Tình trạng bụng cấp

Post key: 2246972f-76b8-51a5-a31a-c465da294d06
Slug: tinh-trang-bung-cap
Excerpt: Tình trạng bụng cấp là tình huống thường gặp ở ICU nhưng có thể bị chẩn đoán chậm vì dấu hiệu viêm phúc mạc không điển hình (do giảm đau opioid, an thần, steroid, thay đổi tri giác, đặt nội khí quản). Bài viết hướng dẫn tiếp cận: khai thác bệnh sử (đặc biệt phẫu thuật gần đây), theo dõi diễn tiến xét nghiệm (WBC—đặc biệt xu hướng và chuyển trái; bilirubin/ALP/transaminase gợi ý bệnh lý gan-mật; amylase/lipase; lactate; khí máu; đánh giá hội chứng khoang bụng qua dấu hiệu lâm sàng và áp lực bàng quang), khám thực thể tập trung vào thay đổi dấu hiệu và thăm hậu môn-trực tràng khi cần. Chẩn đoán hình ảnh đóng vai trò then chốt: phim bụng/ ngực và tư thế nghiêng, siêu âm (nhất là hố chậu phải/ vùng liên quan chức năng gan; viêm túi mật—kèm HIDA khi nghi ngờ viêm túi mật không do sỏi), CT có cản quang để phát hiện hoại tử ruột, rò rỉ/ chảy máu sau mổ, tắc ruột và định vị áp xe để dẫn lưu qua da hoặc can thiệp. Tóm tắt nguyên nhân theo hệ thống (nội khoa/ngoại khoa) và dựa theo vị trí đau để hỗ trợ phân biệt; đồng thời nhấn mạnh rằng điều trị toàn diện các cấp cứu bụng vượt phạm vi chương này.
Recognized tags: chan-doan, xet-nghiem, hinh-anh, icu, cap-cuu

GIỚI THIỆU

Tình trạng bụng cấp là một triệu chứng thường gặp trong đơn vị chăm sóc đặc biệt (icu), tuy nhiên chẩn đoán thường bị trì hoãn do không có dấu hiệu và triệu chứng điển hình của viêm phúc mạc. Các dấu hiệu thăm khám lâm sàng giúp xác định tình trạng bụng cấp, như cảm ứng phúc mạc, gồng cứng như gỗ và đề kháng thành bụng, không phải lúc nào cũng biểu hiện rõ ràng trong bối cảnh ICU khi người bệnh có nhiều vấn đề khác cần được xử trí song song. Một nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu trên các bệnh nhân ICU nội khoa có bệnh lý ngoại khoa vùng bụng cho thấy việc trì hoãn phẫu thuật xảy ra ở nhóm bệnh nhân có thay đổi tri giác, không có dấu hiệu viêm phúc mạc, đã được dùng thuốc giảm đau opioid trước đó, đồng thời đã sử dụng kháng sinh và thở máy. Sự chậm trễ trong chẩn đoán và quản lý cơn tình trạng bụng cấp có liên quan đến việc gia tăng tỷ lệ tử vong. Do đó, việc rèn luyện khả năng nhận diện tình trạng bụng cấp ở bệnh nhân nguy kịch, trong đó các biểu hiện thực thể bị che giấu, là một kỹ năng có tính chất cứu sống.

QUÁ TRÌNH BỆNH LÝ (TIỀN SỬ/ BỆNH SỬ) CỦA BỆNH NHÂN

Khai thác bệnh sử ở bệnh nhân trong ICU thường gặp nhiều khó khăn do thay đổi tri giác, đang dùng thuốc an thần hoặc đã được đặt nội khí quản. Việc cân nhắc một cách hệ thống tiền sử nội khoa, tiền sử phẫu thuật, tình trạng dị ứng và toàn bộ thuốc đang sử dụng giúp làm sáng tỏ nguyên nhân có thể liên quan đến bệnh lý vùng bụng.
  • Nếu người bệnh còn tỉnh táo, việc mô tả cơn đau—bao gồm tính chất và mức độ đau—có thể hỗ trợ tập trung vào các chẩn đoán phân biệt.
  • Trong trường hợp người bệnh không tỉnh táo, khai thác bệnh sử từ người nhà là bước cần thiết và có vai trò quan trọng.
Thông tin có ảnh hưởng lớn nhất đến chẩn đoán phân biệt là việc liệu bệnh nhân có phẫu thuật gần đây hay không. Mối liên quan giữa sự thay đổi trên thăm khám bụng so với thời điểm phẫu thuật có thể gợi ý các nhóm bệnh lý khác nhau. Chẳng hạn, người bệnh vừa trải qua phẫu thuật bụng (<3 ngày) có nguy cơ chảy máu và rò rỉ miệng nối cao hơn; ngược lại, người bệnh sau phẫu thuật khoảng một tuần có nhiều khả năng bị áp xe trong ổ bụng hơn.

XÉT NGHIỆM

Trong môi trường hồi sức tích cực, các thăm dò xét nghiệm là công cụ hỗ trợ quan trọng vì đa số bệnh nhân không thể cung cấp bệnh sử hoặc không mô tả chính xác được các triệu chứng thực thể hiện tại. Theo dõi diễn tiến của kết quả xét nghiệm có thể cung cấp thêm thông tin về diễn tiến bệnh lý liên quan đến vùng bụng. Xu hướng tăng wbc thường phản ánh tình trạng nhiễm trùng hoặc viêm, nhưng không đặc hiệu vì wbc có thể tăng sau thủ thuật, sau phẫu thuật gần đây hoặc ở bệnh nhân đang sử dụng steroid. Ngược lại, wbc ở mức quá cao (35.000 đến 40.000 tế bào/mcL) có thể gợi ý nhiễm trùng nặng hơn, ví dụ viêm đại tràng do Clostridium dificile, và trong tình huống đó cần thực hiện xét nghiệm chẩn đoán thích hợp. Số lượng wbc bình thường hoặc giảm có thể gây hiểu nhầm; vì vậy, cần ghi nhận sự thay đổi về số lượng bạch cầu và sự chuyển trái (bạch cầu chuyển trái). Wbc giảm đến mức giảm bạch cầu kèm chuyển trái rõ rệt có liên quan đến nhiễm trùng huyết nặng.
Các xét nghiệm chức năng gan bất thường bao gồm nồng độ bilirubin (bilirubin trực tiếp, bilirubin gián tiếp và bilirubin toàn phần), phosphatase kiềm (ALP) và transaminase (got, gpt, ggt) . Các chỉ điểm này có thể giúp định vị tổn thương ở túi mật, hệ mật hoặc gan, nhưng hiếm khi đủ để chẩn đoán xác định. Trên thực hành, chúng chủ yếu dùng để định hướng lựa chọn các phương tiện chẩn đoán hình ảnh. Đáng chú ý, ở bệnh nhân nguy kịch, sự tăng bilirubin cấp tính có thể là dấu hiệu của viêm túi mật không do sỏi. Nồng độ amylase và lipase tăng cao hỗ trợ chẩn đoán viêm tụy; tuy nhiên, việc tăng amylase đơn độc có thể gợi ý thủng tạng rỗng hoặc thiếu máu ruột cục bộ. Khi ghi nhận đồng thời tăng bilirubin và tăng amylase, cần nghĩ đến tình trạng tắc nghẽn ở đoạn xa của ống mật chủ đoạn chung hoặc ống tụy. Mặc dù lactate tăng cao (>4 mmol/L) có thể báo hiệu tình trạng cấp cứu do thiếu máu mạc treo kèm hoại tử ruột, nhưng không đặc hiệu, vì lactate tăng cũng có thể là hậu quả của nhiễm toan máu, thiếu oxy, giảm thể tích máu, thiếu máu hoặc suy thận hoặc suy gan. Cần lấy khí máu động mạch để xác định có nhiễm toan hay thiếu oxy máu hay không và để định lượng lượng kiềm thiếu hụt. Hội chứng khoang bụng cần được đặt trong diện nghi ngờ khi có tình trạng nhiễm toan, thiếu oxy máu, thiểu niệu và bụng chướng; áp lực bàng quang có thể cần được đo, và áp lực >30 mm Hg có thể cần phải phẫu thuật giảm áp khẩn cấp. Tổng phân tích nước tiểu không đặc hiệu, nhưng tiểu máu vi thể hoặc tiểu mủ có thể gợi ý nhiễm trùng đường tiết niệu hoặc nhiễm trùng vùng bụng dưới/ vùng chậu.

KHÁM THỰC THỂ

Ở bệnh nhân ICU, các dữ kiện của khám thực thể có thể kém tin cậy hơn khi người bệnh đang được sử dụng thuốc giảm đau, thuốc an thần hoặc steroid; do đó cần chú trọng đánh giá sự thay đổi các dấu hiệu khám lâm sàng theo diễn tiến thay vì chỉ dựa vào các dấu hiệu viêm phúc mạc kinh điển. Khi tình trạng lâm sàng xấu đi, cần tiến hành thăm khám bụng liên tục và đồng thời phải thăm hậu môn-trực tràng.
Do đau bụng ở bệnh nhân nguy kịch có thể không bộc lộ rõ, các biểu hiện không đặc hiệu như nhịp tim nhanh, hạ huyết áp và sốt làm gia tăng mức độ nghi ngờ đối với bệnh lý tiềm ẩn trong ổ bụng. Một thay đổi đột ngột trong cài đặt thông khí, thở quá mức so với máy thở hoặc tăng áp lực đường thở có thể gợi ý nỗ lực của bệnh nhân để bù trừ tình trạng nhiễm toan chuyển hóa hoặc phản ánh sự gia tăng áp lực trong khoang bụng. Các biểu hiện như tăng lượng dịch qua sonde mũi dạ dày, chướng bụng, không đi tiêu hoặc không dung nạp thức ăn đột ngột có liên quan đến tắc ruột, thiếu máu mạc treo hoặc tắc ruột cấp tính do nhiễm trùng trong ổ bụng. Vì điều dưỡng theo dõi và tiếp xúc bệnh nhân thường xuyên hơn, cần trao đổi với họ về các thay đổi trong tình trạng người bệnh, bao gồm tần số và chất lượng của nhu động ruột (viêm đại tràng C.difficile hoặc thiếu máu cục bộ đường ruột), lượng dịch tiết ra (nhiễm trùng bụng, thất thoát hoặc rò rỉ) và tình trạng dẫn lưu vết thương (áp xe trong ổ bụng hoặc vết thương hở). Ở người bệnh vừa trải qua phẫu thuật vùng bụng, các dấu hiệu không đặc hiệu có thể tương ứng với một số dạng rò rỉ thông nối (ruột, đường mật, tuyến tụy). Nếu bệnh nhân nằm trong giai đoạn khoảng một tuần sau mổ, cần xem xét nhiễm trùng huyết trong ổ bụng, thiếu máu cục bộ hoặc áp xe.
Tình trạng bụng cấp tại ICU có thể là hậu quả của bệnh lý nền hoặc của can thiệp phẫu thuật; tuy nhiên tồn tại một số chẩn đoán trùng lặp ( Bảng 1 ). Để hỗ trợ phân biệt đau bụng ở bệnh nhân nặng tại ICU, thực hành hữu ích nhất là chia vùng bụng thành sáu khu vực nhằm đánh giá nguồn gốc của bệnh lý vùng bụng ( Bảng 2 ).
Bảng 1. Nguyên nhân nội khoa và ngoại khoa của bệnh lý bụng cấp tính ở ICU
Nội khoa Thăm dò tương ứng
  1. Suy thận cấp (ure huyết cao)
  2. Bệnh hồng cầu hình liềm
  3. Suy tuyến thượng thận/cơn Addisonian
  4. Viêm phúc mạc nhiễm khuẩn nguyên phát
  5. Nhiễm toan đái tháo đường
  6. Viêm dạ dày ruột/viêm ruột đại tràng
  7. Viêm thực quản
  8. Viêm gan
  9. Bệnh loét dạ dày/viêm dạ dày
  10. Sỏi thận/viêm bể thận
  11. Nhồi máu cơ tim
  12. Viêm phổi
  13. Nhiễm trùng đường tiết niệu
  14. Bệnh phụ khoa
  1. ↓ UOP, UA (trụ hạt), ↑ BUN và Cr, FeNa, siêu âm thận
  2. ↓ Hematocrit, phết máu ngoại vi
  3. BMP (↑ K+, ↓ Na+, ↓ glucose), cortisol máu và ACTH, xét nghiệm kích thích cosyntropin
  4. Siêu âm, chọc hút bằng nhuộm Gram và nuôi cấy
  5. Glucose, UA, BMP (nồng độ Na+ và K+), ABG (nhiễm toan)
  6. Bạch cầu(1), trứng trong phân/ký sinh trùng
  7. EGD, nuốt barium, theo dõi pH
  8. LFTs, bộ viêm gan
  9. EGD, nuốt barium, theo dõi pH, đo áp lực
  10. UA (tiểu mủ, tiểu máu), siêu âm thận
  11. ECG, troponin
  12. Chụp X-quang ngực, xét nghiệm mẫu đàm, WBC
  13. UA (vi khuẩn, bạch cầu esterase, nitrit)
  14. Khám vùng chậu, lậu/chlamydia, siêu âm
Nội khoa và Ngoại khoa Thăm dò tương ứng
  1. Viêm túi thừa/bệnh viêm ruột(IBD)
  2. Viêm đại tràng do Clostridium difficile
  3. Viêm tụy/áp xe tụy
  4. Áp xe trong ổ bụng
  5. Tắc ruột non/già
  6. Sỏi ống mật chủ
  7. Viêm đường mật
  8. Rách kiểu Mallory–Weiss
  1. WBC, CT scan,(2) Soi đại tràng sigma linh hoạt/nội soi đại tràng
  2. Xét nghiệm độc tố phân × 3, WBC tăng cao nghiêm trọng
  3. Amylase, lipase, siêu âm, CT scan để loại trừ hoại tử
  4. WBC, CT scan
  5. WBC, lactate, chụp X-quang đơn giản(bụng không chuẩn bị), chụp CT
  6. LFT, siêu âm RUQ
  7. LFTs, WBC, siêu âm RUQ
  8. EGD, hematocrit, xét nghiệm đông máu
Ngoại khoa Thăm dò tương ứng
  1. Viêm túi mật cấp
  2. Viêm túi mật không do sỏi
  3. Thủng tạng rỗng do loét dạ dày tá tràng hoặc tá tràng
  4. Viêm ruột thừa cấp
  5. Thiếu máu cục bộ mạc treo và hoại tử ruột
  6. Thủng đại tràng
  7. Vỡ hoặc rò rỉ phình động mạch chủ bụng
  8. Megacolon(phình đại tràng) do ngộ độc
  9. Xoắn đại tràng Sigma hoặc xoắn manh tràng
  10. Hội chứng Boerhaave
  11. Nứt vết thương
  12. Rò rỉ miệng nối (ruột, mật, tụy)
  13. Hội chứng khoang bụng
  1. WBC, LFTs, siêu âm RUQ
  2. WBC, LFTs, siêu âm RUQ, quét HIDA
  3. Chụp X quang phim thường (khí tự do), loạt tiêu hóa trên, chụp CT
  4. WBC, CT scan có cản quang trực tràng, siêu âm để lọai trừ các bệnh lý khác
  5. WBC, lactate, ABG (nhiễm toan), chụp CT
  6. WBC, chụp X-quang phim thường (không khí tự do), chụp CT
  7. Hematocrit(HCT), xét nghiệm đông máu, CT mạch máu (chỉ cần thuốc cản quang IV)
  8. Phân tích độc chất C. difficile trong phân × 3, WBC, chụp X-quang thường(bụng đứng không chuẩn bị), chụp CT
  9. Chụp X-quang phim thường, chụp CT
  10. Chụp X-quang phim thường, hình ảnh x quang dạ dày-thực quản khi nuốt thuốc cản quang
  11. WBC, cấy vết thương, siêu âm, chụp CT
  12. WBC, CT scan (nếu bệnh nhân vừa phẫu thuật)
  13. ↓ UOP, WBC, lactate, ABG (nhiễm toan), đo áp lực bàng quang
UOP: lượng nước tiểu; UA: Tổng phân tích nước tiểu; BUN: blood urea nitrogen; Cr: creatine; BMP: tình trạng chuyển hóa máu; ACTH: corticotropin; ABG: khí máu động mạch; WBC: bạch cầu; EGD: nội soi thực quản dạ dày tá tràng; ECG: điện tâm đồ; CT: chụp cắt lớp vi tính; r/o: loại trừ; RUQ: góc phần tư phía trên bên phải; HIDA: quét axit iminodiacetic gan mật; GI: đường tiêu hóa; IV: tiêm tĩnh mạch.

(1) WBC luôn thu được với số lượng tế bào khác nhau.
(2) Luôn luôn phải chụp CT bằng thuốc cản quang đường tĩnh mạch và đường uống trừ khi có chống chỉ định (chức năng thận bất thường).

Bảng 2. Nguyên nhân bệnh lý đau bụng dựa trên vị trí
1/4 trên phải Thượng vị 1/4 trên trái
  • Viêm túi mật cấp tính
  • Viêm túi mật cấp không do sỏi
  • Viêm gan
  • Sỏi đường mật.
  • Viêm đường mật
  • Áp-xe gan
  • Viêm tụy cấp
  • Bệnh loét dạ dày/viêm dạ dày
  • Sỏi thận/viêm bể thận
  • Viêm ruột thừa (phụ nữ mang thai)
  • Nhồi máu cơ tim
  • Viêm phổi
  • Viêm tụy cấp
  • Bệnh loét dạ dày/ viêm dạ dày
  • Thủng do loét dạ dày tá tràng hoặc tá tràng
  • Rách kiểu Mallory-Weiss
  • Hội chứng Boerhaave
  • Viêm thực quản
  • Viêm dạ dày- ruột
  • Nhồi máu cơ tim cấp
  • Viêm phổi
  • Xuất huyết hoặc áp xe lách
  • Bệnh loét dạ dày
  • Thủng do loét dạ dày- tá tràng
  • Viêm tụy cấp
  • Nang giả tụy hoặc áp xe tụy
  • Sỏi thận/viêm bể thận
  • Viêm phổi (thùy dưới bên trái)
1/4 dưới phải Quanh rốn/ không đặc hiệu 1/4 dưới trái
  • Viêm ruột thừa cấp
  • Tắc ruột non/già
  • Xoắn đại tràng Sigma
  • Xoắn manh tràng
  • Viêm túi thừa manh tràng
  • Viêm ruột (Enterocolitis)
  • Bệnh viêm ruột (Inflammatory bowel disease - IBD)
  • Sỏi thận
  • Nhiễm trùng đường tiết niệu
  • Bệnh phụ khoa
  • Tắc ruột non/già
  • Thiếu máu cục bộ hoặc tắc động mạch mạc treo
  • Vỡ hoặc rò rỉ túi phình động mạch chủ bụng.
  • Viêm ruột thừa giai đoạn sớm
  • Viêm đại tràng do Clostridium difficile hoặc megacolon(phình đại tràng) do độc chất.
  • Nứt vết mổ.
  • Hội chứng khoang bụng
  • Áp xe trong ổ bụng
  • Rò rỉ thông nối (ruột, mật, tụy)
  • Viêm túi thừa Sigma
  • Xoắn đại tràng Sigma
  • Thủng đại tràng
  • Tắc ruột non/già
  • Viêm ruột (Enterocolitis)
  • Bệnh viêm ruột (Inflammatory bowel disease)
  • Sỏi thận
  • Nhiễm trùng đường tiết niệu
  • Bệnh phụ khoa

Lời giải thích thực sự về tất cả các trường hợp cấp cứu cấp tính ở bụng cũng như việc chẩn đoán và điều trị chúng nằm ngoài phạm vi của chương này. Một sơ đồ được cung cấp để giúp hướng dẫn các quyết định quản lý cho những bệnh nhân trong ICU có thể đang gặp phải bệnh lý trong ổ bụng ( Sơ đồ 1 ).
(1)
Sơ đồ 1. Tiếp cận chẩn đoán và quản lý bệnh lý bụng cấp trong ICU
Sơ đồ 1. Tiếp cận chẩn đoán và quản lý bệnh lý bụng cấp trong ICU

THĂM DÒ HÌNH ẢNH HỌC

Hình ảnh học ổ bụng nhằm xác nhận hoặc loại trừ các tai biến tại ổ bụng. Trước hết, cần chụp phim ba mặt phẳng của bụng (thận/niệu quản/bàng quang, ngực thẳng và tư thế nằm nghiêng). Khí trong đường mật hoặc trong ruột, còn được gọi là viêm ruột hoại tử (pneumatosis), gợi ý ruột hoại tử và cho thấy sự cần thiết phải hội chẩn/phẫu thuật khẩn cấp. Khí tự do trong phúc mạc hoặc sau phúc mạc gợi ý thủng ruột hoặc dạ dày. Tuy nhiên, ở bệnh nhân vừa trải qua phẫu thuật nội soi, sự hiện diện của khí tự do cần được lý giải thận trọng vì có thể là kết quả trực tiếp của chính thủ thuật đó.
Siêu âm bụng là phương pháp không xâm lấn và được lựa chọn ưu tiên cho các bệnh nhân có triệu chứng ở ¼ trên phải hoặc tình trạng liên quan đến chức năng gan. Siêu âm giúp làm rõ bệnh lý túi mật khi ghi nhận dịch quanh túi mật, thành túi mật dày, sỏi mật, giãn ống mật hoặc hình ảnh túi mật căng to, từ đó gợi ý viêm túi mật có sỏi hoặc viêm túi mật không do sỏi. Nếu mức độ nghi ngờ viêm túi mật không do sỏi cao, quét axit iminodiacetic gan mật (HIDA) sẽ được sử dụng để xác nhận chẩn đoán. Siêu âm bụng cũng có thể phát hiện dịch ở các vị trí khác, đặc biệt quanh tuyến tụy hoặc vùng chậu. Dù không đặc hiệu, dịch trong khung chậu có thể phản ánh một bệnh lý trong ổ bụng hoặc là hậu quả của quá trình hồi sức tích cực.
Chụp cắt lớp vi tính (CT scan) có thuốc cản quang đặc biệt hữu ích trong việc nhận diện tình trạng ruột dày lên thứ phát do phù nề, giãn nở và chứa đầy dịch ruột, dính mỡ cùng khí thủng—đây đều là các dấu hiệu liên quan đến hoại tử ruột và cần được đánh giá bằng can thiệp phẫu thuật ngay lập tức. CT scan cũng có thể xác định điểm chuyển tiếp trong tắc ruột, qua đó hỗ trợ định hướng quản lý phẫu thuật thuận lợi hơn. Ở bệnh nhân mới phẫu thuật có biểu hiện lâm sàng xấu đi đột ngột và hematocrit(HCT) giảm, CT scan có thể phát hiện khối máu tụ đang tiến triển hoặc chảy máu cấp tính. Cuối cùng, CT scan có vai trò quan trọng trong xác định vị trí và kích thước của áp xe trong ổ bụng, từ đó hướng dẫn xử trí bằng dẫn lưu qua da hoặc phẫu thuật nội soi và rửa sạch.

Tài liệu tham khảo

  1. The Acute Abdomen. Douglas J.E. Schuerer. Critical Care 2018
  2. A hepatobiliary iminodiacetic acid (HIDA) scan. Mayo Clinic