GIỚI THIỆU
Nấm tóc là tình trạng viêm kèm tổn thương cấu trúc tóc và nang tóc ở vùng da đầu, cùng với tổn thương tại các vùng da xung quanh, do nấm gây ra.
- Bệnh chủ yếu gặp ở trẻ nhỏ, trong khi ở người lớn bệnh hiếm hơn.
- Bệnh có phân bố rộng rãi trên toàn cầu.
- Tuy nhiên, nấm tóc thường gặp ở khu vực nông thôn hơn so với thành thị.
- Bệnh có tính lây truyền và thường thấy ở các thành viên trong gia đình hoặc cùng lớp học.
NGUYÊN NHÂN
- Nhóm nấm dermatophyte là tác nhân chính gây nấm tóc. Trong đó, thường gặp nhất là Microsporum và Trichophyton. Tại Anh và Bắc Mỹ, tác nhân thường gặp nhất là Trichophyton tonsurans (chiếm 90%). Tuy vậy, các nghiên cứu ở Việt Nam cho thấy M. canis lại hay gặp hơn.
- Nấm tóc Piedra trắng do Trichophyton beigelii gây ra. Nấm tóc Piedra đen do Piedraia hortae gây ra. Song song với đại dịch HIV (Human Immunodeficiency Virus-virút gây suy giảm miễn dịch ở người), tỷ lệ nhiễm nấm tóc Piedra cũng gia tăng. Ngoài biểu hiện tại tóc, nấm tóc Piedra có thể đi kèm nhiễm nấm huyết và ảnh hưởng đến các cơ quan nội tạng.
- Phân loại nấm dermatophyte dựa theo cơ chế lây truyền.
| Phân loại | Cách lây truyền | Biểu hiện lâm sàng |
|---|---|---|
| Anthropophilic | Từ người sang người | Viêm nhẹ hoặc không, mạn tính |
| Zoophilic | Từ động vật sang người | Viêm nặng (mụn mủ và có thể có mụn nước), cấp tính |
| Geophilic | Từ đất sang người hoặc động vật | Viêm trung bình |
CHẨN ĐOÁN
Chẩn đoán xác định
Chẩn đoán xác định chủ yếu dựa trên biểu hiện lâm sàng kết hợp xét nghiệm trực tiếp tìm nấm tại vị trí tổn thương.
Lâm sàng nấm tóc Piedra
Nấm tóc Piedra có hai thể chính: Piedra đen và Piedra trắng.
- Người bệnh Piedra đen thường có nốt màu nâu hoặc đen dọc theo thân tóc. Nhiễm nấm khởi phát dưới lớp biểu bì của sợi tóc rồi lan rộng ra ngoài; tóc có thể bị gãy do nốt vỡ tại thân tóc. Khi các nốt lớn, chúng có thể bao bọc thân tóc.
- Ở Piedra trắng, nhiễm nấm cũng bắt đầu từ lớp dưới biểu bì và phát triển xuyên qua thân tóc, gây suy yếu và gẫy tóc. Các nốt mềm, ít dính, màu trắng; tuy nhiên cũng có thể có màu đỏ, xanh lá cây hoặc nâu sáng. Tỷ lệ Piedra trắng tăng lên kể từ khi bắt đầu đại dịch HIV. Ở người bệnh suy giảm miễn dịch, T. beigelii có thể gây nhiễm nấm hệ thống nghiêm trọng với sốt, nấm huyết, thâm nhiễm phổi, tổn thương da (sẩn mụn nước và xuất huyết, hoại tử trung tâm) và bệnh thận.
- So sánh Piedra trắng và Piedra đen.
| Đặc điểm | Piedra trắng | Piedra đen |
|---|---|---|
| Màu của nốt | Trắng (có thể đỏ, xanh hoặc màu sáng) | Nâu đến đen |
| Mật độ của nốt | Mềm | Cứng |
| Kết dính nốt với thân tóc | Lỏng lẻo | Chắc chắn |
| Vị trí điển hình | Mặt, lách và vùng sinh dục (đôi khi vùng đầu) | Đầu và mặt (đôi khi vùng sinh dục) |
| Khí hậu hay gặp | Ôn đới | Ôn đới |
| Nguyên nhân | Trichosporon beigelii | Piedraia hortae |
| Soi tươi KOH | Dạng sợi với bảo tử blastoconidia và arthroconidia | Sợi nấm với bào tử asci và ascospores |
| Môi trường nuôi cấy Sabouraud | Khuẩn lạc dạng kem, màu vàng kem, ẩm | Khuẩn lạc màu nâu đến đen, phát triển chậm |
| Điều trị | Nhổ tóc bị nhiễm nấm, gội đầu bằng thuốc chống nấm | Nhổ tóc bị nhiễm nấm, gội đầu bằng thuốc chống nấm |
Lâm sàng nấm đầu (Tinea capitis)
- Biểu hiện có thể ở mức nhẹ, không viêm và tương tự viêm da dầu (nguyên nhân hay gặp là T. tonsurans), hoặc biểu hiện phản ứng mụn mủ nặng kèm rụng tóc, được gọi là kerion (tầng ong). Rụng tóc có hoặc không kèm vảy da.
- Đây là hậu quả của phản ứng quá mức của cơ thể, biểu hiện bằng mảng mủ, bề mặt ướt, có kèm hình thành các ổ áp xe nhỏ và rụng tóc. Một số người bệnh có biểu hiện toàn thân như mệt mỏi, sưng hạch. Tóc tại vùng tổn thương có thể mọc lại; tuy nhiên khi tổn thương kéo dài, có thể để lại sẹo và gây rụng tóc vĩnh viễn.
- Tình trạng mang nấm T. tonsurans là tình trạng không có biểu hiện lâm sàng nhưng nuôi cấy nấm cho kết quả dương tính. Tình trạng này thường gặp hơn ở người lớn và ở người có tiếp xúc với trẻ bị bệnh. Có thể coi người mang nấm là một tình trạng nhiễm và cần điều trị để giảm nguy cơ tái phát ở trẻ nhỏ. Nấm dermatophytes xâm nhập và tồn tại trong tóc theo ba hình thức: nội sợi, ngoại sợi và favus.
- Dạng nội sợi : lâm sàng đa dạng với vảy da, mảng rụng tóc kèm chấm đen và hình thành kerion. T. tonsurans và T. violaceum là hai nguyên nhân quan trọng của nhiễm nấm nội sợi.
- Dạng ngoại sợi : lớp biểu bì bên ngoài sợi tóc bị phá hủy. Nhiễm nấm ngoại sợi có thể bắt màu huỳnh quang (Microsporum) hoặc không (Microsporum và Trichophyton) dưới ánh sáng đèn Wood. Biểu hiện lâm sàng rất đa dạng, từ mảng bong vảy hoặc mảng rụng tóc kèm viêm mức độ nhẹ đến nặng, có thể hình thành kerion.
- Dạng Favus : là thể nặng nhất của nhiễm nấm dermatophyte ở tóc. Tác nhân chủ yếu là T. schoenleinii. Dưới đèn Wood có thể thấy ánh sáng huỳnh quang màu trắng hơi xanh da trời. Favus biểu hiện bằng mảng vảy tiết màu vàng, dày chứa sợi và mảng da chết. Khi nhiễm mạn tính có thể gây rụng tóc sẹo.
Cận lâm sàng
- Soi tươi: bệnh phẩm gồm vảy da và tóc. Soi tươi trực tiếp trong KOH 10-20%, có thể sử dụng thêm mực xanh. Có thể kết hợp nhuộm với màu cam acridin, màu trắng calcofluor và blankophor, đồng thời sử dụng kính hiển vi huỳnh quang để phát hiện polysaccharid của thành tế bào nấm. Trên tiêu bản soi tươi trực tiếp thấy hình ảnh sợi nấm chia đốt và phân nhánh.
- Nuôi cấy: môi trường cơ bản là Sabouraud. Thời gian nuôi cấy để kết luận dương tính là 7-14 ngày và để kết luận âm tính là 21 ngày.
- Mô bệnh học: sinh thiết thường ít được chỉ định trong chẩn đoán nấm nông.
Chẩn đoán phân biệt
- Nấm tóc Piedra : cần phân biệt với chấy, gẫy tóc, tóc nốt, Trichomycosis axillaris và rận mu.
- Nấm đầu : cần phân biệt với viêm da dầu, rụng tóc thể mảng, tật nhổ tóc, vảy nến, viêm da mủ, viêm nang lông, lichen phẳng, lupus đỏ dạng đĩa và viêm nang lông.
ĐIỀU TRỊ
Nguyên tắc chung
- Cắt tóc ngắn.
- Gội đầu bằng các dung dịch sát khuẩn và chống nấm.
- Sử dụng thuốc chống nấm một cách thận trọng và theo dõi kỹ.
- Điều trị các nhiễm khuẩn kèm theo.
Điều trị cụ thể
Nấm tóc Piedra
- Nhổ bỏ phần tóc có tổn thương nốt, đồng thời gội đầu bằng dầu gội có lưu huỳnh và ketoconazol 2%.
- Terbinafin đường uống có hiệu quả.
Nấm da đầu
Người lớn:
Dùng một trong các thuốc sau
Trẻ em:
Dùng một trong các thuốc sau
- Fluconazol: 6 mg/kg/ngày × 3-6 tuần
- Griseofulvin: 20 mg/kg/ngày × 6-8 tuần
- Itraconazol: 5 mg/kg/ngày × 4-8 tuần
- Terbinafin: 250 mg/ngày × 2-4 tuần
- Fluconazol: 6 mg/kg/ngày × 6 tuần
- Griseofulvin: 20-25 mg/kg/ngày × 6-8 tuần
- Itraconazol: 3-5 mg/kg/ngày × 6 tuần
- Terbinafin: 62,5 mg/ngày (<20 kg), 125 mg/ngày (20-40 kg) hoặc 250 mg/ngày (>40 kg) × 2-6 tuần.
TIẾN TRIỂN, BIẾN CHỨNG VÀ PHÒNG BỆNH
Tiến triển và biến chứng
- Một số trường hợp có thể gây rụng tóc vĩnh viễn và tạo sẹo.
- Trong các trường hợp nặng hoặc ở người suy giảm miễn dịch, nấm có thể xâm nhập sâu và có thể gây nấm huyết hoặc tổn thương các cơ quan nội tạng.
Phòng bệnh
- Thực hiện vệ sinh tóc thường xuyên.
- Hạn chế gội đầu vào ban đêm.
- Giữ tóc luôn khô.
- Hạn chế trẻ nhỏ chơi với súc vật.
Tài liệu tham khảo
- Da liễu - Bộ Y Tế