Bệnh hạt cơm (mụn cơm)
GIỚI THIỆU
-
Hạt cơm (mụn cơm) là tình trạng tăng sinh lành tính của các tế bào biểu bì trên da và/hoặc niêm mạc, do Human Papilloma Virút (HPV) gây ra. Bệnh gặp ở mọi giới và mọi lứa tuổi; tuy nhiên, thường gặp nhất ở lứa tuổi lao động, đặc biệt ở học sinh và sinh viên. Ước tính khoảng 10% dân số mắc bệnh. Tỷ lệ mắc cao hơn ở người suy giảm miễn dịch, nhất là suy giảm miễn dịch bẩm sinh hoặc mắc phải.
-
Virút tồn tại trong nhiều môi trường sống, như bể bơi, nhà tắm công cộng và phòng tập thể thao. Nhiễm HPV có thể xảy ra do tiếp xúc trực tiếp giữa người với người thông qua da bị xây sát hoặc thông qua các vật dụng trung gian như giầy dép và dụng cụ thể thao.
-
Bệnh không gây chết người, nhưng có thể gây đau và làm giảm chất lượng cuộc sống của người bệnh.
NGUYÊN NHÂN
-
Hiện đã xác định được khoảng trên 100 type HPV và được phân nhóm thành 3 nhóm: type gây bệnh da: type 1, 2, 3, 4; type gây bệnh ở niêm mạc sinh dục: type 6, 11, 16, 18; và type gây loạn sản biểu bì dạng hạt cơm là type 5 và 8.
-
Sau khi xâm nhập vào các tế bào biểu bì, virút có thể tồn tại trong thời gian từ 2 đến 9 tháng mà không có triệu chứng lâm sàng. Hạt cơm có thể xuất hiện ở bất kỳ vị trí nào trên cơ thể, đặc biệt ở bàn tay và bàn chân. Tiến triển bệnh có thể tự thuyên giảm trong 20-25% trường hợp. Các trường hợp hạt cơm rải rác, mạn tính hoặc tái phát có liên quan đến tình trạng suy giảm miễn dịch.
CHẨN ĐOÁN XÁC ĐỊNH
Hạt cơm thông thường (common warts)
-
Hạt cơm thông thường là thể thường gặp nhất, chiếm 58-70% trong tổng số bệnh nhân mắc hạt cơm.
-
Khởi phát thường là các sẩn nhỏ tương tự hạt kê, màu da. Sau vài tuần hoặc vài tháng, thương tổn có xu hướng phát triển lớn dần, nổi cao, có hình bán cầu, bề mặt sần sùi thô ráp và dày sừng với nhiều kích thước khác nhau. Các thương tổn có thể rải rác hoặc thành dải hoặc thành đám, thường gặp ở mu bàn tay, mu bàn chân, ngón tay và ngón chân, quanh móng và da đầu.
Hạt cơm bàn tay, bàn chân (palmo-plantar warts)
-
Hạt cơm ở bàn tay và bàn chân thường có hình thái đa dạng.
-
Đặc trưng là các sẩn có kích thước từ 2-10mm, bề mặt xù xì làm mất những đường vân trên bề mặt da. Tổn thương có thể sắp xếp riêng rẽ hoặc tập trung thành đám tại các vùng tỳ đè và quanh móng, được gọi là hạt cơm thể khảm. Một số trường hợp biểu hiện chỉ là sẩn nhẵn, bằng phẳng với mặt da, màu vàng đục hoặc màu da. Cũng có thể gặp dạng sẩn xù xì có gai nhỏ và lõm ở giữa.
-
Khi cắt bỏ toàn bộ phần dày sừng bằng dao mổ, quan sát thấy bên dưới là mô màu trắng trên có các chấm đen. Hiện tượng này do tắc các mạch máu nhỏ ở lòng bàn chân tạo nên. Dấu hiệu này có giá trị hỗ trợ chẩn đoán phân biệt giữa hạt cơm và các bệnh khu trú ở lòng bàn chân như chai chân hoặc dày sừng bàn tay bàn chân khu trú.
-
Đau khi đi lại: nhiều trường hợp rất đau, có thể không đi lại được.
Hạt cơm phẳng (flat warts)
-
Hạt cơm phẳng chiếm 24-34% tổng số hạt cơm và thường gặp ở tuổi học đường.
-
Thương tổn là các sẩn hơi nổi cao trên mặt da, bề mặt thô ráp; kích thước nhỏ từ 1 đến 5 mm, hình tròn hoặc hình đa giác, màu da hoặc thẫm màu. Ranh giới rõ, có thể đứng riêng rẽ hoặc thành đám; đôi khi thành dải (dấu hiệu Koebner). Số lượng thương tổn thường ít, tuy nhiên trong trường hợp lan tỏa có thể lên tới vài trăm thương tổn. Vị trí hay gặp là ở vùng da hở nhất như mặt, cánh tay và thân mình, gây ảnh hưởng đến thẩm mỹ, lao động và sinh hoạt hàng ngày của người bệnh.
CHẨN ĐOÁN PHÂN BIỆT
-
Hạt cơm thông thường cần phân biệt với dày sừng da dầu, dày sừng ánh nắng và ung thư tế bào gai.
-
Hạt cơm phẳng cần phân biệt với các sẩn trong bệnh lichen phẳng.
ĐIỀU TRỊ
Nguyên tắc chung
-
Hạt cơm thường tiến triển từ một vài tháng đến một vài năm. Nếu không điều trị, bệnh vẫn có thể tự khỏi. Khoảng 2/3 số hạt cơm tự mất đi sau 2 năm; tình trạng tự khỏi có thể xảy ra ngay cả ở những trường hợp có nhiều tổn thương lan tỏa.
-
Có nhiều phương pháp được áp dụng trong điều trị bệnh hạt cơm, bao gồm dùng các hóa chất hoặc thủ thuật nhằm loại bỏ tổn thương. Tuy nhiên, hiện nay chưa có biện pháp điều trị đặc hiệu. Việc lựa chọn một hoặc kết hợp nhiều biện pháp điều trị cần căn cứ vào từng trường hợp bệnh cụ thể.
Điều trị nội khoa
Các thuốc bôi tại chỗ
-
Mỡ salicyle:
Mỡ salicyle với nồng độ từ 10% đến 40% có tác dụng bạt sừng mạnh, giúp loại bỏ các tế bào chứa virút. Tùy theo loại hình thương tổn và tùy theo vị trí tổn thương, có thể lựa chọn nồng độ thuốc trong khoảng 10% đến 40%. Có thể băng bịt để làm thuốc ngấm sâu vào thương tổn, qua đó đạt hiệu quả điều trị tốt hơn.
-
Duofilm
là dung dịch keo gồm acid lactic 16,7% và acid salicylic 16,7%, có tác dụng sát khuẩn và làm tan rã các tế bào lớp sừng. Trước khi bôi thuốc: rửa vùng thương tổn bằng xà phòng, ngâm tay hoặc chân vào nước ấm khoảng 10 phút; sau đó dùng 1 hòn đá ráp kỳ nhẹ lên bề mặt thương tổn để làm mỏng lớp sừng, rửa lại cho sạch rồi để khô và chấm duofilm lên bề mặt thương tổn. Một ngày chấm một lần cho đến khi khỏi. Cần lưu ý bôi đúng vào thương tổn. Thuốc có thể gây kích ứng tại chỗ, kèm cảm giác rát bỏng khi bôi.
-
Collomack
chứa acid lactic 0,5g, acid salicylic 2g và polidocanol 0,2g; do có tác dụng bạt sừng mạnh, Collomack được chỉ định điều trị các hạt cơm sâu, có kích thước lớn ở bàn tay và bàn chân. Chống chỉ định đối với các hạt cơm ở vùng mặt.
-
Cantharidin 0,7%
được chiết xuất từ bọ cánh cứng. Sau khi bôi thuốc trong 12 đến 24 giờ, xuất hiện bọng nước tại vị trí bôi. Sau một vài ngày, bọng nước vỡ, khô đóng vảy. Thuốc có tác dụng tốt đối với hạt cơm thể thông thường.
-
Axít trichloracetic 33%
: có tác dụng đông vón protein và gây hoại tử tế bào sừng. Nhược điểm là có thể gây đau nhiều và gây loét do bôi thuốc quá nhiều.
-
Podophyllotoxin
là thuốc chống phân bào, được bào chế dưới dạng dung dịch keo 25%. Chấm thuốc ngày hai lần trong thời gian ba ngày, sau đó ngừng bốn ngày. Nếu còn thương tổn thì tiếp tục điều trị với liệu trình như trên; tối đa có thể điều trị trong 5 tuần. Cần lưu ý bôi đúng thương tổn và phải rửa tay sau khi dùng thuốc vì thuốc có thể gây kích ứng ở da và niêm mạc. Cần thận trọng khi sử dụng thuốc đối với phụ nữ có thai vì có thể ảnh hưởng đến sự phát triển của thai nhi.
-
Nitrat bạc 10%
có tác dụng bạt sừng.
-
Axít 5-aminolaevulinic
là một chất nhạy cảm với ánh sáng. Bôi thuốc lên thương tổn, sau đó chiếu tia cực tím (UV) nhằm diệt các tế bào chứa virút; vì vậy còn được gọi là phương pháp quang hóa trị liệu (photodynamo-therapy).
-
Immiqimod
là chất kích thích miễn dịch. Kem immiqimod 5% bôi ngày hai lần trong thời gian 6 đến 12 tuần.
-
Kem 5-fluouracil
có tác dụng ức chế sự nhân lên của các tế bào, được bào chế dưới dạng kem. Bôi 1-2 lần/ngày trong thời gian 3 đến 4 tuần.
-
Kem tretinoin 0,05%-0,1%
có tác dụng bạt sừng; thường được dùng để điều trị hạt cơm phẳng, nhất là ở trẻ em.
-
Sulfat kẽm
dạng dung dịch bôi tại chỗ, ngày bôi 1 đến 2 lần. Phân tử kẽm gắn lên các phân tử glycoprotein trên bề mặt virút, làm ngăn cản sự thâm nhập của virút vào tế bào. Thuốc ít gây kích ứng và cho kết quả tốt đối với các trường hợp nhiều thương tổn.
Các thuốc tiêm trong thương tổn
-
Bleomycin là một glycopeptides có tác dụng gây độc tế bào. Tiêm dung dịch bleomycin 0,5% trong thương tổn đem lại hiệu quả. Thuốc được chỉ định trong trường hợp thương tổn có kích thước lớn, tái phát và không đáp ứng điều trị với các phương pháp khác.
-
Interferon alpha-2a: Thuốc có tác dụng ức chế sự nhân lên của virút trong tế bào, đồng thời kích thích hoạt động của các đại thực bào. Thuốc được tiêm trong thương tổn; tuy nhiên dễ tái phát khi ngừng thuốc.
Thuốc toàn thân
-
Cimetidin:
Cimetidin thuộc nhóm kháng histamin H2; ngoài tác dụng giảm bài tiết dịch dạ dày, thuốc còn có tác dụng kích thích miễn dịch, tăng khả năng đại thực bào và diệt virút. Dùng đường uống với liều 20-40mg/kg/24 ngày; cho kết quả tốt đối với các trường hợp hạt cơm tái phát nhiều lần hoặc có nhiều thương tổn.
-
Sulfat kẽm:
Liều dùng là 10mg/kg/ngày. Thuốc ít gây độc nên liều tối đa có thể tới 600 mg/ngày và cho kết quả tốt đối với những trường hợp có nhiều thương tổn.
-
Verrulyse-Methionin:
Thành phần gồm ma-gie, can-xi, methionin, sắt và man-gan. Thuốc được chỉ định cho tất cả các loại hạt cơm. Liều dùng cho người lớn từ 2 đến 4 viên/ngày.
Điều trị bằng thủ thuật
Phẫu thuật lạnh
-
Dùng nitơ lạnh ở nhiệt độ -196°c để gây bỏng lạnh, làm bong thương tổn. Phương pháp này có hiệu quả điều trị cao và ít tốn kém.
Phẫu thuật bằng laser
-
Loại laser được sử dụng phổ biến nhất là laser CO2 với bước sóng 10.060nm, tác động phá vỡ tế bào và gây bốc bay toàn bộ tổ chức. Ưu điểm của phương pháp là làm sạch nhanh thương tổn. Tuy vậy, vết thương thường lâu lành, có thể ảnh hưởng đến ngày công lao động của người bệnh.
-
Laser màu có bước sóng 585 nm cũng có thể được áp dụng để điều trị hạt cơm. Cơ chế tác dụng dựa trên phá hủy các mạch máu, từ đó làm giảm nguồn nuôi dưỡng các tế bào chứa virút và góp phần điều trị bệnh. Tuy nhiên, loại laser này ít được lựa chọn trong điều trị hạt cơm do chi phí cao.
Phẫu thuật cắt bỏ thương tổn
-
Đây là phương pháp có xu hướng tái phát cao và đặc biệt khó kiểm soát/điều trị đối với người bệnh có nhiều thương tổn.
Các phương pháp điều trị khác
-
Liệu pháp dùng băng dính: dán băng dính lên vùng da có hạt cơm; cứ hai đến ba ngày thay băng một lần, giúp làm thương tổn mỏng dần và dẫn đến khỏi.
-
Tâm lý liệu pháp: thực tế cho thấy ở nhiều người bệnh, sau một thời gian các tổn thương có thể tự khỏi. Trong dân gian có nhiều cách chữa như xát lá tía tô hoặc dùng tỏi cắt lát mỏng bôi lên thương tổn. Một số nghiên cứu đã chứng minh trong lá tía tô và hành/tỏi có các loại kháng sinh, đặc biệt là các kháng sinh kháng virút, có tác dụng trong điều trị bệnh.
-
Vắc-xin phòng virút: biện pháp này có tác dụng phòng ngừa sự tái nhiễm virút HPV. Tuy nhiên, tiêm vắc-xin chủ yếu được áp dụng đối với HPV sinh dục, đặc biệt với các chủng virút có nguy cơ cao gây ung thư cổ tử cung.
PHÒNG BỆNH
-
Thực hiện sát khuẩn và vệ sinh thường xuyên các địa điểm cộng cộng như bể bơi, nhà tắm công cộng, phòng tập thể thao…
-
Cần có bảo hộ lao động đối với một số nghề nghiệp có nguy cơ mắc bệnh cao như thợ giết mổ gia súc, trồng hoa..
-
Điều trị loại bỏ các tổn thương nếu có thể nhằm loại bỏ nguồn lây nhiễm.
Tài liệu tham khảo
- Da liễu - Bộ Y Tế