Phòng ngừa nhiễm khuẩn huyết ở người bệnh đặt Catheter trong lòng mạch

Post key: 1329eda4-7c11-5d63-b69e-58a1f8f556b2
Slug: phong-ngua-nhiem-khuan-huyet-o-nguoi-benh-dat-catheter-trong-long-mach
Excerpt: Người bệnh nằm viện cần đặt catheter trong lòng mạch thường xuyên; đây là thủ thuật xâm lấn nên nếu không tuân thủ vô khuẩn sẽ đưa tác nhân gây bệnh vào vị trí đặt và vào dòng máu, gây nhiễm khuẩn huyết liên quan đến catheter. Bài viết trình bày sinh bệnh học và các yếu tố nguy cơ (liên quan loại catheter, vị trí đặt, kỹ thuật và thời gian lưu, tình trạng người bệnh và môi trường), tác nhân thường gặp và đường lây nhiễm. Đồng thời đưa ra gói biện pháp phòng ngừa: giáo dục nhân viên, lựa chọn vị trí và chăm sóc đúng loại catheter (ngoại biên/trung tâm/động mạch/thiết bị theo dõi áp lực), vệ sinh tay và kỹ thuật vô khuẩn, chuẩn bị vùng đặt, sát khuẩn da, thay gạc che phủ, vệ sinh da, kiểm soát pha chế và vô khuẩn chia liều thuốc/dịch truyền, rút sớm khi không còn chỉ định, giám sát và cải tiến chất lượng. Tài liệu tham khảo theo Hướng dẫn phòng ngừa nhiễm khuẩn huyết trên người bệnh đặt catheter trong lòng mạch ban hành theo Quyết định số 3671/QĐ-BYT 27/09/2012 của Bộ Y tế.
Recognized tags: bo-y-te, du-phong, kiem-soat-nhiem-khuan, danh-cho-sinh-vien

GIỚI THIỆU

Đặt catheter vào trong lòng mạch ở người bệnh (NB) đang được điều trị tại bệnh viện là một thủ thuật thường gặp trong chăm sóc, chẩn đoán, theo dõi và điều trị. Đây là kỹ thuật xâm lấn đối với cơ thể NB; vì vậy, trong toàn bộ quá trình từ chuẩn bị dụng cụ, phương tiện, bảo đảm kỹ thuật vô khuẩn cho NB, kỹ thuật đặt, che phủ và chăm sóc sau đặt đều phải thực hiện tuyệt đối vô khuẩn. Nếu quy trình không được tuân thủ nghiêm ngặt, các tác nhân gây bệnh có thể được đưa vào ngay vị trí đặt và sau đó vào dòng máu, tạo điều kiện cho vi khuẩn tụ tập trong và ngoài lòng mạch, dẫn tới nhiễm khuẩn huyết.

  • Nhiễm khuẩn huyết xảy ra trong quá trình điều trị NB có đặt catheter là nhiễm khuẩn huyết (NKH) tiên phát: không có và không ở trong giai đoạn ủ bệnh của NKH tại thời điểm nhập viện và có nguyên nhân liên quan đến việc đặt catheter.
  • Phòng ngừa NKH là yêu cầu cần thiết và có thể thực hiện được nếu tuân thủ chặt chẽ vô khuẩn trong quá trình tiến hành thủ thuật xâm lấn này.
Giải thích từ ngữ:
Mô tả các thuật ngữ
  • Catheter đặt trong lòng mạch (Intravascular catheter): là loại ống làm bằng vật liệu tổng hợp, đưa vào trong lòng mạch nhằm chẩn đoán và điều trị NB.
  • Catheter mạch máu ngoại biên (peripheral venous catheter): thường sử dụng để đặt vào mạch máu ở cẳng tay và tay. Chiều dài dưới 8cm.
  • Catheter động mạch ngoại vi (peripheral arterial catheter): thường đưa vào các động mạch nhánh; có thể đặt vào động mạch quay, đùi, nách hoặc động mạch chày sau. Chiều dài không quá 8 cm.
  • Catheter có độ dài trung bình (Midline Catheter): là catheter được thiết kế có độ dài trung bình, dùng cho đặt đường truyền tĩnh mạch trung tâm đi từ ngoại vi (như tĩnh mạch nền, tĩnh mạch đầu).
  • Catheter tĩnh mạch trung tâm (Central venous catheter): là loại catheter thiết kế đặc biệt để đặt vào mạch máu trung tâm, mạch máu đổ trực tiếp vào các buồng tim.
  • Catheter mạch máu trung tâm được đặt từ tĩnh mạch ngoại biên (peripherally inserted central venous catheter – PICC): là kỹ thuật đặt catheter đi từ đường ngoại biên vào trung tâm, thường sử dụng tĩnh mạch nền, tĩnh mạch đầu hoặc tĩnh mạch nhánh và đi vào xoang tĩnh mạch trên. Catheter này có độ dài trên 20 cm. Tỷ lệ nhiễm khuẩn huyết (NKH) liên quan đến đặt catheter này thấp hơn loại catheter tĩnh mạch trung tâm không tạo đường hầm.
  • Catheter không tạo đường hầm (nontunneled Catheters): là loại catheter được đâm xuyên qua da vào tĩnh mạch trung tâm như tĩnh mạch dưới đòn, tĩnh mạch cảnh trong hoặc tĩnh mạch đùi. Vật liệu bằng silicon; loại ống thông này có thể dùng dài ngày và là nguyên nhân chính dẫn tới NKH liên quan đến đặt catheter.
  • Catheter tạo đường hầm: là kỹ thuật đặt catheter dưới da đi song song với mạch máu, sau đó mới đâm vào mạch máu (tĩnh mạch dưới đòn, tĩnh mạch cảnh trong và tĩnh mạch đùi). Chiều dài tùy thuộc kích thước NB. Nguy cơ NKH thấp; đây là phương pháp cải thiện hình ảnh của chính NB. Tuy nhiên, khi rút catheter cần có sự tham gia của can thiệp phẫu thuật rút bỏ.

SINH BỆNH HỌC VÀ CHẨN ĐOÁN

Sinh bệnh học và yếu tố nguy cơ có liên quan

Yếu tố người bệnh

  • Tình trạng suy giảm miễn dịch của NB làm tăng nguy cơ NKH, như: người có phẫu thuật, dùng corticoide kéo dài, ghép tạng, người già, trẻ sơ sinh non yếu, trẻ có bệnh nhiễm khuẩn hoặc tổn thương da hở, suy dinh dưỡng, tiểu đường, HIV…

Yếu tố can thiệp

  • Nguy cơ NKH liên quan đến đặt catheter trong lòng mạch phụ thuộc vào loại bệnh viện, khoa phòng sử dụng, loại catheter, kỹ thuật đặt, kỹ thuật vô trùng và thời gian lưu catheter.
  • Nhiễm khuẩn có thể xuất phát từ các loại catheter dùng ngắn ngày hoặc dài ngày.
  • Vị trí đặt catheter: catheter mạch máu ngoại biên hoặc trung tâm (loại không tạo đường hầm hoặc có tạo đường hầm).
    • Catheter ngoại biên có nguy cơ NKH thấp hơn catheter trung tâm. Khi đặt catheter trung tâm, nguy cơ NKH tăng do mạch máu ở gần với tim và dễ gây sang chấn trong quá trình đặt. Việc đặt catheter trung tâm từ ngoại biên giúp giảm nguy cơ này.
    • Đối với catheter tạo đường hầm: thường liên quan đến vi khuẩn tụ tập và tăng sinh bắt nguồn từ trong lòng ống và tại cửa bơm thuốc (Hub) của catheter; trong đó, nhiễm khuẩn ở trong lòng catheter là thường gặp nhất.
  • Thời gian lưu catheter càng kéo dài thì nguy cơ NKH càng tăng.

Yếu tố môi trường

  • Đặt catheter trong môi trường có nguy cơ lây nhiễm và trong điều kiện cấp cứu nguy cơ cao hơn so với đặt trong môi trường đã chuẩn bị và được kiểm soát.
  • Việc không tuân thủ nghiêm ngặt quy trình và kỹ thuật đặt vô khuẩn cũng có thể góp phần làm tăng nguy cơ NKH. Đối với tình huống đặt catheter trung tâm trong điều kiện môi trường chưa tốt và quá tải NB (NB nằm chung giường, nhân viên thiếu, quá tải công việc,…) đồng thời không tuân thủ nghiêm ngặt việc sử dụng phương tiện vô khuẩn khi đặt sẽ làm tăng nguy cơ lây nhiễm.

Tác nhân gây bệnh và đường lây truyền

Tác nhân gây bệnh thay đổi theo thời gian và theo vùng địa lý. Nguyên nhân thường gặp nhất là các cầu khuẩn gram dương; trong đó hàng đầu là Staphylococcus coagulase negative (SCN) và S.aureus. Nhóm vi khuẩn gram âm thường gặp bao gồm P. aeruginosa và Klebsiella sp, đồng thời có nấm Candida spp (xem bảng 1).

Bảng 1: Nguồn nhiễm và đường nhiễm thường gặp qua thống kê tại Mỹ
Nguồn gây nhiễm khuẩn huyết Tác nhân chủ yếu
Cannula
  • Staphylococcus coagulase (-)
  • Staphylococcus aureus
  • Enterococci
  • Klebsiella
  • Enterobacter
  • Serratia marcescens
  • Candida
  • Pseudomonas aeruginosa
Dinh dưỡng qua đường tĩnh mạch
  • Staphylococcus coagulase (-)
  • Staphylococcus aureus
  • Candida
  • Klebsiella
  • Enterobacter
  • Enterococci
Dịch truyền bị nhiễm
  • Klebsiella
  • Enterobacter
  • Serratia
  • P. cepacia
  • Flavobacterium

Trong những năm gần đây, tác nhân gây NKH ở NB có đặt catheter đã có thay đổi, với sự gia tăng nhiễm các tác nhân có nguồn gốc từ môi trường, dụng cụ chăm sóc và kỹ thuật không đảm bảo vô khuẩn, dẫn đến lây nhiễm Acinetobacter spp và P. aeruginosa.

Không ghi nhận sự khác biệt về tác nhân gây NKH được phân lập ở người lớn so với trẻ em.

Có 4 đường nhiễm vào catheter đã được ghi nhận (hình 1):

  1. Vi khuẩn từ trên da NB di chuyển vào vùng da tại vị trí đặt catheter và tụ tập dọc theo chiều dài bề mặt ống thông tới đầu ống thông; đây là con đường nhiễm khuẩn thông thường nhất ở các catheter ngắn ngày và là tình huống thường gặp trong NKH sớm.
  2. Vi khuẩn xâm nhập trực tiếp vào nắp cửa bơm thuốc (Hub) do tiếp xúc với bàn tay, hoặc do dịch bị nhiễm, hoặc do thiết bị đặt bị nhiễm.
  3. Do các máu tụ và/hoặc mảnh tế bào bị nhiễm khuẩn, có thể từ kỹ thuật đặt hoặc từ nơi khác di chuyển đến (ít gặp hơn).
  4. Từ dịch truyền hoặc thuốc bị nhiễm trong quá trình pha thuốc và dịch đưa vào (hiếm gặp).

Khi tác nhân gây bệnh xâm nhập vào trong lòng catheter, chúng tiết ra các màng sinh học (biofilm) là những chất sinh học bao bọc vi khuẩn, làm cho đại thực bào và kháng sinh không thể tiếp cận để tiêu diệt. Từ đó, các vi khuẩn theo dòng máu di chuyển đến các cơ quan trong cơ thể và gây nhiễm khuẩn toàn thân hoặc khu trú.


Tại Việt Nam, nghiên cứu về tác nhân lây truyền qua đường đặt catheter còn ít. Tác nhân gây NKH thường gặp trong nhiều nghiên cứu của các tác giả được trình bày như sau:

Tác nhân phân lập từ đường máu NNIS (1990) Bạch Mai (2010) * BV Chợ Rẫy (2009) ** 5 BV TPHCM (2010) ***
Gram âm
Klebs iella pneumonia 0,0 10,0 14,1 15,89
P. aeruginosa 0,0 3,0 17,9 7,48
Acinetobacter spp. 0,0 5,0 22,6 8,41
Escherichia coli 0,0 17,8 14,5 12,15
Enterobacter spp 5,3 1,7 0,93
Gram dương
Staphylococus aureus 16,1 13,6 5,9 12,15
SCN 2,7 2,7 16,2 19,63
Streptococcus spp 0,0 10,7 - 2,8
Enteroccocus 3,6 3,6 - 0,93
Khác
Candida 10,2 0,0 0,9 -

*Đoàn Phương Mai, ** Phạm Thị Ngọc Thảo, *** Nguyễn Thanh Bảo,

Phân loại catheter theo vị trí đặt

Phân loại theo mạch máu

  • Catheter đặt vào trong động, tĩnh mạch ngoại biên
  • Catheter đặt vào tĩnh mạch trung tâm
  • Catheter đặt vào tĩnh mạch trung tâm từ ngoại biên
  • Catheter đặt vào trong động mạch

Phân loại theo thời gian sử dụng

  • Catheter đặt tạm thời
  • Catheter đặt ngắn ngày
  • Catheter đặt dài ngày

Phân theo vị trí đặt

  • Catheter tĩnh mạch dưới đòn
  • Catheter tĩnh mạch bẹn
  • Catheter tĩnh mạch cảnh trong
  • Catheter ngoại biên
  • Catheter trung tâm từ ngoại biên
  • Catheter đặt từ da tạo thành đường hầm dẫn vào mạch máu (catheter tạo đường hầm hoặc không tạo đường hầm)
  • Catheter có tẩm kháng sinh, thuốc kháng khuẩn, thuốc chống đông (heparin)…
  • Catheter nhiều đường vào

Triệu chứng của nhiễm khuẩn tại chỗ đặt catheter vào trong lòng mạch

Tiêu chuẩn về nhiễm trùng huyết được thảo luận ở chủ đề riêng: Nhiễm trùng huyết và sốc nhiễm trùng

Đối với những catheter đặt bình thường

  • Chảy mủ tại vị trí đặt.
  • Có dấu hiệu hay triệu chứng viêm trong phạm vi 2 cm kể từ vị trí đặt (sốt > 38 o C, sưng, nóng, đỏ, đau tại vùng mạch máu tổn thương) với cấy bán định lượng đầu catheter nội mạch <15 cfu.

Đối với những catheter khi đặt tạo thành túi tại vị trí đặt

  • Chảy mủ tại vị trí đặt túi.
  • Phân lập được vi khuẩn từ túi đặt dưới da dù có hay không có dấu hiệu nhiễm khuẩn tại nơi đặt.
  • Có dấu hiệu hay triệu chứng nhiễm khuẩn đặc biệt của túi đặt mà không có nhiễm khuẩn từ nơi khác.

Đối với những catheter trung tâm có tạo đường hầm

  • Phân lập được vi khuẩn từ trong động mạch hay tĩnh mạch nơi đặt catheter.
  • Có dấu hiệu hay triệu chứng viêm trong phạm vi 2 cm kể từ vị trí đặt.

BIỆN PHÁP PHÒNG NGỪA

Giáo dục, đào tạo nhân viên y tế

  • Nhân viên y tế (NVYT) phải được huấn luyện, giáo dục việc tuân thủ chỉ định, quy trình đặt và chăm sóc catheter đặt trong lòng mạch cùng các biện pháp kiểm soát nhiễm khuẩn (KSNK) nhằm giảm nhiễm khuẩn huyết (NKH) liên quan đến đặt catheter.
  • Cơ sở khám chữa bệnh (KBCB) phải đánh giá định kỳ kiến thức và mức độ tuân thủ của toàn bộ NVYT có liên quan đến việc đặt và chăm sóc catheter.
  • Cần bảo đảm NVYT đã được đào tạo trực tiếp thực hiện đặt và chăm sóc catheter.

Lựa chọn vị trí và chăm sóc loại catheter

Catheter ngoại biên và catheter có độ dài trung bình

  • Việc lựa chọn catheter cần dựa trên mục đích và thời gian sử dụng, các biến chứng nhiễm khuẩn hoặc không nhiễm khuẩn (viêm mao mạch và rò rỉ dịch) và kinh nghiệm của từng cá nhân khi đặt catheter.
  • Ở người lớn, nên ưu tiên sử dụng mạch máu vùng chi trên. Trong trường hợp bắt buộc phải đặt đường truyền ở chi dưới, cần chuyển vị trí đặt từ chi dưới lên chi trên nếu có thể thay đổi.
  • Ở trẻ em, cần ưu tiên lựa chọn chi trên. Trong trường hợp không còn nơi khác, có thể đặt catheter ở chi dưới hoặc tại vùng da đầu lành lặn.
  • Tránh sử dụng kim bằng thép để truyền dịch và thuốc do nguy cơ gây hoại tử mô và có thể làm thấm dịch ra ngoài mạch máu.
  • Nên sử dụng ống catheter có độ dài trung bình đặt vào mạch máu trung tâm khi thời gian điều trị kéo dài trên 6 ngày.
  • Cần thăm khám hằng ngày bằng quan sát trực tiếp để phát hiện dấu hiệu sưng, nóng, đỏ tại vị trí đặt catheter khi sử dụng loại băng keo trong. Không nên tháo bỏ bông gạc vô khuẩn che phủ vị trí đặt catheter chỉ để xem nếu không có dấu hiệu nhiễm khuẩn.
  • Rút bỏ catheter trong trường hợp có sưng, nóng, đỏ, đau tại vị trí đặt hoặc có những dấu hiệu NKH có liên quan đến đặt catheter.

Catheter trung tâm

  • Cần cân nhắc giữa lợi ích, nguy cơ và hậu quả trước khi tiến hành đặt catheter trung tâm, do các biến chứng cơ học liên quan đến thủ thuật đặt tĩnh mạch trung tâm như tràn khí màng phổi, thủng động mạch dưới đòn, rách hoặc gây chít hẹp tĩnh mạch dưới đòn, tràn máu, thuyên tắc mạch, thuyên tắc khí và khả năng đặt nhầm.
  • Không nên đặt catheter trung tâm từ mạch máu vùng bẹn ở người lớn, vì ở vị trí này nguy cơ NKH cao hơn do nằm gần với đường đại tiện và đường tiểu tiện.
  • Ưu tiên lựa chọn vị trí đặt catheter từ tĩnh mạch dưới đòn hoặc tĩnh mạch cảnh hơn là sử dụng tĩnh mạch bẹn nhằm giảm tới mức thấp nhất nguy cơ nhiễm khuẩn khi đặt catheter và trường hợp không tạo đường hầm.
  • Không nên sử dụng tĩnh mạch cảnh cho chạy thận nhân tạo hoặc thay huyết tương, đồng thời tránh áp dụng ở những NB có bệnh thận, nhằm phòng ngừa nguy cơ gây hẹp tĩnh mạch dưới đòn.
  • Nên sử dụng phương pháp tạo đường thông động mạch - tĩnh mạch cho những NB suy thận mạn tính cần đặt catheter trung tâm để thiết lập và thực hiện chạy thận nhân tạo.
  • Nên đặt catheter trung tâm dưới hướng dẫn của siêu âm nếu kỹ thuật này sẵn có trong bệnh viện nhằm làm giảm số lượng catheter phải sử dụng và giảm biến chứng cơ học do thủ thuật đặt. Việc thực hiện kỹ thuật này chỉ được tiến hành khi người thực hiện đã được đào tạo về sử dụng máy siêu âm để đặt.
  • Nên lựa chọn catheter có ít cửa bơm thuốc, hoặc chỉ sử dụng những đường truyền cần thiết tương ứng với nhu cầu điều trị trên NB.
  • Cần rút bỏ catheter ngay khi không còn chỉ định cho chẩn đoán và điều trị.
  • Thay đường truyền càng sớm càng tốt khi quá trình đặt và kỹ thuật đặt không đảm bảo vô khuẩn (ví dụ trong tình trạng khẩn cấp) và việc thực hiện nên tiến hành trong vòng 48 giờ.

Catheter động mạch ngoại biên và thiết bị theo dõi áp lực đặt trong lòng mạch

  • Đối với người lớn, nên dùng vị trí mạch quay, mạch vùng gót, ngón và mu bàn chân thay vì động mạch đùi hoặc nách để đặt catheter, nhằm giảm nguy cơ nhiễm khuẩn.
  • Đối với trẻ em, không nên sử dụng mạch máu ở vùng ngón chân. Vùng gót, mu bàn chân và mặt sau xương chày được ưu tiên hơn so với động mạch đùi và nách. Trong suốt quá trình đặt vào động mạch đùi hoặc nách, cần sử dụng tối đa phương tiện vô khuẩn trong toàn bộ thời gian đặt catheter.
  • Tối thiểu phải có mũ, khẩu trang, găng vô khuẩn và tấm săng lỗ che phủ vùng động mạch trong quá trình đặt catheter vào động mạch.
  • Chỉ thay thế catheter động mạch duy nhất khi có chỉ định trên lâm sàng.
  • Khi không còn cần thiết, phải rút bỏ ống thông động mạch.
  • Nên sử dụng các bộ chuyển đổi loại dùng 1 lần rồi bỏ hơn là loại tái sử dụng.
  • Không nên thay thế thường quy các ống thông động mạch nhằm mục đích ngăn ngừa NKH liên quan đến việc đặt trong lòng mạch.
  • Cần đảm bảo giữ tất cả các thành phần của hệ thống theo dõi áp lực (bao gồm các thiết bị có nòng và dung dịch bơm rửa) luôn vô khuẩn.
  • Nên dùng hệ thống súc rửa kín (bao gồm thiết bị rửa liên tục) thay cho hệ thống hở (ví dụ hệ thống cần thêm bơm tiêm và vòi khóa), đồng thời hạn chế đến mức thấp nhất mọi sự đụng chạm vào hệ thống theo dõi áp lực.
  • Cần sử dụng hệ thống theo dõi xuyên qua màng ngăn thay vì một cái khóa; trước khi đưa vào hệ thống, phải chà rửa màng ngăn bằng dung dịch khử khuẩn thích hợp.
  • Không được sử dụng đường theo dõi áp lực động mạch để tiêm truyền hoặc nuôi ăn tĩnh mạch.
  • Khi sử dụng bộ chuyển đổi loại tái sử dụng, phải tiệt khuẩn theo khuyến cáo của nhà sản xuất.

Vệ sinh tay và kỹ thuật vô khuẩn

  • Phải thực hiện rửa tay với xà phòng và nước hoặc sát khuẩn tay bằng dung dịch có chứa cồn trước khi tiếp xúc với đường truyền.
  • Trong quá trình đặt và chăm sóc, cần duy trì kỹ thuật vô khuẩn cho các thao tác như: đặt catheter, thay ống thông, sửa chữa, bơm thuốc và thay gạc che phủ đường truyền.
  • Cần mang găng sạch khi đặt catheter ngoại biên có nguy cơ phơi nhiễm với máu. Không được chạm vào vùng da đã sát khuẩn, thân kim, đốc kim hoặc cửa bơm thuốc của hệ thống tiêm truyền.
  • Phải mang găng vô khuẩn khi đặt catheter động mạch, catheter trung tâm và catheter trung tâm từ ngoại biên.
  • Trước khi thực hiện đặt đường truyền mới hoặc khi thay ống dẫn mới, phải sử dụng găng tay vô khuẩn mới.
  • Sau khi tháo găng và kết thúc quy trình đặt catheter, phải rửa tay.

Phương tiện vô khuẩn khi đặt catheter

  • Cần sử dụng tối đa phương tiện vô khuẩn bao gồm mũ, khẩu trang, áo choàng, găng tay vô khuẩn và tấm phủ vô khuẩn che kín NB, trừ nơi đặt catheter khi đặt catheter trung tâm, catheter trung tâm từ ngoại biên hoặc khi thay đổi đường dẫn.
  • Nên sử dụng một tấm phủ có lỗ để thực hiện thao tác đặt đường truyền trung tâm trong suốt quá trình tiến hành (khi đưa catheter vào động mạch phổi).

Chuẩn bị vùng đặt catheter

  • Trước khi đặt đường truyền mạch máu ngoại biên, phải sát khuẩn da bằng dung dịch cồn 70% hoặc hỗn hợp cồn trong I ốt, hoặc cồn trong chlorhexidine.
  • Cần sát trùng da với Chlorhexidine 0,5% trong cồn hoặc iodophor 10 đơn vị trước khi đặt catheter trung tâm và catheter động mạch ngoại biên, đồng thời áp dụng khi thay gạc che phủ. Trường hợp có chống chỉ định với Chlorhexidine, hợp chất iodine hoặc iodophor thì cồn 70% có thể được dùng để thay thế.
  • Không nên sử dụng Chlorhexidine cho trẻ < 2 tháng tuổi.
  • Sau khi sát khuẩn, phải để khô ít nhất 30 giây trước khi đặt catheter.

Thay gạc che phủ tại vị trí đặt catheter

  • Phải dùng gạc vô khuẩn (gạc dạng bán thấm, gạc trong suốt) để che phủ vị trí đặt catheter. Thay gạc che phủ khi gạc bị ẩm ướt, không còn kín, hoặc nhìn thấy bẩn.
  • Không sử dụng kháng sinh dạng mỡ hoặc kem bôi lên vị trí đặt catheter.
  • Khi tắm, không để vị trí đặt thấm nước; cần che phủ vị trí đặt để làm giảm nguy cơ nhiễm khuẩn.
  • Cần thay gạc tại vị trí đặt: mỗi 2 ngày đối với gạc thông thường và mỗi 7 ngày đối với gạc trong suốt vô trùng hoặc miếng tẩm Chorhexidine khi lưu catheter có độ dài trung bình. Ở bệnh nhi, phải thay ngay khi gạc che phủ bị tuột, thấm nhiều máu và không còn tác dụng che phủ vô trùng.
  • Đối với những vị trí như cấy ghép catheter trung tâm hoặc catheter tạo đường hầm, phải thay khi được 1 tuần hoặc khi vị trí bị hỏng.
  • Nên sử dụng miếng gạc có tẩm chlorhexidine cho người lớn và bệnh nhi trên 2 tháng tuổi khi đặt catheter trung tâm.
  • Phải theo dõi tình trạng nhiễm khuẩn tại vị trí đặt trong quá trình thăm khám và thay gạc dựa trên những quy định và tình trạng lâm sàng được phép đối với NB. Nếu NB có dấu hiệu sưng, nóng ở vị trí đặt, kèm sốt mà không tìm được nguyên nhân hoặc có các biểu hiện nghi ngờ nhiễm khuẩn tại nơi đặt hoặc có NKH, cần rút bỏ ngay đường truyền.

Vệ sinh da người bệnh

  • Nên sử dụng chlohexidine 2% (dạng xà phòng tắm hoặc dung dịch lau sạch) để vệ sinh da hằng ngày, nhằm giúp làm giảm NKH liên quan đến đặt catheter.

Những loại catheter được thiết kế đặc biệt

Sử dụng kim luồn đưa vào mạch máu

  • Không cần thiết phải thay đổi đường truyền thường quy mỗi 72 giờ.
  • Không cần thiết thay đổi chỗ nối của hệ thống tiêm truyền mỗi 72 giờ hoặc phải thực hiện theo khuyến cáo của nhà sản xuất cho mục đích giảm tần suất nhiễm khuẩn.
  • Cần bảo đảm rằng tất cả các thành phần của hệ thống có khả năng làm giảm tối thiểu nguy cơ hỏng hoặc vỡ của hệ thống.
  • Phải giới hạn đến mức thấp nhất nguy cơ nhiễm khuẩn cho hệ thống tiêm truyền bằng cách sát khuẩn cửa bơm thuốc (bằng chlorhexidine, povidone iodine, iodophor hoặc cồn 70 độ) và giữ cho cửa đưa thuốc vào bằng thiết bị vô khuẩn.
  • Khi sử dụng thiết bị tiêm truyền thuốc qua cửa bơm là hệ thống van, nên dùng thiết bị có hệ thống van có màng ngăn thay vì các hệ thống van cơ học do nguy cơ nhiễm khuẩn gia tăng.

Loại catheter có phin lọc

  • Không nên sử dụng thường quy loại catheter có phin lọc chỉ vì cho rằng hiệu quả hơn trong việc ngăn ngừa nhiễm trùng máu.
  • Chỉ sử dụng trên một số đối tượng có nguy cơ NKH cao. Khi dùng catheter loại này có thể xảy ra hiện tượng lấy bớt đi thuốc do màng lọc và gây tắc màng lọc.
  • Nên sử dụng hệ thống tiêm truyền kín, có thể kiểm soát được áp lực đường truyền mà không cần phin lọc khí hoặc kim thông khí nhằm mục đích giảm nguy cơ nhiễm khuẩn.

Sử dụng kháng sinh dự phòng toàn thân

  • Không khuyến cáo sử dụng kháng sinh dự phòng toàn thân cho NB trước, trong quá trình đặt và khi lưu catheter trung tâm chỉ nhằm mục đích ngăn ngừa sự tụ tập của vi khuẩn và NKH.

Thuốc chống đông

  • Không nên sử dụng thường quy thuốc chống đông với mục đích giảm nguy cơ NKH ở NB có đặt đường truyền vào mạch máu.

Thay thế đường truyền và hệ thống tiêm truyền

Thay catheter ngoại biên và catheter có độ dài trung bình

  • Đối với người lớn, không khuyến cáo thay catheter ngoại biên thường quy trước 72 – 96 giờ.
  • Đối với trẻ em, chỉ thay catheter khi có chỉ định trên lâm sàng.
  • Chỉ thay catheter có độ dài trung bình khi có chỉ định lâm sàng đặc biệt như viêm mao mạch hoặc NKH.

Thay catheter tĩnh mạch trung tâm

  • Không khuyến cáo thay catheter tĩnh mạch trung tâm một cách thường quy, bao gồm cả catheter tĩnh mạch trung tâm từ ngoại biên ngắn ngày, ống thông động mạch phổi và catheter trong chạy thận nhân tạo, nhằm mục đích giảm NKH.
  • Không khuyến cáo rút catheter tĩnh mạch trung tâm hoặc catheter tĩnh mạch trung tâm từ ngoại biên chỉ vì xuất hiện một mình triệu chứng sốt. Cần đánh giá thêm các dữ liệu lâm sàng khác để chứng minh có bằng chứng nhiễm khuẩn mới và phù hợp với chỉ định rút.
  • Trong trường hợp bắt buộc phải thay catheter, không sử dụng dây dẫn hướng (guidewire) tại vị trí đường cũ.

Thay catheter rốn

  • Rút bỏ ngay và không thay ống thông động mạch hoặc tĩnh mạch rốn khác nếu có bất kỳ dấu hiệu nào của NKH liên quan, suy tuần hoàn ở đầu chi dưới hoặc thuyên tắc mạch máu xuất hiện.
  • Phải sát khuẩn vị trí đặt ống thông vào hệ thống mạch máu rốn trước khi tiến hành đặt. Tránh sử dụng cồn I ốt vì nguy cơ gây suy giáp tiềm tàng ở trẻ sơ sinh. Các sản phẩm khác có chứa I ốt như povidone iodine có thể sử dụng.
  • Nên cho heparine liều thấp (0,25 – 1 đơn vị/ml) bơm trực tiếp vào đường truyền sau khi kết thúc truyền.
  • Phải thay catheter rốn nếu bị hỏng và bảo đảm thời gian lưu không quá 5 ngày đối với động mạch và không quá 14 ngày đối với tĩnh mạch rốn.

Thay thế hệ thống tiêm truyền

  • Các đường truyền không phải máu, sản phẩm của máu hoặc mỡ không cần thiết phải thay thường quy trước 96 giờ và không nên để quá 7 ngày, kể cả khi có thay thế đường truyền hoặc gắn thêm thiết bị.
  • Dây truyền máu, sản phẩm của máu hoặc mỡ không được để quá 24 giờ.

Loại vật liệu catheter

  • Ưu tiên sử dụng catheter làm bằng teflon hoặc polyurethane vì ít nguy cơ biến chứng nhiễm khuẩn hơn so với catheter làm bằng povinyl chloride hoặc polyethylene.
  • Cần sử dụng catheter dạng kim luồn trong lòng mạch; không lưu kim bằng kim loại trong lòng mạch.

Nguyên tắc vô khuẩn khi đặt và chăm sóc catheter

Đối với catheter ngoại biên

  • Phải lựa chọn vị trí đặt an toàn, ít nguy cơ nhiễm khuẩn.
  • Phải rửa tay bằng xà phòng có tính sát khuẩn (có chứa iôt 4 đơn vị hoặc chlorhexidine 2%) và nước, hoặc sát khuẩn tay bằng dung dịch có chứa cồn (nếu bàn tay trước đó không dính máu và dịch cơ thể).
  • Mang găng:
    • Găng tay sạch khi có nguy cơ tiếp xúc với máu.
    • Găng tay vô khuẩn khi đặt catheter trung tâm hoặc catheter trung tâm từ mạch máu ngoại biên.
  • Kỹ thuật sát khuẩn da vùng đặt phải đúng quy trình: một là dùng kỹ thuật sát khuẩn xoáy trôn ốc từ trong ra ngoài, hoặc kỹ thuật sát khuẩn theo chiều dọc từ trong ra ngoài từ trên xuống; sát khuẩn ít nhất 2 lần, giữa hai lần sát khuẩn, và trước khi đặt catheter da phải khô.
  • Cần sát khuẩn da bằng chất sát khuẩn trước khi tiêm; có thể lựa chọn chlorhexidine 0,5% cho người lớn và trẻ lớn hoặc iode 10% trong cồn trước khi đặt (có thể dùng cồn 70 %, povidone-iodine được bảo quản kỹ).
  • Không được sử dụng cồn có chứa Iốt cho trẻ sơ sinh, nhưng có thể dùng povidone-iodine.

Đối với catheter tĩnh mạch trung tâm

  • Cần chọn vị trí đặt an toàn, ít nguy cơ nhiễm khuẩn.
  • Phải rửa tay với dung dịch có tính sát khuẩn (xà phòng khử khuẩn có chứa I ôt hoặc chlorhexidine 4% hoặc 2%). Trường hợp không có xà phòng sát khuẩn thì rửa tay với xà phòng và nước, sau đó sát khuẩn lại với cồn 70% hoặc cồn trong I ốt, hoặc cồn trong Chlorhexidine.
  • Phải mang phương tiện vô khuẩn: áo choàng, mũ, găng tay, khẩu trang.
  • Chuẩn bị bộ dụng cụ đặt vô khuẩn đã được chuẩn hóa theo yêu cầu của một bộ dụng cụ đặt catheter trung tâm vô khuẩn và luôn sẵn sàng cung cấp cho người thực hiện đặt.
  • Kỹ thuật sát khuẩn da vùng đặt phải đúng quy trình: một là dùng kỹ thuật sát khuẩn xoáy trôn ốc từ trong ra ngoài, hoặc kỹ thuật sát khuẩn theo chiều dọc từ trong ra ngoài, từ trên xuống; sát trùng ít nhất 2 lần, giữa hai lần sát khuẩn, và trước khi đặt catheter da phải khô.
  • Cần sát khuẩn da bằng chlorhexidine 0,5% với người lớn và trẻ lớn hoặc iode 10% trong alcohol trước khi đặt. Trong trường hợp không có cồn chuyên dụng (có thể dùng cồn 70 %, povidone-iodine).
  • Không dùng cồn có chứa Iốt cho trẻ sơ sinh, nhưng có thể dùng povidin iodine.
  • Đối với trẻ sơ sinh khi bơm thuốc vào mạch máu rốn, trước khi bơm nên dùng 0,25 – 1 đơn vị/ml Heparin bơm qua ống thông động mạch rốn. Các catheter đặt vào động mạch rốn không nên để quá 5 ngày; đối với tĩnh mạch rốn không quá 14 ngày nếu để trong điều kiện vô trùng.

Kiểm soát việc pha chế dịch truyền

  • Chuẩn bị thuốc và dung dịch nuôi dưỡng tại khu vực riêng, bảo đảm điều kiện vô khuẩn; không nên pha chế ngay tại buồng bệnh.
  • Cần sử dụng hệ thống tiêm truyền kín khi đặt đường truyền trung tâm.
  • Nghiêm cấm sử dụng các loại dung dịch tiêm truyền không bảo đảm chất lượng đóng gói, bao bì; bị nứt, vỡ, hết hạn sử dụng hoặc có biến đổi về chất lượng thuốc.
  • Khuyến cáo dùng thuốc đơn liều cho NB. Trong trường hợp đa liều, phần thuốc còn lại phải được bảo quản đúng theo hướng dẫn của nhà sản xuất.
  • Không được sử dụng thuốc đã rút trên cùng một bơm tiêm chia nhiều lần để tiêm cho nhiều NB dù đã thay kim.

Vô khuẩn khi chia liều thuốc

  • Sử dụng và bảo quản theo đúng khuyến cáo của nhà sản xuất.
  • Phải sát khuẩn cửa rút thuốc với cồn 70 độ và để khô trước khi lấy thuốc.
  • Phải sử dụng phương tiện vô khuẩn để lấy thuốc ra nhằm tránh đưa các dụng cụ nhiễm khuẩn vào trước khi thực hiện lấy thuốc và dịch. Không được phép lưu kim rút thuốc hoặc dịch sau khi đã hoàn tất pha dịch (trong mỗi đợt pha thuốc, dịch).
  • Phải loại bỏ ngay thuốc nếu không bảo đảm chất lượng hoặc tính vô khuẩn.

Giám sát

  • Cần thường xuyên giám sát và phát hiện các ca NKH trên NB có đặt catheter, qua đó xác định được tỷ lệ nền. Khi tỷ lệ vượt quá mức nền, phải xác định nguyên nhân dịch và triển khai can thiệp kịp thời.
  • Xây dựng các bảng kiểm đối với thực hành của NVYT khi thực hiện quy trình đặt catheter.
  • Nên thường xuyên báo cáo các thống kê về việc sử dụng tiêm truyền mạch máu, thời gian, số lượng, nhằm góp phần hình thành chính sách KSNK.

Thực hiện các biện pháp cải tiến

  • Tất cả các bệnh viện và các đơn vị liên quan cần nhận thức việc lựa chọn những giải pháp tổng hợp, có khả năng triển khai tại bệnh viện.
  • Các giải pháp tổng hợp phải không tốn kém, dễ thực hiện, hiệu quả cao và có bằng chứng y học kiểm chứng.

TÓM TẮT MỘT SỐ BIỆN PHÁP CƠ BẢN CÓ HIỆU QUẢ LÀM GIẢM NHIỄM KHUẨN HUYẾT

  • Đào tạo và giáo dục nhân viên y tế, đặc biệt những người trực tiếp thực hiện việc đặt và chăm sóc các catheter.
  • Vệ sinh tay.
  • Sát khuẩn da phù hợp.
  • Khi đặt catheter mạch máu trung tâm, cần sử dụng tối đa phương tiện vô khuẩn (áo choàng, khẩu trang, găng tay và săng lỗ che phủ vùng đặt).
  • Chọn vị trí đặt ít nguy cơ lây nhiễm nhất.
  • Rút sớm nếu không còn cần thiết và lựa chọn loại catheter thích hợp.
  • Giám sát việc thực hiện đặt catheter, phát hiện và phản hồi những ca NKH liên quan đến người thực hiện thủ thuật.

Xây dựng gói Phòng ngừa nhiễm trùng huyết liên quan đến đường truyền trung tâm được thảo luận tại: Central Line Bundle - Gói đường truyền trung tâm

HÓA CHẤT SỬ DỤNG TRONG SÁT KHUẨN DA VÙNG ĐẶT CATHETER

Cồn (AlCOHOL)

Thành phần:
  • Cồn Ethyl và cồn Isopropyl.
Phổ tác dụng:
  • Những loại cồn này có khả năng diệt khuẩn hơn là kìm khuẩn. Đồng thời có thể diệt được trực khuẩn lao, nấm và vi rút nhưng không phá hủy bào tử vi khuẩn. Nồng độ diệt khuẩn tối thiểu thay đổi từ 60 – 90% thể tích.
Cơ chế tác dụng:
  • Do phá hủy protein của vi khuẩn. Khả năng diệt khuẩn của cồn tốt hơn khi sử dụng hỗn hợp cồn và nước, vì các protein của vi khuẩn nhanh chóng bị phá hủy trong môi trường nước; do đó thường không bao giờ dùng cồn nguyên chất.
  • Khả năng diệt khuẩn của cồn phụ thuộc vào nồng độ, thời gian tiếp xúc và loại vi khuẩn. (Pseudomonas aeruginosa bị diệt bởi cồn Ethyl trong vòng 10 giây đến 1 giờ ở nồng độ từ 30 – 100%).
  • Cồn có khả năng tiêu diệt vi rút với mức độ khác nhau tùy theo nhóm vi rút. Trong đó nhóm Ethyl có thể diệt được vi rút; Isopropyl có thể diệt được vi rút, nhưng cồn Ethyl không diệt được vi rút viêm gan B, trong khi Isopropyl diệt được cả vi rút viêm gan B và HIV.
Chỉ định:
  • Sát khuẩn da nơi tiêm truyền, sát khuẩn vết thương.
  • Sát khuẩn bề mặt xe tiêm chích (cần khẩn cấp).
  • Không sử dụng cồn cho mục đích tiệt khuẩn dụng cụ.

Chlorhexidin

  • Thành phần: Là dẫn xuất của biguanid.
  • Tính chất hóa học: Là chất rất kiềm; thường được sử dụng ở dạng digluconat hoặc diacetat. Chlorhexidin rất tan trong ethanol. Hấp thụ kém ở da bình thường; nếu da bị xước, mức hấp thụ sẽ tăng. Có 98% lượng thuốc gắn vào da. Không hấp thu qua ống tiêu hóa và được thải hoàn toàn qua phân.
  • Phổ tác dụng: Tác dụng kìm và diệt khuẩn phổ rộng, ít độc với người. Thường dùng trong sát khuẩn da với nồng độ 2%0,5%.
  • Dạng sử dụng: Dùng dưới dạng dung dịch nước, dung dịch rượu, thuốc mỡ, thuốc đánh răng, nước xúc miệng.
  • Chỉ định: Sát khuẩn da vùng tiêm truyền; dung dịch chlorhexidine có tác dụng nhanh. Dùng rửa tay trước khi mổ. Ngoài ra còn sử dụng trong phụ khoa, khoa tiết niệu (rửa bàng quang), sát khuẩn trẻ sơ sinh, tắm người bệnh bỏng. Chlorhexidin còn có tác dụng khử khuẩn ở giác mạc.

Iôt (Iodophors)

  • Thành phần hóa học: Là các hợp chất hữu cơ có chứa iốt; là dạng kết hợp của Iốt và một chất mang hữu cơ hoặc chất hòa tan, giúp giải phóng iốt dần dần. Thường gặp nhất là Povidone Iodinecồn iốt 10%. Iốt và các hợp chất của nó được sử dụng rộng rãi trong chăm sóc sức khỏe.
  • Cơ chế tác dụng: Thấm rất nhanh vào màng tế bào vi khuẩn, phá hủy protein và cấu trúc của acide nucleic và quá trình sinh tổng hợp của vi khuẩn.
  • Tác dụng: Diệt được tất cả các loại vi khuẩn, kể cả trực khuẩn lao, vi rút và nấm, nhưng không diệt được bào tử vi khuẩn. Sử dụng iodophors trong sát trùng da, rửa tay và khử khuẩn một số dụng cụ y khoa. Các chế phẩm sẵn có trên thị trường thường không diệt được nha bào.
  • Dạng sử dụng: Thường sử dụng dưới dạng pha loãng trong nước và alcohol.
  • Chỉ định: Sát khuẩn da và mô cơ quan. Có thể được sử dụng cho cả khử khuẩn và sát khuẩn.
  • Chú ý: Không dùng cho trẻ sơ sinh kéo dài vì có thể gây suy giáp.

Tài liệu tham khảo

  1. Hướng dẫn phòng ngừa nhiễm khuẩn huyết trên người bệnh đặt catheter trong lòng mạch. Ban hành theo Quyết định số: 3671/QĐ-BYT 27/09/2012 của Bộ Y Tế