Xử trí cơn hen nặng - nguy kịch

Post key: 1a3ff71b-c6a1-5d09-a4e7-0665ddf45c7b
Slug: xu-tri-con-hen-nang-nguy-kich
Excerpt: Đợt cấp hen phế quản là tình trạng nặng lên đột ngột các triệu chứng khó thở, ho, khò khè, nặng ngực và giảm thông khí phổi; có thể xảy ra ở người đã chẩn đoán hen hoặc là biểu hiện đầu tiên. Bài viết hướng dẫn nhận biết sớm và đánh giá mức độ nghiêm trọng/đe dọa tính mạng (lâm sàng, SpO2, PEF, tăng CO2, chỉ định chụp X-quang khi nghi ngờ biến chứng), đồng thời trình bày chiến lược điều trị tại khoa Cấp cứu và hướng xử trí cơn hen nguy kịch: chuẩn độ oxy phù hợp, dùng SABA dạng hít (kèm ipratropium ở đợt nặng), corticosteroid toàn thân sớm, cân nhắc MgSO4 IV khi nặng/không đáp ứng; đánh giá và chỉ định hỗ trợ hô hấp (NIV, đặt nội khí quản và thở máy khi có suy hô hấp tiến triển theo tiêu chí lâm sàng). Ngoài ra, nêu phần chuyển tiếp điều trị nội trú, chuẩn bị xuất viện và các phương pháp không khuyến cáo (ví dụ: leukotriene antagonist, methylxanthines tiêm, kháng sinh theo kinh nghiệm trừ chỉ định nhiễm khuẩn).
Recognized tags: dieu-tri, chan-doan, cap-cuu, noi-tru, nang, nguy-kich, bo-y-te

GIỚI THIỆU

Đợt cấp hen phế quản là tình trạng các triệu chứng khó thở, ho, khò khè, nặng ngực và giảm chức năng thông khí phổi xuất hiện và nặng lên đột ngột. Biểu hiện này có thể gặp ở người đã được chẩn đoán hen, hoặc cũng có thể là biểu hiện khởi đầu đầu tiên của bệnh.
Đợt cấp thường khởi phát khi bệnh nhân phản ứng với phơi nhiễm các yếu tố bên ngoài (ví dụ nhiễm vi rút đường hô hấp trên, phấn hoa hoặc chất ô nhiễm) và/hoặc do tuân thủ thuốc kiểm soát kém.
Đợt cấp có thể xảy ra ở mọi bệnh nhân hen, kể cả khi bệnh hen phế quản trước đó đã được kiểm soát tốt.
Chiến lược hiệu quả nhất trong xử trí cơn hen kịch phát cấp tính là nhận biết sớm và can thiệp sớm, trước khi diễn tiến trở nên trầm trọng và có khả năng đe dọa tính mạng. Một cuộc khảo sát chi tiết về hoàn cảnh quanh các ca tử vong do bệnh hen suyễn đã ghi nhận tình trạng thất bại của cả người bệnh và bác sĩ lâm sàng trong việc nhận ra mức độ nghiêm trọng của cơn và tăng cường điều trị phù hợp.
Sơ đồ tiếp cận xử trí hen cấp tại bệnh viện
Xem thêm tổng quan về Hen phế quản ở người lớn và trẻ em ≥ 12 tuổi

ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ NGHIÊM TRỌNG CỦA ĐỢT CẤP

Một số dấu hiệu lâm sàng và xét nghiệm có thể hỗ trợ xác định chẩn đoán cơn hen kịch phát, đồng thời đánh giá mức độ nghiêm trọng và loại trừ các yếu tố biến chứng của hen (ví dụ viêm phổi, xẹp phổi, tràn khí màng phổi, tràn khí trung thất).

Dấu hiệu lâm sàng

Cần tập trung vào quá trình bệnh lý và thăm khám ngay khi bắt đầu điều trị để xác định chẩn đoán cũng như mức độ nghiêm trọng. Một đợt cấp hen phế quản nặng có nguy cơ cần hồi sức nhanh chóng và tích cực.

Dấu hiệu của hen phế quản cấp nặng và nguy kịch

Sự hiện diện của một số dấu hiệu lâm sàng có giá trị gợi ý bệnh nhân đang lên cơn hen phế quản nặng:
  • Nói từng từ (không thể nói thành câu hoặc cụm từ đầy đủ)
  • Ngồi ngả ra trước (không thể nằm ngửa do khó thở)
  • Hoảng hốt, lo lắng
  • Co kéo cơ hô hấp phụ (ví dụ cơ ức đòn chũm)
  • Nhịp thở > 30 lần/phút
  • Nhịp tim > 120 lần/phút
  • SpO2 khí trời < 90%
  • Mạch nghịch lý (huyết áp tâm thu giảm ít nhất 12 mmHg trong khi hít vào)
Các dấu hiệu nêu trên phản ánh tắc nghẽn dòng khí nghiêm trọng. Tuy nhiên, có đến 50% bệnh nhân tắc nghẽn dòng khí nặng không biểu hiện bất kỳ dấu hiệu nào trong số này; khi đó, đo lưu lượng đỉnh PEF (với PEF ≤ 50% dự đoán hoặc < 200 mL/phút) có giá trị chẩn đoán.
Ngược lại, bệnh nhân hen phế quản nguy kịch thường có triệu chứng hoặc dấu hiệu gợi ý suy hô hấp sắp xảy ra:
  • Tím tái
  • Thay đổi ý thức: ngủ gà, lú lẫn
  • Không có khả năng gắng sức duy trì hô hấp: thở chậm, có cơn ngừng thở
  • Lồng ngực im lặng
  • Rối loạn nhịp tim, tụt huyết áp
  • SpO2 < 90% (khi đã áp dụng liệu pháp Oxy), PaCO2 > 40 mmHg

Các đặc điểm gợi ý chẩn đoán thay thế hoặc bệnh kèm theo

Các triệu chứng kèm theo như sốt, tiết đờm mủ, nổi mày đay hoặc đau ngực kiểu màng phổi làm tăng khả năng có chẩn đoán thay thế, bao gồm viêm phổi, đợt bùng phát của giãn phế quản, phản vệ hoặc tràn khí màng phổi.

Đo lưu lượng đỉnh (PEF)

  • Đo dòng khí thở ra tối đa bằng máy đo lưu lượng đỉnh (hoặc hô hấp ký) là phương pháp tốt nhất để đánh giá khách quan mức độ nghiêm trọng của cơn hen ở những bệnh nhân có thể thực hiện đo. Ở các trường hợp nguy kịch (suy hô hấp sắp xảy ra), không nên yêu cầu bệnh nhân tiến hành kiểm tra này.
  • Giá trị bình thường của PEF thay đổi theo giới tính, tuổi và chiều cao. Nhìn chung, PEF < 200 ml/phút cho thấy tắc nghẽn nặng ở hầu hết người lớn, trừ những người rất thấp hoặc > 65 tuổi. Về PEF % dự đoán (hoặc so với PEF tốt nhất của cá nhân), PEF ≤ 50% dự đoán được xem là nặng. Đợt cấp được coi là mức độ vừa khi PEF > 50% nhưng < 70% dự đoán và chưa trở về bình thường sau khi điều trị bằng thuốc giãn phế quản ban đầu.
  • PEF hoặc phế dung kế cũng có thể dùng để theo dõi đáp ứng điều trị và như một dấu hiệu dự đoán khả năng tăng CO2 máu. Ưu điểm chính của đo PEF là phát hiện tắc nghẽn luồng khí nặng ở những người không có biểu hiện suy hô hấp hoặc thở khò khè dữ dội dù tính chất của cơn có thể gợi ý mức độ nghiêm trọng.

Bão hòa Oxy

  • Theo dõi SpO2 liên tục trong suốt quá trình điều trị đối với đa số đợt cấp hen phế quản.
  • Giảm Oxy máu rõ rệt (PaO2 < 60 mmHg hoặc SpO2 < 90%) không thường gặp trong các cơn hen không biến chứng. Khi phát hiện tình trạng này, cần nghĩ đến hen phế quản đe dọa tính mạng và có thể xuất hiện các biến chứng như viêm phổi hoặc xẹp phổi do tắc nghẽn chất nhầy. Giảm Oxy máu nghiêm trọng có nguy cơ dẫn đến các biến chứng tim mạch hoặc thần kinh nặng và tử vong.

Tăng CO2

Tăng CO2 máu hiếm khi xảy ra khi PEF ≥ 25% hoặc ≥ 200 L/phút. Do đó, sử dụng đo PEF có thể dự đoán tăng CO2 thay cho xét nghiệm khí máu động mạch. Vì vậy, khí máu động trong hen cấp được chỉ định khi:
  • PEF < 25% hoặc < 200 L/phút dai dẳng mặc dù đã điều trị thuốc giãn phế quản ban đầu.
  • PEF từ 25-50% kèm tình trạng hô hấp xấu đi dù đã được điều trị tích cực.
  • Bệnh nhân quá nặng để thực hiện đo PEF.
  • Bệnh nhân có dấu hiệu và triệu chứng của tăng CO2 máu như: suy giảm ý thức, nhịp hô hấp chậm không thích hợp hoặc rung giật cơ.
Tăng CO2 máu tiến triển là chỉ định cho thở máy. Có thể thay thế khí máu động mạch bằng khí máu tĩnh mạch để xác định tăng CO2 máu, mặc dù mức độ tương quan kém. Các giá trị hiệu chỉnh của khí máu tĩnh mạch (PvCO2) để dự đoán pH và PaCO2 động mạch như sau:
Chỉ số Máu tĩnh mạch trung tâm Máu tĩnh mạch ngoại vi
pH cộng thêm 0.03 đến 0.05 cộng thêm 0.02 đến 0.04
PaCO2 Trừ đi 4 đến 5 mmHg Trừ đi 3 đến 8 mmHg

X quang ngực

Chụp X quang ngực được sử dụng thường quy trong các cơn hen cấp. Tuy nhiên, cần chụp x quang ngực khi nghi ngờ có tiến triển tim phổi kèm biến chứng (ví dụ nhiệt độ > 38.3 độ C, đau ngực không rõ nguyên nhân, tăng BC hoặc giảm Oxy máu), khi bệnh nhân cần nhập viện và khi chẩn đoán không chắc chắn.
  • Bất thường phổ biến nhất là căng phồng phổi quá mức.
  • Các phát hiện bất thường khác (ví dụ tràn khí màng phổi, tràn khí trung thất, viêm phổi hoặc xẹp phổi) không thường xuyên; chỉ xảy ra 2% các bệnh nhân chụp X quang phổi đến khoa cấp cứu để điều trị cơn hen cấp.
X quang ngực cũng hữu ích cho các bệnh nhân có nguy cơ mắc bệnh kèm theo cao (ví dụ tiền sử lạm dụng thuốc tiêm tĩnh mạch, ức chế miễn dịch, bệnh u hạt, co giật gần đây, ung thư, phẫu thuật ngực, hoặc suy tim).

ĐIỀU TRỊ

Mục tiêu trọng tâm trong xử trí đợt cấp hen phế quản nặng là khôi phục nhanh lưu lượng luồng khí bị hạn chế và đồng thời kiểm soát tình trạng tăng CO 2 hoặc giảm O 2 máu; khi cần, thực hiện bằng dùng lặp lại thuốc giãn phế quản dạng hít và sử dụng sớm glucocorticoid toàn thân.
Sơ đồ tiếp cận điều trị hen phế quản cấp
(1) Chuẩn độ oxy đến SpO 2 đạt 93 đến 95% ở bệnh nhân có đợt cấp nặng, đặc biệt khi có nguy cơ tăng CO 2 máu. Đặt mục tiêu SpO 2 > 95% cho bệnh nhân đang mang thai. Nếu hen chồng lấp COPD, chuẩn độ đến SpO 2 88 đến 92%.
(2) Bổ sung ipratropium vào phác đồ điều trị bằng máy khí dung albuterol được ưu tiên ở bệnh nhân có đợt cấp nặng. Trường hợp khác, có thể dùng SABA/ipratropium qua ống hít định liều (MDI) 4 đến 8 lần hít mỗi 20 phút, nếu cần trong tối đa 3 giờ.
(3) Liều lượng và khoảng thời gian điều trị có thể điều chỉnh dựa trên tiền sử đáp ứng của bệnh nhân, mức độ nặng của đợt cấp và đáp ứng với điều trị hiện tại.

Điều trị tại khoa Cấp cứu

Cung cấp Oxy

  • Cung cấp oxy bổ sung cho bệnh nhân có SpO 2 < 90% hoặc cho bệnh nhân bị đợt cấp hen phế quản mức độ vừa và nặng nhưng không thể theo dõi SpO 2 liên tục.
  • Duy trì SpO 2 > 92%; bảo đảm mục tiêu 93 - 95% ở người lớn, 94 - 98% ở trẻ em và > 95% ở phụ nữ mang thai.
  • Tránh để SpO 2 quá cao liên quan đến tình trạng tăng CO 2.
  • Nếu bệnh nhân có COPD chồng lấp hen kèm tăng CO 2 và giảm O 2 máu mạn tính, mục tiêu SpO 2 88 - 90% là phù hợp.

Chủ vận adrenergic chọn lọc beta-2 tác dụng ngắn (SABA) dạng hít

Albuterol (salbutamol) hoặc tương đương bằng các phương pháp sau:
  • Phun khí dung tiêu chuẩn: albuterol 2.5 - 5mg khí dung mỗi 20 phút x 3 liều, sau đó 2.5 - 5mg mỗi 1 - 4 giờ nếu cần.
  • Ống hít định liều (MDI) phối hợp buồng đệm: 4 - 8 nhát mỗi 20 phút x 3 liều trong giờ đầu tiên. Nên khởi đầu 4 nhát/ lần, có thể tăng lên 10 nhát/ lần. Sau đó dùng mỗi 1 - 4 giờ nếu cần; hiếm khi cần dùng thường xuyên hơn.
  • Phun khí dung liên tục: tại ICU có thể dùng liều 10 - 15 mg trong một giờ.
Liều cao hơn làm tăng mức độ thường gặp và mức độ nặng của tác dụng phụ cường giao cảm (run, nhịp tim nhanh).
Sử dụng MDI cùng buồng đệm hoặc thuốc ống hít bột khô (PDI) cho hiệu quả tốt hơn so với phun khí dung, vì kích thước hạt từ máy phun khí dung tương đối to và thuốc dễ bị thất thoát từ cổng thở ra.

Kháng muscarinic (ipratropium) tác dụng ngắn dạng hít (SAMA)

  • Ipratropium 500 mcg qua phun khí dung hoặc xịt 4 - 8 nhát bằng MDI, mỗi 20 phút x 3 liều, sau đó mỗi giờ nếu cần, tối đa 3 giờ.
  • Có thể phối hợp với SABA để tăng hiệu quả điều trị ở bệnh nhân có đợt cấp nặng, tuy nhiên tác dụng phụ như run, đánh trống ngực và kích động tăng cao hơn so với khi chỉ dùng SABA.
  • Nên ngừng SAMA khi bệnh nhân nhập viện, trừ các trường hợp: hen khó điều trị tại ICU; đang điều trị thuốc ức chế monoamine oxidase; mắc COPD có thành phần hen; và bệnh nhân bị hen khởi phát do thuốc chẹn beta.

Glucocorticoid

Đường toàn thân
  • Nhập ICU: 60 - 80 mg mỗi 6 - 12 giờ.
  • Nhập viện, không cần chăm sóc đặc biệt: 40 - 60 mg mỗi 12 - 24 giờ.
Hiệu quả khi dùng đường uống hoặc tĩnh mạch là tương đương; dùng càng sớm càng tốt, ưu tiên trong giờ đầu. Nên dùng đường tĩnh mạch ở bệnh nhân có biểu hiện ngừng hô hấp sắp xảy ra hoặc có biểu hiện thực sự không dung nạp đường uống. Glucocorticoid vẫn có thể tiêm bắp nếu không có đường tiêm tĩnh mạch và không dung nạp đường uống, mặc dù tác dụng bị trì hoãn đến 24 giờ.
Glucocorticoid dạng hít liều cao
Tăng liều dạng hít được khuyến cáo cho bệnh nhân đang kiểm soát bệnh hen theo hướng tăng dần. Tuy nhiên, glucocorticoid dạng hít liều cao không được khuyến cáo thay thế glucocorticoid đường uống.

Magnesium sulfat (MgSO 4)

  • MgSO 4 IV 2g, liều duy nhất trong 20 phút. Chỉ định cho bệnh nhân đợt cấp hen phế quản nguy kịch hoặc nặng không đáp ứng với điều trị ban đầu.
  • Tác dụng giãn phế quản của MgSO 4 có thể liên quan đến ức chế dòng Calci vào tế bào cơ trơn đường thở.
  • MgSO 4 có tình trạng an toàn cao; tuy nhiên chống chỉ định trong suy thận và tăng Mg máu có thể gây yếu cơ.

Đợt cấp hen phế quản nguy kịch (đe dọa tính mạng)

Ngoài các biện pháp đã nêu, cần đánh giá và điều trị kịp thời các phương án hỗ trợ thở máy nếu thấy có chỉ định.

Hỗ trợ hô hấp

  • Thở máy không xâm lấn (NIV) được áp dụng cho bệnh nhân hợp tác nhưng không đáp ứng với điều trị thuốc, đồng thời không cần đặt nội khí quản ngay lập tức.
  • Quyết định đặt nội khí quản và thở máy trong cơn hen nặng dựa trên đánh giá lâm sàng: nhịp hô hấp chậm; suy giảm ý thức; không có khả năng duy trì nỗ lực hô hấp hoặc không thể phối hợp với việc sử dụng thuốc dạng hít; tăng CO 2 máu nặng hơn kèm theo nhiễm toan hô hấp; hoặc không duy trì được SpO 2 > 92% mặc dù đã được bổ sung oxy qua Mask.
  • Nếu dự đoán đặt nội khí quản không khó, ưu tiên đặt nội khí quản theo trình tự nhanh. Không khuyến cáo đặt nội khí quản qua đường mũi.

Các điều trị không tiêu chuẩn

Một số phương án điều trị như thuốc gây mê (ketamine, isoflurane), enoximore, hỗn hợp Oxy heli, ECMO, và hiếm hơn là thuốc chủ vận beta đường tiêm (terbutaline) có thể hữu ích ở từng bệnh nhân; tuy nhiên không được khuyến cáo sử dụng thường quy do chưa đủ bằng chứng hiệu quả.
  1. Thuốc gây mê (ketamine tiêm tĩnh mạch[0.5 - 1 mg/kg trong vòng 2 - 4 phút, sau đó truyền liên tục 0.5 - 2 mg/kg/ giờ, có thể lên tới 3 mg/kg/giờ, có thể sử dụng trong ICU], halothane, isoflurane và sevoflurane dạng hít) đã được báo cáo có tác dụng giãn phế quản ở bệnh nhân hen nặng khó điều trị, nhưng chưa có thử nghiệm và một số kết quả bất lợi đã được ghi nhận.
  2. Enoximone là chất ức chế chọn lọc phosphodiesterase III hiện diện ở châu Âu, được tiêm tĩnh mạch với liều 25 - 100mg. Đáp ứng trong thử nghiệm được mô tả là nhanh chóng, trong vòng 1 - 20 phút. Tuy nhiên, các thuốc tiêu chuẩn như chủ vận beta, iprotropium,... chưa được báo cáo. Ức chế Phosphodiesterase liên quan đến rối loạn nhịp thất và nhĩ, hạ huyết áp và độc tính trên gan; cần chờ nghiên cứu sâu hơn.
  3. Thuốc chủ vận beta đường tiêm (adrenaline, terbutaline): Thường tránh dùng trong cơn hen kịch phát ở người lớn vì hiệu quả tương đương hoặc thấp hơn so với dạng hít nhưng tỷ lệ tác dụng phụ cao hơn (ví dụ: nhịp tim nhanh, loạn nhịp tim, tổn thương cơ tim), do đó không được khuyến cáo. Hai ngoại lệ: (1) bệnh nhân nghi ngờ có phản ứng phản vệ; (2) bệnh nhân không thể sử dụng thuốc giãn phế quản dạng hít trong đợt cấp hen phế quản nặng. Đối với nghi ngờ phản vệ: Adrenalin 0.3 - 0.5 mg tiêm bắp vào giữa mặt ngoài đùi sau mỗi 20 phút, tối đa 3 liều. Đối với bệnh nhân không thể sử dụng thuốc giãn phế quản dạng hít: có thể dùng adenalin 0.3 mg tiêm bắp hoặc terbutaline 0.25 mg tiêm dưới da cứ sau mỗi 20 phút cho đến 3 liều. Lưu ý: Adrenaline và Terbutaline không nên phối hợp.
  4. Heli-oxy (ví dụ Heli 70-80% trộn với 20-30% oxy tương ứng): Không thể khuyến cáo do dữ liệu nghiên cứu về hiệu quả còn mâu thuẫn.
  5. ECMO: Thở oxy và loại bỏ CO 2 qua màng ngoài cơ thể có thể có lợi như một biện pháp tạm thời ở những bệnh nhân hen nặng kháng trị với chăm sóc thông thường và thở máy.

CHĂM SÓC BỆNH NHÂN NỘI TRÚ

Cai thuốc lá

  • Trong thời gian nằm viện, cần chủ động thảo luận và khởi động kế hoạch cai thuốc lá nếu bệnh nhân có tiền sử hút thuốc lá trước nhập viện.

Thuốc

Quản lý nội trú các đợt cấp của bệnh hen nhìn chung bao gồm việc tiếp tục điều trị theo giai đoạn vừa diễn ra tại khoa cấp cứu hoặc đơn vị chăm sóc đặc biệt, sau đó chuyển dần sang một phác đồ gần với chiến lược điều trị xuất viện. Cụ thể:
  • Chuyển dần SABA từ phun khí dung sang dạng hít định liều (MDI) qua buồng đệm.
  • Chuyển Glucocorticoid đường tĩnh mạch sang đường uống; đồng thời bắt đầu glucocorticoid dạng hít dạng bột khô (PDI) hoặc MDI.
  • Hướng dẫn kỹ thuật sử dụng thuốc một cách thận trọng cho người bệnh.

Không đáp ứng điều trị

Thở khò khè và khó thở kéo dài mặc dù đã được điều trị chống hen tích cực làm tăng khả năng có chẩn đoán thay thế hoặc tình trạng tồn tại đồng thời. Cần cân nhắc các tình huống sau:
  1. Viêm phế quản và viêm tiểu phế quản do virus.
  2. Giãn phế quản, viêm phổi.
  3. Tắc nghẽn đường thở mãn tính tiềm ẩn: copd chồng chéo hen.
  4. Trào ngược dạ dày thực quản GERD.
  5. Người cao tuổi kèm rối loạn chức năng tim do quá tải thể tích, đặc biệt là suy tim EF bảo tồn.
  6. Nhiễm giun lươn lan tỏa, thuyên tắc phổi huyết khối, u hạt tăng bạch cầu ái toan với viêm đa tuyến, chọc hút hầu họng và bệnh keo khí quản là các nguyên nhân ít gặp khác khiến bệnh nhân không cải thiện.

Chuẩn b ị cho xuất viện

Về nguyên tắc, cơn hen kịch phát thường chưa thuyên giảm hoàn toàn ngay cả khi triệu chứng đã giảm. Tình trạng tắc nghẽn luồng khí do viêm đường thở tồn đọng có thể kéo dài trong vài ngày. Do đó, bên cạnh thuốc chủ vận beta tác dụng ngắn sử dụng khi cần thiết, bệnh nhân cần thêm một đợt điều trị ngắn hạn glucocorticoid toàn thân (40 - 60 mg/ngày x 5 - 7 ngày) và, trong hầu hết trường hợp, glucocorticoid dạng hít dài hạn để điều trị viêm và phòng ngừa tái phát.
Giáo dục bệnh nhân: cung cấp thông tin về bệnh hen suyễn, cách tránh các tác nhân gây cơn hen; nếu người bệnh chưa có kế hoạch hành động, cần lập kế hoạch hành động được cá nhân hóa. Theo dõi với bác sĩ điều trị chính hoặc bác sĩ chuyên khoa hen suyễn là cần thiết nhằm đạt được mức kiểm soát đầy đủ và giảm thiểu nguy cơ hen suyễn cũng như tác dụng phụ do thuốc.

CÁC CÁCH ĐIỀU TRỊ KHÔNG HIỆU QUẢ

Thuốc đối kháng thụ thể leukotriene, methylxanthines dùng dạng tiêm tĩnh mạch và kháng sinh theo kinh nghiệm không được khuyến cáo như là phương pháp điều trị cho cơn hen cấp. Các can thiệp không hiệu quả khác cũng không được khuyến cáo để điều trị cơn hen kịch phát cấp tính gồm truyền dịch (chỉ khi không có bằng chứng mất nước), thuốc long đờm (ví dụ: guaifenesin), thuốc kháng histamine và vật lý trị liệu lồng ngực.

Thuốc đối kháng thụ thể leukotriene

  • Thuốc đối kháng thụ thể leukotriene là liệu pháp đã được thiết lập cho hen suyễn mạn tính và được tiếp tục trong đợt cấp đối với các bệnh nhân đang dùng sẵn; tuy nhiên, một đánh giá có hệ thống không tìm thấy đủ bằng chứng để ủng hộ việc bắt đầu cấp tính các thuốc này tại thời điểm xảy ra một đợt cấp.
  • Không sử dụng thuốc đối kháng thụ thể leukotriene như một phần của điều trị thông thường cho các đợt cấp, trừ trường hợp bệnh nhân có đợt cấp được kích hoạt bởi uống aspirin hoặc thuốc chống viêm không steroid (NSAID) kèm các biến cố liên quan đến sản xuất quá mức nghiêm trọng của leukotriene.

Methylxanthines

  • Việc sử dụng methylxanthines tiêm tĩnh mạch (ví dụ: theophylline, aminophylline), trước đây từng được xem là tiêu chuẩn chăm sóc cho các cơn hen nặng, đã được chứng minh là tương đối kém hiệu quả và hiện không còn được khuyến cáo.
  • Các tác nhân này không mạnh hơn các chất chủ vận beta khi sử dụng đơn độc để điều trị hen suyễn và không tạo ra mức giãn phế quản bổ sung so với mức đạt được khi phối hợp với các chất chủ vận beta dạng hít.
  • Ngoài ra, methylxanthines có vẻ làm tăng tỷ lệ tác dụng ngoại ý khi kết hợp với thuốc giãn phế quản chủ vận beta.
  • Đối với những bệnh nhân đang dùng theophylline đường uống ngay khi vào viện, có thể tiếp tục điều trị duy trì bằng đường uống trong thời gian nhập viện (kiểm tra nồng độ theophylline trong máu); ngược lại, nếu không thể tiếp tục uống, rất hiếm khi chỉ định liệu pháp tiêm tĩnh mạch với aminophylline hoặc theophylline.

Kháng sinh theo kinh nghiệm

  • Các hướng dẫn thực hành lâm sàng khuyến cáo không dùng kháng sinh theo kinh nghiệm để điều trị cơn hen kịch phát, vì đa số các nhiễm trùng đường hô hấp gây khởi phát cơn hen kịch phát là do virus hơn là do vi khuẩn.
  • Kháng sinh có thể được sử dụng để điều trị viêm xoang nghi do vi khuẩn hoặc viêm phổi biến chứng cơn hen; trong bối cảnh đó, có thể dùng procalcitonin huyết thanh để xác định căn nguyên vi khuẩn ở bệnh nhân có khởi phát đợt cấp hen phế quản hoặc nhiễm trùng đường hô hấp.

Tài liệu tham khảo

  1. Quy trình lâm sàng chẩn đoán và điều trị hen phế quản ở người lớn và trẻ em ≥ 12 tuổi. Số: /QĐ-BYT. 24/12/2021
  2. Cơn hen phế quản nặng và nguy kịch. Phác đồ HSTC. BV ĐK Quảng Ninh
  3. Emergency airway management in acute severe asthma. Uptodate 2022
  4. Treatment of severe asthma in adolescents and adults. Uptodate 2022