kích hoạt bổ sung được đề xuất trong Bảng 4 .
Bảng 4. Chỉ định phân loại tại hiện trường và vận chuyển liên cơ sở y tế (1)
Tiêu chí sinh lý
  1. Thang điểm hôn mê Glasgow < 13 điểm
  2. Huyết áp tâm thu < 90 mmHg
  3. Tần số thở < 10 nhịp/phút hoặc > 29 nhịp/phút (< 20 nhịp/phút ở trẻ sơ sinh < 1 tuổi)
Kích hoạt theo giải phẫu/tổn thương
  1. Tổn thương xuyên thấu ở đầu, cổ, thân, và các chi gần khuỷu tay hoặc gối
  2. Thành ngực không ổn định hoặc biến dạng
  3. Cắt cụt chi phần gần cổ tay hoặc mắt cá chân
  4. Hai hoặc nhiều hơn vết gãy ở xương dài phần gần
  5. Chi bị dập nát, lóc da cơ xương, đứt hoặc mất mạch
  6. Gãy xương chậu
  7. Gãy xương sọ hở hoặc lõm vào
  8. Liệt
Kích hoạt theo cơ chế chấn thương
  1. Người lớn: rơi ở độ cao > 20 feet
  2. Trẻ em: rơi ở độ cao > 10 feet
  3. Tai nạn xe ô tô có nguy cơ cao:
  • Lún vào: >12 inch phía người ngồi; >18 inch bất kỳ phía nào (kể cả mui xe)
  • Bị văng ra (một phần hoặc toàn bộ) khỏi ô tô
  • Tử vong trong cùng khoang hành khách
  • Dữ liệu đo từ xa xe cơ giới phù hợp với nguy cơ chấn thương cao
  1. Xe ô tô so với người đi bộ/người đi xe đạp: bị văng, cán qua hoặc có tác động đáng kể (>20 dặm/giờ)
  2. Va chạm xe máy >20 dặm/giờ
Kích hoạt theo bệnh nhân
  1. Tuổi > 55
  2. Huyết áp tâm thu < 110 mmHg ở người > 65 tuổi
  3. Rơi ngã ở người lớn tuổi (bao gồm cả ngã từ mặt đất)
  4. Vận chuyển chấn thương ở trẻ em
  5. Sử dụng thuốc chống đông hoặc rối loạn chảy máu
  6. Bỏng
  7. Mang thai >20 tuần
  8. Quyết định của nhân viên dịch vụ cấp cứu y tế
(1) Chuyển thể từ Trung tâm Bệnh tật và Phòng ngừa. Hướng dẫn phân loại bệnh nhân bị thương tại hiện trường: Khuyến nghị của Hội đồng chuyên gia quốc gia về phân loại tại hiện trường, 2011. Khuyến nghị MMWR Rep. 2012;61(1):1-21.

Nếu không sẵn có chuyên khoa phẫu thuật phù hợp, cần bắt đầu vận chuyển sớm đến trung tâm chấn thương hoặc trung tâm bỏng gần nhất. Việc vận chuyển này không nên trì hoãn để thực hiện thăm dò chẩn đoán hình ảnh bằng tia X (X quang/ CT) bổ sung nếu không có nguồn lực phẫu thuật, trừ khi các thăm dò đó được bác sĩ tiếp nhận yêu cầu. Cần liên hệ với trung tâm chấn thương để được tư vấn và thảo luận về các vấn đề hoặc mối lo ngại tiềm ẩn đối với nhân viên y tế vận chuyển.
Các cạm bẫy thường gặp khi vận chuyển bệnh nhân nặng bao gồm thất bại trong đặt nội khí quản trước khi chuyển; không nhận ra nhu cầu cần chuyển lên mức chăm sóc cao hơn; và thất bại trong việc ổn định bệnh nhân đầy đủ trước khi vận chuyển. Cần xem xét tình trạng xuất huyết đang diễn ra nhưng chưa được nhận biết; tràn khí màng phổi khởi phát muộn; và các nguyên nhân gây tổn thương não thứ phát có thể đảo ngược hoặc có thể phòng ngừa.
Theo dõi tiếp ca lâm sàng: Một phụ nữ 56 tuổi được chuyển đến khoa cấp cứu sau khi bị thương trong vụ cháy nhà kèm theo một vụ nổ. Bệnh nhân đã được đặt nội khí quản và thở máy trong khi tình trạng bỏng đường hô hấp do hít phải được cải thiện. Bệnh nhân bị tràn khí màng phổi cần đặt ống dẫn lưu ngực. Đồng thời, bệnh nhân đã được gây thuyên tắc mạch do vết rách ở lách với sự thoát mạch tích cực của thuốc cản quang qua đường tĩnh mạch.

NHỮNG ĐIỂM CHÍNH

Cơ bản về hỗ trợ chấn thương và bỏng

  • Nguyên tắc hàng đầu trong quản lý chấn thương là nhận diện và xử trí ngay lập tức các tổn thương đe dọa tính mạng theo trình tự ưu tiên của ABCDE.
  • Sau chấn thương kín, cần tiến hành kiểm soát đường thở theo cách tiếp cận coi như luôn tồn tại chấn thương cột sống cổ không ổn định.
  • Chẩn đoán tràn khí màng phổi áp lực cần dựa trên tiêu chuẩn lâm sàng, không dựa vào X quang ngực.
  • Xuất huyết là nguyên nhân thường gặp nhất gây sốc sau chấn thương; điều trị giai đoạn đầu theo kinh nghiệm bao gồm truyền dịch tinh thể để đưa huyết áp về mức bình thường, đảo ngược nhịp tim nhanh và duy trì tưới máu cơ quan đầy đủ.
  • Nhìn chung, cần bổ sung máu để hồi sức sớm khi đáp ứng không đạt yêu cầu hoặc khi nghi ngờ xuất huyết tiếp tục diễn ra. Máu cùng loại (isotype/cùng nhóm), không tạo phản ứng chéo, có thể sử dụng an toàn.
  • Đánh giá thứ cấp bao gồm thăm khám toàn thân từ đầu đến chân nhằm phát hiện và điều trị các tổn thương có khả năng đe dọa tính mạng.
  • Chụp cắt lớp vi tính (CT) là cần thiết để đánh giá ban đầu ở bệnh nhân chấn thương đầu khi mức độ ý thức bị suy giảm.
  • Hồi sức bỏng có tương quan tỷ lệ thuận với diện tích bỏng độ II và độ III, và được điều chỉnh dựa trên các dấu hiệu tưới máu. Lượng nước tiểu đủ là một trong những chỉ số quan trọng của hồi sức hiệu quả.
  • Tổn thương do hít phải khói trong không gian kín làm bệnh nhân có nguy cơ cao bị tổn thương đường hô hấp trên và tổn thương do hít, tình trạng này có thể chưa rõ ràng ngay trong lần khám đầu tiên.
  • Cần bảo đảm sự tham gia của chuyên khoa phẫu thuật sớm và cân nhắc chuyển viện đối với bệnh nhân cần mức độ chăm sóc cao hơn.
  • Không nên trì hoãn chuyển đến cơ sở chăm sóc chuyên khoa chỉ để thực hiện các thăm dò chẩn đoán hình ảnh bằng tia X (X quang/CT) bổ sung, trừ khi bác sĩ tiếp nhận yêu cầu.

Tài liệu tham khảo

  1. Basic Trauma and Burn Support. FCCS 2020