Đặt Catheter tĩnh mạch trung tâm (không dùng siêu âm)

Post key: 1787ff67-eca5-5abc-8fe5-65cccb513447
Slug: đat-catheter-tinh-mach-trung-tam-khong-dung-sieu-am
Excerpt: Đặt catheter tĩnh mạch trung tâm (CVC) không dùng siêu âm là thủ thuật thường gặp trong cấp cứu và ICU nhằm (1) truyền thuốc vận mạch, nuôi dưỡng hoàn toàn đường tĩnh mạch và các thuốc cần đường tĩnh mạch trung tâm; (2) theo dõi áp lực tĩnh mạch trung tâm (CVP); (3) truyền nhanh chế phẩm máu/dịch thể tích lớn; và có thể hỗ trợ tạo nhịp, lọc máu. Bài trình bày chỉ định, chống chỉ định tương đối theo tình trạng huyết khối/nhiễm khuẩn tại vị trí dự kiến, rối loạn đông máu/giảm tiểu cầu, và các biến chứng (chọc nhầm động mạch, tràn khí/dịch/máu màng phổi, tắc mạch do khí/huyết khối, chảy máu sau phúc mạc, nhiễm khuẩn). Kỹ thuật đặt theo phương pháp Seldinger qua ba đường: tĩnh mạch cảnh trong, tĩnh mạch dưới đòn và tĩnh mạch đùi; kèm hướng dẫn tư thế bệnh nhân, mốc giải phẫu/chọc kim, luồn guidewire, nong đường vào, luồn catheter, tráng rửa các cổng (NaCl 0,9% ± heparin liều thấp) và cố định, sau đó kiểm tra vị trí bằng X-quang ngực. Phần theo dõi bao gồm đo CVP thủ công bằng cột nước và/hoặc đo bằng monitor (zero ngang mức tim tại đường nách giữa liên sườn 4), quy đổi đơn vị và ý nghĩa CVP (đại cương: thấp gợi ý thiếu dịch/khả năng đáp ứng dịch; cao gợi ý thừa dịch), lưu ý giá trị CVP bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố và có thể nhường vai trò cho các phương pháp đánh giá huyết động khác. Tài liệu tham khảo: Central Venous Catheterization (Critical Care 2018/2012) và Measuring of central venous pressure; Convert cmH2O to mmHg - Conversion of Measurement Units.
Recognized tags: thu-thuat, icu, cap-cuu, kiem-soat-nhiem-khuan, hinh-anh

GIỚI THIỆU

Là thủ thuật thường được thực hiện tại các khoa cấp cứu và ICU.
Dụng cụ đặt Catheter tĩnh mạch trung tâm

TỔNG QUAN

Chỉ định

  1. Dùng để truyền thuốc vận mạch, nuôi dưỡng hoàn toàn bằng đường tĩnh mạch hoặc sử dụng các thuốc khác mà cần phải dùng theo đường tĩnh mạch trung tâm.
  2. Dùng để theo dõi áp lực tĩnh mạch trung tâm (cvp).
  3. Khi cần truyền nhanh các chế phẩm máu hoặc dịch với thể tích lớn.
  4. Khi cần thiết lập một đường truyền tĩnh mạch cấp cứu.
Ngoài ra, qua đường tĩnh mạch trung tâm còn có thể sử dụng để tạo nhịp tim và lọc máu (catheter lọc máu).

Chống chỉ định

  1. Có huyết khối đã được xác định của tĩnh mạch dự định đặt catheter.
  2. Nhiễm khuẩn tại vị trí dự định chọc kim luồn Catheter vào tĩnh mạch.
  3. Rối loạn đông máu hoặc giảm tiểu cầu (không có tiêu chuẩn rõ ràng để quyết định nên hay không nên thực hiện; việc điều chỉnh bằng truyền huyết tương tươi đông lạnh và/ hoặc tiểu cầu hoặc sử dụng bộ catheter có kim chọc nhỏ [Micropuncture kit] có thể phù hợp ở nhóm bệnh nhân này).

Biến chứng

Các biến chứng thường gặp:
  1. Chọc phải động mạch (rút kim, băng ép 10 - 15 phút).
  2. Tràn khí/ dịch/ máu màng phổi (dẫn lưu).
  3. Tắc mạch hơi/ huyết khối.
  4. Chảy máu sau phúc mạc.
  5. Nhiễm khuẩn (lây lan liên quan đến catheter, nhiễm khuẩn tại vị trí chân catheter, viêm mô tế bào).
Về tổng quan, đặt catheter tĩnh mạch trung tâm qua tĩnh mạch dưới đòn nhìn chung có tỷ lệ biến chứng ít hơn so với qua tĩnh mạch cảnh trong và tĩnh mạch đùi. Tuy nhiên, nhờ có hỗ trợ siêu âm dẫn đường đã được chứng minh là giúp giảm tỷ lệ biến chứng, giảm số lần chọc kim và giảm thời gian tiến hành thủ thuật. Về lợi ích trong chăm sóc catheter cũng như giảm nguy cơ nhiễm khuẩn thì đặt catheter qua đường tĩnh mạch cảnh trong có ưu thế hơn.
Trước khi tiến hành thủ thuật, cần giải thích cho bệnh nhân/người giám hộ và ký cam kết đồng ý làm thủ thuật. Trong quá trình làm thủ thuật, phải tuân thủ các nguyên tắc vô khuẩn như: vệ sinh tay, trải kín săng mổ vô khuẩn, găng tay vô khuẩn, áo choàng, khẩu trang và mũ che tóc. Thường cần có nhân sự hỗ trợ thực hiện các thao tác vô khuẩn và không tham gia vào các thao tác vô khuẩn.

KỸ THUẬT ĐẶT CATHETER TĨNH MẠCH TRUNG TÂM

Thực hiện theo phương pháp Seldinger
  1. Xác khuẩn và gây tê tại chỗ; đuổi khí cả 2 nhánh phụ của catheter bằng NaCL 0.9% (± pha loãng với Heparin).
  2. Vừa đâm kim thăm dò vừa hút, tạo áp lực âm trong bơm tiêm.
  3. Khi thấy máu vào bơm tiêm thì tháo bơm và luồn guide wire qua kim thăm dò, phần dư của guide wire > 12–15cm (theo chiều dài của catheter).
  4. Rút bỏ kim; giữ guide wire (dùng gạc để giữ chân guide wire tại vị trí tiếp xúc với da nhằm hạn chế chảy máu).
  5. Dùng dao rạch khoảng 0,5 cm tại chân guide wire.
  6. Luồn cây nong (dilator) theo guide wire và rút bỏ cây nong ra.
  7. Luồn catheter theo guide wire. Khi đầu catheter tiến gần mặt da, rút ngược guide wire một phần để bảo đảm đầu guide wire nằm ra khỏi catheter; giữ cố định đầu guide wire và đẩy catheter vào sâu khoảng 12 – 15 cm.
  8. Rút guide wire.
  9. Hút máu tại tất cả các cổng và bơm dung dịch NaCL 0.9% (± pha loãng với Heparin) vào các cổng để đuổi khí.
  10. Khâu cố định (chỉ nylon 2/0 – 3 /0).
  11. Băng ép vô trùng (miếng dán vô khuẩn).
  12. Chụp X Quang ngực để kiểm tra.

Qua tĩnh mạch cảnh trong

- Vị trí: Đỉnh của tam giác Sedillo (tạo bởi đáy là xương đòn, 2 cạnh tạo bởi mặt trong của 2 nhánh của cơ ức đòn chũm). Tĩnh mạch nằm ngoài động mạch.
- Hướng kim: Về phía núm vú phải (hoặc điểm giao nhau giữa đường trung đòn và xương sườn 5). Tạo góc với mặt da # 30-45 độ. Vào sâu # 2-3,5 cm.

  1. Đặt bệnh nhân ở tư thế Trendelunburg (đầu thấp chân cao), quay đầu bệnh nhân 45 o về phía đối diện với bên dự định đặt catheter (thường là quay đầu sang trái). Lưu ý: quay đầu quá 30 o có thể làm tăng nguy cơ chọc vào động mạch do chồng lấp tĩnh mạch/ động mạch và ép hẹp tĩnh mạch.
  2. Đội mũ che kín tóc ± mặt nạ che mặt, vệ sinh tay, mặc áo choàng thủ thuật (vô khuẩn mặt tiếp xúc với người bệnh), đi găng vô khuẩn.
  3. Vệ sinh da quanh vị trí dự định chọc kim bằng dung dịch sát khuẩn (vd: Chlorhexedin hoặc Betadin).
  4. Sử dụng săng vô khuẩn phủ toàn bộ bệnh nhân, và một săng vô khuẩn có lỗ hoặc săng mổ để phủ thân mình và chân của bệnh nhân, chỉ lộ da ở vùng cần đặt catheter.
  5. Bơm tráng dịch vào tất cả các cổng của catheter để đảm bảo chức năng hoạt động của catheter và bơm tráng kim chọc mạch.
  6. Xác định tam giác Sedilot (là tam giác được hình thành bởi hai đầu của cơ ức đòn chũm và bờ trên xương ức) và sờ xác định động mạch cảnh.
  7. Gây tê da và tổ chức dưới da với Lidocain 2%.
  8. Bắt động mạch cảnh trong. Chọc ở phía bên ngoài động mạch cảnh bằng kim có kích thước 22G (kim thăm dò), mặt vát của kim ngửa lên trên và tạo một góc 30 - 45 o so với nền da của bệnh nhân, hướng kim về phía nút vú cùng bên; vừa đẩy kim vừa hút chân không. Nếu không thấy máu trào vào bơm tiêm, rút kim ra và thay đổi góc chọc kim theo hướng chếch ra ngoài hơn; nếu thất bại thì chếch vào trong hơn so với góc chọc ban đầu. Tiếp tục sờ tìm động mạch cảnh; khi thấy máu tĩnh mạch trào vào bơm tiêm trong khi hút chân không (cân nhắc đẩy nhẹ kim sâu thêm một ít nữa để đảm bảo kim nằm trong lòng mạch máu). Một khí hút được máu dễ dàng vào bơm tiêm. Giữ cố định kim.
  9. Luồn dây J dẫn đường (J guide wire) vào lòng mạch qua cổng của kim chọc (trường hợp không có cổng sẵn, phải tháo bỏ bơm tiêm trong khi đồng thời dùng ngón trỏ bịt kín đốc kim để giảm nguy cơ tắc mạch hơi; trong khi đó ngón cái và ngón giữa giữ cố định kim). Thường dây dẫn luồn qua dễ dàng không gặp trở ngại gì (một số trường hợp rít nhẹ khi dây dẫn đi qua đầu kim). Nếu luồn dây dẫn khó khăn, cần rút dây dẫn ra và lắp bơm tiêm thử hút máu bằng bơm tiêm để đảm bảo kim vẫn còn trong lòng mạch và thử luồn lại dây dẫn vào lòng mạch. Đoạn dây dẫn còn lại ngoài cơ thể cách vị trí chọc đủ dài dài hơn chiều dài của catheter định đặt để có thể luồn được catheter vào trong lòng mạch qua dây dẫn.
  10. Rút bỏ kim chọc trong khi cố định dây dẫn; đè ép nhẹ bằng gạt tại vị trí chọc để giảm nguy cơ chảy máu.
  11. Dùng mũi dao trích da thành một lỗ nhỏ tại vị trí chọc kim và dây dẫn qua da. Đảm bảo mũi cắt (mũi vát) của lưỡi da ở phía đối ngược với dây dẫn hoặc mũi cắt hướng lên trên và tiến hành trích da bằng một động tác rạch da từ trong ra ngoài.
  12. Luồn cây nong mạch (dilator) qua dây dẫn, tiến hành nong đường dẫn vào mạch máu và rút bỏ cây nong mạch.
  13. Mở đầu xa của catheter chính. Luồn catheter qua dây dẫn. Khi catheter tới gần vị trí chọc kim qua da, kéo nhẹ dây dẫn ra ngoài và đẩy vào catheter tới khi đầu dây dẫn lòi ra khỏi đầu xa của catheter. Giữ cố định đầu của dây dẫn lòi ra và luồn (đẩy) catheter theo dây dẫn vào trong mạch máu tới chiều dài mong muốn, thường khoảng 10 - 12 cm (có khi tới 15 cm).
  14. Giữ cố định catheter và rút bỏ dây dẫn.
  15. Tráng rửa tất cả các cổng của catheter để đảm bảo thông tốt. Bằng cách sử dụng bơm tiêm chứa một lượng nước muối sinh lý (có thể có chứa Heparin nồng độ thấp) hút ngược để khí và máu trào ngược vào bơm tiêm rồi bơm trở lại vào trong mạch máu. Tiếp tục bơm thêm nước muối sinh lý cho đến khi hết máu trong catheter.
  16. Cố định catheter bằng các mũi khâu hình túi hoặc bằng dây cố định chuyên dụng.
  17. Vệ sinh tại chỗ bằng dung dịch sát khuẩn và đặt gạt vô khuẩn bảo vệ, dán keo cố định hoặc sử dụng miếng dán chuyên dụng (Opside vô khuẩn).
  18. Tiến hành chụp X quang ngực sau đặt catheter. Đảm bảo đầu trong của catheter nằm trong tĩnh mạch chủ trên.

Qua tĩnh mạch dưới đòn

- Vị trí: Điểm giữa 1/3 ngoài và 2/3 trong xương đòn, cách bờ dưới xương đòn # 2 cm.
- Hướng kim: Mũi vác kim hướng xuống dưới. Kim hướng về phía hõm ức đi sát dưới xương đòn, song song với mặt da. Vào sâu 2, 5 – 4 cm.

  1. Đặt bệnh nhân ở tư thế Trendelunburg (đầu thấp chân cao, hạ thấp đầu giường), kê một gối ở giữa 2 vai. Quay đầu bệnh nhân sang bên đối diện với bên định đặt đường truyền tĩnh mạch.
  2. Đội mũ che kín tóc ± mặt nạ che mặt, vệ sinh tay, mặc áo choàng thủ thuật (vô khuẩn mặt tiếp xúc với người bệnh), đi găng vô khuẩn.
  3. Vệ sinh da quanh vị trí dự định chọc kim bằng dung dịch sát khuẩn (vd: Chlorhexedin hoặc Betadin).
  4. Sử dụng săng vô khuẩn phủ toàn bộ bệnh nhân, và một săng vô khuẩn có lỗ hoặc săng mổ để phủ thân mình và chân của bệnh nhân, chỉ lộ da ở vùng cần đặt catheter.
  5. Bơm tráng dịch vào tất cả các cổng của catheter để đảm bảo chức năng hoạt động của catheter và bơm tráng kim chọc mạch.
  6. Người làm thủ thuật đặt ngón trỏ của bàn tay không thuận vào hõm ức và ngón cái của bàn tay này trên xương đòn tại vị trí xương đòn uốn cong tiếp giáp với xương sườn 1 (tương ứng với vị trí nối giữa 1/3 ngoài và 1/3 trong của xương đòn). Tĩnh mạch dưới đòn chạy ngang với đường nối giữa ngón trỏ và ngón cái.
  7. Gây tê da và mô dưới da nằm ở dưới xương đòn và phía trên của ngón tay cái của người làm thủ thuật.
  8. Dùng kim thăm dò với mặt vát của mũi kim lên trên, chọc qua da ở phía bên của ngón tay cái của người làm thủ thuật, phía dưới xương đòn (dưới xương đòn khoảng 2 cm và cách phía bên chỗ cong của xương đòn khoảng 2 cm). Hướng mũi kim về phía ngón trỏ (hõm ức), vừa chọc kim vào sâu vừa hút chân không. Luôn giữ kim song song với nền da trong quá trình chọc kim. Nếu kim thăm dò chọc phải xương đòn, dùng ngón tay cái ấn toàn bộ kim xuống (không cố gắng thay đổi góc chọc kim) tới khi kim đi qua được phía dưới xương đòn, thay vì cố gắng thay đổi góc chọc kim thăm dò qua da. Máu sẫm màu (máu tĩnh mạch) sẽ trào vào bơm tiêm khi kim thăm dò chọc được vào tĩnh mạch (không thấy có máu trào vào bơm tiêm sau khi kim thăm dò đã được đẩy sâu khoảng 5 cm; rút kim ra từ từ trong khi vẫn liên tục hút chân không bằng bơm tiêm, thường do tĩnh mạch đã bị đâm xuyên qua, và sẽ thấy máu trào vào bơm tiêm trong quá trình rút dần bơm tiêm). Nếu không thăm dò được tĩnh mạch, hướng lại mũi kim chếch hơn về phía đầu của bệnh nhân và thử chọc thăm dò lại tĩnh mạch. Không khuyến cáo cố gắng thử chọc thăm dò tĩnh mạch nhiều lần tới khi tiềm được tĩnh mạch. Một khi hút được máu tĩnh mạch dễ dàng vào bơm tiêm, quay mặt vát của kim chọc xuống phía dưới.
  9. Giữ chắc kim, rút bỏ bơm tiêm khỏi kim (luôn dùng ngón trỏ bịt đốc kim để làm giảm nguy cơ tắc mạch do khí) và luồn dây dẫn đường (J guide wire) qua kim vào trong lòng mạch. Dây dẫn phải được luồn dễ dàng mà không gặp cản trở gì. Nếu luồn dây dẫn khó khăn, cần rút bỏ dây dẫn và thử hút máu bằng bơm tiêm để đảm bảo kim vẫn còn trong tĩnh mạch rồi thử luồn lại dây dẫn vào lòng mạch. Đoạn dây dẫn để lại bên ngoài cơ thể đủ dài (theo chiều dài của catheter định đặt) để có thể luồn được catheter vào trong lòng mạch qua dây dẫn.
  10. Rút bỏ kim chọc trong khi cố định dây dẫn; đè ép nhẹ bằng gạt tại vị trí chọc để giảm nguy cơ chảy máu.
  11. Dùng mũi dao trích da thành một lỗ nhỏ tại vị trí chọc kim và dây dẫn qua da. Đảm bảo mũi cắt (mũi vát) của lưỡi da ở phía đối ngược với dây dẫn hoặc mũi cắt hướng lên trên và tiến hành trích da bằng một động tác rạch da từ trong ra ngoài.
  12. Luồn cây nong mạch (dilator) qua dây dẫn, tiến hành nong đường dẫn vào mạch máu và rút bỏ cây nong mạch.
  13. Mở đầu xa của catheter chính. Luồn catheter qua dây dẫn. Khi catheter tới gần vị trí chọc kim qua da, kéo nhẹ dây dẫn ra ngoài và đẩy vào catheter tới khi đầu dây dẫn lòi ra khỏi đầu xa của catheter. Giữ cố định đầu của dây dẫn lòi ra và luồn (đẩy) catheter theo dây dẫn vào trong mạch máu tới chiều dài mong muốn (thường khoảng 12 cm, có khi tới 15 cm).
  14. Giữ cố định catheter và rút bỏ dây dẫn.
  15. Tráng rửa tất cả các cổng của catheter để đảm bảo thông tốt. Bằng cách sử dụng bơm tiêm chứa một lượng nước muối sinh lý (có thể có chứa Heparin nồng độ thấp) hút ngược để khí và máu trào ngược vào bơm tiêm rồi bơm trở lại vào trong mạch máu. Tiếp tục bơm thêm nước muối sinh lý cho đến khi hết máu trong catheter.
  16. Cố định catheter bằng các mũi khâu hình túi hoặc bằng dây cố định chuyên dụng.
  17. Vệ sinh tại chỗ bằng dung dịch sát khuẩn và đặt gạt vô khuẩn bảo vệ, dán keo cố định hoặc sử dụng miếng dán chuyên dụng (Opside vô khuẩn).
  18. Tiến hành chụp X quang ngực sau đặt catheter. Đảm bảo đầu trong của catheter nằm trong tĩnh mạch chủ trên.

Qua tĩnh mạch đùi

- Tư thế: Nằm ngửa, đầu cao 10 – 15 độ. Đùi dạng, xoay ra ngoài 30 độ.
- Vị trí: Dưới dây chèn bẹn 2 – 3 cm, phía trong động mạch đùi 1 cm.
- Hướng kim: Hướng về phía rốn, tạo góc với da 30-45 độ. Vào sâu 3 – 5 cm.

  1. Đặt bệnh nhân ở tư thế nằm ngửa, với đùi định chọn đặt catheter tĩnh mạch hơi dạng và xoay ra ngoài (30 độ).
  2. Đội mũ che kín tóc ± mặt nạ che mặt, vệ sinh tay, mặc áo choàng thủ thuật (vô khuẩn mặt tiếp xúc với người bệnh), đi găng vô khuẩn.
  3. Vệ sinh da quanh vị trí dự định chọc kim bằng dung dịch sát khuẩn (vd: Chlorhexedin hoặc Betadin).
  4. Sử dụng săng vô khuẩn phủ toàn bộ bệnh nhân, và một săng vô khuẩn có lỗ hoặc săng mổ để phủ thân mình và chân của bệnh nhân, chỉ lộ da ở vùng cần đặt catheter.
  5. Bơm tráng dịch vào tất cả các cổng của catheter để đảm bảo chức năng hoạt động của catheter. Và bơm tráng kim chọc mạch.
  6. Bắt mạch đùi ở phía dưới cung đùi. Tĩnh mạch đùi nằm phía trong của động mạch đùi.
  7. Gây tê da và tổn chức dưới da, hút thử (tránh bơm vào mạch máu) trước khi tiêm thuốc gây tê (vd, lidocaine) da vùng bẹn.
  8. Bắt mạch đùi. Dùng kim thăm dò với đầu vát hướng lên trên, chọc ở phía trong động mạch đùi 1 cm, phía dưới cung đùi (dưới dây chằng bẹn 2-3 cm), với kim tạo một góc 30-45 độ so với mặt da và hướng về phía rốn. Liên tục hút chân không trong khi đẩy kim vào sâu tới khi có máu tĩnh mạch trào vào bơm tim (thường sâu 3-5 cm). Nếu đã chọc kim sâu quá 5 cm mà vẫn không hút được máu tĩnh mạch vào bơm tiêm, rút kim ra từ từ song vẫn hút liên tục, thay đổi góc chọc kim hướng về phía trong hơn và thử chọc lại. Nếu chọc phải động mạch đùi (hút ra máu đỏ tươi và/ hoặc máu trào ra theo mạch đập), rút bỏ kim và ép giữ cầm máu trong 10-15 phút. Một khí hút được máu dễ dàng vào bơm tiêm. Giữ cố định kim.
  9. Luồn dây J dẫn đường (J guide wire) vào lòng mạch qua cổng của kim chọc (trường hợp không có cổng sẵn, phải tháo bỏ bơm tiêm trong khi đồng thời dùng ngón trỏ bịt kín đốc kim để giảm nguy cơ tắc mạch hơi; trong khi đó ngón cái và ngón giữa giữ cố định kim). Thường dẫy dẫn luồn qua dễ dàng không gặp trở ngại gì (một số trường hợp rít nhẹ khi dây dẫn đi qua đầu kim). Nếu luồn dây dẫn khó khăn, cần rút dây dẫn ra và lắp bơm tiêm thử hút máu bằng bơm tiêm để đảm bảo kim vẫn còn trong lòng mạch và thử luồn lại dây dẫn vào lòng mạch. Đoạn dây dẫn còn lại ngoài cơ thể cách vị trí chọc đủ dài dài hơn chiều dài của catheter định đặt để có thể luồn được catheter vào trong lòng mạch qua dây dẫn.
  10. Rút bỏ kim chọc trong khi cố định dây dẫn; đè ép nhẹ bằng gạt tại vị trí chọc để giảm nguy cơ chảy máu.
  11. Dùng mũi dao trích da thành một lỗ nhỏ tại vị trí chọc kim và dây dẫn qua da. Đảm bảo mũi cắt (mũi vát) của lưỡi da ở phía đối ngược với dây dẫn hoặc mũi cắt hướng lên trên và tiến hành trích da bằng một động tác rạch da từ trong ra ngoài.
  12. Luồn cây nong mạch (dilator) qua dây dẫn, tiến hành nong đường dẫn vào mạch máu và rút bỏ cây nong mạch.
  13. Mở đầu xa của catheter chính. Luồn catheter qua dây dẫn. Khi catheter tới gần vị trí chọc kim qua da, kéo nhẹ dây dẫn ra ngoài và đẩy vào catheter tới khi đầu dây dẫn lòi ra khỏi đầu xa của catheter. Giữ cố định đầu của dây dẫn lòi ra và luồn (đẩy) catheter theo dây dẫn vào trong mạch máu tới chiều dài mong muốn thường khoảng 10 - 12 cm (có khi tới 15 cm).
  14. Giữ cố định catheter và rút bỏ dây dẫn.
  15. Tráng rửa tất cả các cổng của catheter để đảm bảo thông tốt. Bằng cách sử dụng bơm tiêm chứa một lượng nước muối sinh lý (có thể có chứa Heparin nồng độ thấp) hút ngược để khí và máu trào ngược vào bơm tiêm rồi bơm trở lại vào trong mạch máu. Tiếp tục bơm thêm nước muối sinh lý cho đến khi hết máu trong catheter.
  16. Cố định catheter bằng các mũi khâu hình túi hoặc bằng dây cố định chuyên dụng.
  17. Vệ sinh tại chỗ bằng dung dịch sát khuẩn và đặt gạt vô khuẩn bảo vệ, dán keo cố định hoặc sử dụng miếng dán chuyên dụng (Opside vô khuẩn).

ĐO ÁP LỰC TĨNH MẠCH TRUNG TÂM (CVP)

Phương pháp thủ công (đo CVP bằng cột nước)

  • Gắn dây truyền với chạc 3 theo trình tự: 1 đầu nối với catheter; 1 đầu nối với dịch truyền NaCL 0.9%; 1 đầu nối với thiết bị đo áp lực (dùng cột nước nếu có).
  • Sử dụng cột nước: xác định mốc 0 cmH2O tại vị trí nằm trên đường nách giữa, giao với khoảng liên sườn 4.
  • Nếu không dùng cột nước: tháo đầu gắn dây truyền ra khỏi chai dịch, đo độ cao của cột nước bằng thước, so với vị trí mốc 0.
  • Chiều cao cột nước đo bằng thước được đọc theo đơn vị cm, tương đương giá trị tính theo cmH2O.
  • Quy đổi: 1 cmH2O = 0.73556 mmHg.

Gắn thiết bị Monitor để đo CVP

  • Thiết lập Zero (0 mmHg) ở vị trí ngang mức tim, tương ứng đường nách giữa giao với liên xương 4; đây là vị trí ngang mức cố định cảm biến áp lực (Transducer board).
  • Gắn cáp của hệ đo vào máy Mornitor (màn hình theo dõi).
  • Gạt khóa và thao tác Zero trên màn hình theo hướng dẫn của hệ thống.
  • Đảm bảo Zero thành công.
  • Mở khóa để cảm biến áp lực ghi nhận áp lực tĩnh mạch trung tâm.

Ý nghĩa của CVP

  • Ở bệnh nhân không thở máy: CVP bình thường 8-12 mmHg; ở bệnh nhân thở máy: CVP 12-15 mmHg.
  • CVP thấp hơn mức nêu trên gợi ý thiếu dịch và có khả năng đáp ứng bù dịch.
  • CVP cao hơn mức nêu trên gợi ý thừa dịch.
  • Tuy nhiên, hiện nay vai trò của CVP trong đánh giá huyết động đã giảm đáng kể do CVP chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố; đồng thời nhiều phương pháp đánh giá huyết động mới cho thấy ưu thế hơn, ví dụ: siêu âm, PICCO,..

Tài liệu tham khảo

  1. Central Venous Catheterization. Rachel McDonald and Adam Anderson. Critical Care 2018
  2. Measuring of central venous pressure
  3. Central Venous Catheterization. Rachel McDonald and Adam Anderson. Critical Care 2012
  4. Convert cmH2O to mmHg - Conversion of Measurement Units