GIỚI THIỆU
Điều hòa thân nhiệt phản ánh sự cân bằng giữa hai quá trình: sinh nhiệt và thải nhiệt. Các hoạt động chuyển hóa cơ bản là nguồn tạo nhiệt, trong khi các cơ chế đáp ứng thích nghi khác nhau—bao gồm giãn mạch và tăng tiết mồ hôi, hoặc co mạch và rét run—giúp duy trì nhiệt độ cơ thể bình thường tại 37°C (98,6°F).
Duy trì thân nhiệt bình thường chịu sự điều khiển của vùng dưới đồi, hệ serotonergic thuộc thân não và quá trình phosphoryl oxy hóa ty thể ở mức tế bào. Khi có sự gián đoạn hoặc thay đổi ở bất kỳ thành phần nào trong các cơ chế nêu trên, có thể xuất hiện rối loạn điều hòa thân nhiệt.
SỐT VÀ TĂNG THÂN NHIỆT
Sốt là một đáp ứng tiến hóa thích nghi nhằm chống lại nhiễm trùng. Cơ chế của sốt liên quan đến việc làm tăng “điểm thiết lập” nhiệt độ tại vùng dưới đồi, dẫn đến tăng nhiệt độ cơ thể. Các nghiên cứu cho thấy hoạt động miễn dịch được tăng cường khi nhiệt độ tăng, trong khi sự phát triển của vi khuẩn bị ức chế; đồng thời, việc can thiệp nhằm ngăn cản sự gia tăng nhiệt độ bình thường của cơ thể để đáp ứng với nhiễm trùng (bằng làm mát bắt buộc hoặc điều trị hạ sốt) có thể làm kéo dài thời gian tồn tại của các triệu chứng nhiễm trùng.
Tuy nhiên, sốt cao bất thường (trên 103°F/39,4°C kéo dài hoặc bất kỳ cơn sốt nào trên 105°F/40,5°C) có thể gây ra các hậu quả không mong muốn, bao gồm co giật, đông máu nội mạch lan tỏa (DIC), suy thận và tử vong.
Một lực lượng đặc nhiệm (Task Force) gồm các hiệp hội Hồi Sức Tích Cực Nội Khoa và Bệnh Truyền Nhiễm xác định sốt là khi nhiệt độ ≥38,3°C (>101°F) được đo từ một vị trí đáng tin cậy (miệng, trực tràng, lỗ tai, tĩnh mạch hoặc bàng quang). Nhiệt độ trên 38,3°C cần được thăm khám thực thể để đánh giá nguyên nhân có phải do nhiễm trùng hay không.
Thăm dò ban đầu tối thiểu nên bao gồm: lấy tối thiểu 2 bộ cấy máu từ 2 vị trí vô trùng khác nhau, chụp X quang ngực (đặc biệt ở bệnh nhân được đặt nội khí quản) và phân tích nước tiểu bằng kính hiển vi. Việc nuôi cấy và thực hiện các xét nghiệm bổ sung được tiến hành theo chỉ định. Xem sơ đồ bên dưới để biết thêm thông tin.
Thăm dò đối với sốt/tăng thân nhiệt
Quyết định bắt đầu liệu pháp kháng sinh dựa trên tình trạng lâm sàng, mức độ nghi ngờ nhiễm trùng và đặc điểm miễn dịch của bệnh nhân. Người bệnh suy giảm miễn dịch cần nhanh chóng được sử dụng kháng sinh phổ rộng theo kinh nghiệm trong khi chờ thăm dò tiếp theo (xem thêm: Nhiễm trùng ở bệnh nhân suy giảm miễn dịch). Đối với bệnh nhân ổn định nhưng không có nguồn nhiễm trùng rõ ràng, có thể theo dõi sát để đánh giá tái phát sốt và kết quả nuôi cấy trước khi khởi trị.
Bảng 1 liệt kê các nguyên nhân nhiễm trùng và không nhiễm trùng gây sốt và tăng thân nhiệt trong ICU.
| Bảng 1. Nguyên nhân của sốt và tăng thân nhiệt |
|---|
| Nguyên nhân nhiễm trùng |
|
| Nguyên nhân không nhiễm trùng |
|
Chú thích:
ARDS: hội chứng suy hô hấp cấp tính;
SSRI: thuốc ức chế tái hấp thu serotonin có chọn lọc;
TCA: thuốc chống trầm cảm ba vòng;
MAOIs: thuốc ức chế monoamine oxidase.
Hầu hết các cơn sốt là hậu quả của nhiễm trùng; kháng sinh thích hợp thường giúp cải thiện tình trạng trong vòng vài ngày. Tuy nhiên, nhiệt độ ≥38,3°C (>101°F) có thể liên quan đến nguồn không nhiễm trùng và cần được xem xét trong thăm dò ban đầu để tránh sử dụng kháng sin không phù hợp, xét nghiệm chẩn đoán không cần thiết và mất thời gian không phù hợp. Nhiệt độ >38,9°C (>102°F) ít gặp ở các nguyên nhân không nhiễm trùng, trừ các trường hợp do thuốc (bao gồm hội chứng tăng thân nhiệt), phản ứng truyền máu và bệnh lý ác tính về huyết học.
Tổn thương vùng dưới đồi do chấn thương, khối u, xuất huyết hoặc thiếu máu cục bộ có thể làm tăng điểm thiết lập nhiệt độ vùng dưới đồi, tạo ra hiện tượng gọi là sốt ở vùng dưới đồi hoặc sốt trung ương. Đây là một cơn sốt thực sự chứ không phải quá trình tăng thân nhiệt. Các dấu hiệu gợi ý sốt trung ương gồm: đường cong sốt dạng cao nguyên, đáp ứng kém với thuốc hạ sốt, không vã mồ hôi và nghi ngờ hoặc xác nhận tổn thương vùng dưới đồi. Dù vậy, tổn thương vùng dưới đồi lại thường liên quan nhất đến hạ thân nhiệt.
Ngược lại với sốt, tăng thân nhiệt phản ánh tình trạng nhiệt độ cơ thể tăng lên mặc dù trung tâm điều nhiệt (vùng dưới đồi) vẫn hoạt động bình thường; nguyên nhân có thể do tăng sinh nhiệt hoặc giảm thải nhiệt. Tăng thân nhiệt không phải là một đáp ứng sinh lý bình thường và nếu không được điều trị có thể dẫn đến bệnh tật nghiêm trọng và tử vong.
Mặc dù nhiều thuốc có thể gây tăng thân nhiệt, một số thuốc lại gây ra các hội chứng tăng thân nhiệt đặc hiệu. Chẩn đoán hội chứng tăng thân nhiệt do thuốc dựa trên tiền sử dùng thuốc và các biểu hiện lâm sàng (Bảng 2).
| Bảng 2. Hội chứng tăng thân nhiệt do thuốc có chọn lọc | |||||
|---|---|---|---|---|---|
| Hội chứng lâm sàng | Thuốc liên quan | Thời gian khởi phát | Dấu hiệu/ Triệu chứng | Biến chứng | Ghi chú |
| Tăng thân nhiệt ác tính (MH) | Khí gây mê dễ bay hơi và thuốc liệt cơ khử cực (halothane, isoflurane, succinylcholine | Vài phút đến vài giờ sau phơi nhiễm | Sốt cao nguy kịch, cứng cơ, nhịp tim nhanh, tăng CO2 | Tiêu cơ vân, suy sụp huyết động, và tử vong | Khiếm khuyết di truyền trong chuyển hóa canxi của cơ xương |
| Hội chứng serotonin | Thuốc điều trị tác động đến con đường serotonin (SSRI, MAOI, SNRI, TCA), linezolid, fentanyl, meperidin, dextromethorphan | Vài giờ sau khi tiếp xúc |
Bộ ba:
1. Vấn đề về nhận thức (lú lẫn, kích động) 2. Mất ổn định thần kinh thực vật 3. Bất thường thần kinh -cơ (rung giật, tăng phản xạ và run rẩy) |
Tiêu cơ vân, suy thận | Tăng thân nhiệt hiện diện ở ~50% và là do tăng hoạt động cơ bắp (kích động và run rẩy) |
| Hội chứng thuốc ác tính do thuốc an thần (NMS) | Thuốc an thần (phenothiazin, haloperidol, metoclopramide và prochlorperazine), hoặc cai thuốc đồng vận dopamine (L-dopa) cấp tính | Vài giờ đến vài ngày sau phơi bày | Tăng thân nhiệt, cứng cơ dạng ống chì “lead-pipe”, mất ổn định hệ thần kinh thực vật và bị thay đổi tình trạng ý thức (sững sờ, trầm cảm) |
Thần kinh:
co giật
Tim: rối loạn nhịp tim bao gồm xoắn đỉnh, ngừng tim, nhồi máu cơ tim, bệnh cơ tim Phổi: suy hô hấp, viêm phổi do hít, thuyên tắc phổi Thận: mất nước, mất cân bằng điện giải, ARF do tiêu cơ vân Huyết học: DVT và viêm tĩnh mạch, giảm tiểu cầu, DIC, nhiễm trùng huyết |
Tăng thân nhiệt là kết quả từ hoạt động cơ và rối loạn điều hòa trung ương vùng dưới đồi |
| Ngộ độc thuốc kháng cholinergic | Thuốc chẹn thụ thể Muscarinic trung ương và ngoại vi (thuốc kháng histamine, atropine và thuốc chống trầm cảm ba vòng) | Vài giờ sau khi tiếp xúc | Lú lẫn, run rẩy, ảo giác, giãn đồng tử, khô miệng, táo bón, bí tiểu, và hôn mê | Tương tự với NMS | Tăng thân nhiệt là kết quả của việc giảm tiết mồ hôi |
| Ngộ độc thuốc kích thích thần kinh giao cảm | MAOI và lạm dụng chất gây nghiện (cocain, amphetamine, methamphetamine và dẫn xuất, tức là thuốc lắc) | Vài giờ sau khi tiếp xúc | Tăng thân nhiệt, vã mồ hôi, nhịp tim nhanh, mất điều hòa, mất ngủ, tiêu cơ vân, và co giật | Phù não, co giật, ngừng tim, ARF | Liên quan đến con đường tiết serotonin và dopamine. Rối loạn điều hòa trung ương và ngoại biên dẫn đến tăng thân nhiệt |
SSRI: thuốc ức chế tái hấp thu serotonin có chọn lọc;
MAOI: thuốc ức chế monoamine oxidase;
SNRI: thuốc ức chế tái hấp thu serotonin–norepinephrine;
TCA: thuốc chống trầm cảm ba vòng;
MI: nhồi máu cơ tim;
ARF: suy thận cấp;
DVT: huyết khối tĩnh mạch sâu.
Xem chủ đề Ngộ độc để biết thêm thông tin về hội chứng nhiễm độc bao gồm hội chứng tăng thân nhiệt do thuốc.
Điều trị
Nguyên tắc ưu tiên trong điều trị bệnh nhân sốt là xử trí nguyên nhân nền. Việc quyết định hạ nhiệt độ cơ thể bằng thuốc (thuốc hạ sốt) hoặc các biện pháp vật lý phụ thuộc vào nguyên nhân, biểu hiện lâm sàng và mức độ nghiêm trọng của tình trạng tăng nhiệt độ. Các lựa chọn điều trị được trình bày trong Bảng 3.
| Bảng 3. Các lựa chọn điều trị đối với sốt và tăng thân nhiệt |
|---|
| Thuốc hạ sốt |
|
| Làm mát bên ngoài |
|
| Làm mát bên trong |
|
| Tăng thân nhiệt do thuốc |
|
| Điều trị thuốc (và chỉ định cụ thể) (1) |
|
(1) (a) Xem liều lượng thuốc thông thường và tác dụng phụ ở phần Phụ lục. Ghi chú: MH: tăng thân nhiệt ác tính; NMS: hội chứng ác tính do thần kinh; SS: hội chứng serotonin; AS: hội chứng kháng cholinergic; VF: rung thất.
Không có lợi ích rõ ràng khi điều trị các cơn sốt nhẹ, và việc điều trị có thể che lấp các kiểu sốt đặc trưng của một số bệnh như sốt cách nhật và cách 3 ngày trong nhiễm plasmodium(sốt rét), hoặc sốt Pel-Ebstein trong lymphoma. Cần đảm bảo hạ nhiệt độ cơ thể trong trường hợp sốt cao có thay đổi tri giác, co giật và ở những bệnh nhân hồi sức tích cực có bệnh nền phổi hoặc tim mạch nặng. Hội chứng tăng thân nhiệt thường không đáp ứng tốt với liệu pháp hạ sốt; do đó cần loại bỏ yếu tố khởi phát và điều trị bằng thuốc nhắm mục tiêu như được nêu trong Bảng 3. Ngoài ra, nên bắt đầu sớm các biện pháp làm mát bên ngoài (hoặc không xâm lấn); các trường hợp nặng có thể cần đến phương pháp làm mát bên trong (xâm lấn).
HẠ THÂN NHIỆT
Hạ thân nhiệt được xác định khi thân nhiệt trung tâm <35°C (<95°F).
Bảng 4 liệt kê các nguyên nhân có thể gây hạ thân nhiệt.
| Bảng 4. Nguyên nhân hạ thân nhiệt |
|---|
|
Tiếp xúc quá lạnh là nguyên nhân thường gặp nhất ở khoa cấp cứu; ngược lại, nhiễm trùng huyết nặng, nhiễm độc và các bệnh nội tiết là những nguyên nhân thường gặp tại ICU. Phần lớn các trường hợp xảy ra ở người bệnh có bệnh nền mãn tính, người già, bệnh nhân suy nhược, người vô gia cư hoặc bị nhiễm độc.
Hạ thân nhiệt có thể được phân loại thành ba mức độ dựa trên đo thân nhiệt trung tâm với mức độ tin cậy tương đối: nhẹ (32°C đến 35°C [90°F đến 95°F]), trung bình (28°C đến 32°C [82 °F đến 90°F]) và nặng (<28°C [<82°F]). Hạ thân nhiệt nhẹ thường biểu hiện rét run và tứ chi lạnh, kèm tái nhợt. Khi hạ thân nhiệt nặng dần, rét run giảm; hạ thân nhiệt từ trung bình đến nặng thường đặc trưng bởi suy giảm ý thức, mất điều hòa, rối loạn nhịp tim (nhịp tim chậm hoặc rối loạn nhịp trên thất), giảm phản xạ, giảm thông khí, giãn đồng tử và co mạch ngoại vi dẫn đến mạch không thể sờ thấy. Hạ thân nhiệt nặng có thể tiến triển đến hôn mê, phù phổi, ngừng tim và tử vong.
Các thăm dò xét nghiệm có thể bao gồm suy thận, rối loạn chức năng gan, nhiễm toan và rối loạn đông máu. Thông thường, các biến đổi điện giải là không thể đoán trước. Rối loạn chức năng cơ quan đích là hệ quả của việc giảm cung lượng tim và giảm khả năng thanh thải chất độc và thuốc. Bất thường điện tâm đồ (ECG) bao gồm sóng J (còn gọi là Osborn) và các khoảng PR, QRS và QT kéo dài. Sóng J là sóng dương tại điểm nối QRS-ST trên chuyển đạo thất trái; có thể gặp ở 80% bệnh nhân hạ thân nhiệt và có thể bị nhầm lẫn với block bó nhánh phải (RBBB) mới. Khác với các thay đổi ECG khác trong hạ thân nhiệt (được cải thiện khi khắc phục tình trạng hạ thân nhiệt), sóng J có thể tồn tại dai dẳng từ 12 đến 24 giờ sau khi phục hồi thân nhiệt trở về bình thường.
Điều trị
Điều trị ban đầu theo tiếp cận ABC (đường thở, hô hấp, tuần hoàn) trong hồi sinh tim phổi nâng cao: bắt đầu bằng cởi bỏ quần áo ướt, bảo vệ khỏi mất nhiệt và hạn chế cử động quá mức nhằm ngăn ngừa rối loạn nhịp tim. Bệnh nhân cần được kết nối với máy theo dõi tim để xác định nhịp tim, vì nhịp tim chậm do hạ thân nhiệt và co mạch ngoại vi có thể làm cho việc bắt mạch ngoại vi trở nên khó khăn.
Làm ấm lại thụ động thường đủ cho trường hợp hạ thân nhiệt nhẹ, trong khi làm ấm lại bên ngoài chủ động và bên trong tích cực là phương pháp điều trị chính cho các trường hợp nặng hơn, theo Bảng 5.
| Bảng 5. Các liệu pháp hạ thân nhiệt và thay đổi thân nhiệt trung tâm dự kiến | |
|---|---|
| Phương pháp làm ấm | Nhiệt độ (°C/giờ) |
Bên ngoài thụ động
| 0,5-4 |
Bên ngoài chủ động
| 1-4 |
Bên trong chủ động
| Thay đổi |
| Ngoài cơ thể | |
| Thẩm tách máu/ siêu lọc máu | 2-3 |
| Làm ấm động-tĩnh mạch liên tục | 3-4 |
| Bắc cầu tim phổi | 7-10 |
Mức tăng nhiệt độ mục tiêu là 1°C đến 2°C (2°F đến 4°F) mỗi giờ và nên được theo dõi bằng đầu dò thân nhiệt trung tâm liên tục. Có thể cần làm ấm lại nhanh hơn đối với bệnh nhân ngừng tim do hạ thân nhiệt nghiêm trọng.
Làm ấm lại chủ động bên ngoài có thể gây hiện tượng “giảm nhiệt độ” do máu ngoại vi lạnh được lưu thông trở lại vùng trung tâm. Hiện tượng này có thể tránh bằng cách kết hợp làm ấm lại bên trong. Hạ huyết áp có thể xảy ra trong quá trình làm ấm lại do phản ứng giãn mạch ngoại biên; vì vậy cần điều trị bằng dịch truyền tĩnh mạch ấm và theo dõi huyết áp thường xuyên. Theo dõi tim liên tục và xét nghiệm điện giải trong huyết thanh thường xuyên, kèm điều chỉnh kịp thời, có thể giúp phát hiện sớm và giảm thiểu nguy cơ rối loạn nhịp tim.
Khi hạ thân nhiệt tiến triển, nguy cơ ngừng tim do rối loạn nhịp tim tăng lên và các rối loạn nhịp tim này trở nên kháng trị hơn với chuyển nhịp. Ngoài ra, hiệu quả của thuốc tim mạch giảm và quá trình trao đổi chất cũng giảm ở bệnh nhân hạ thân nhiệt. Do đó, cần sửa đổi hồi sinh tim phổi nâng cao trong các trường hợp này. Khi nhiệt độ cơ thể <30°C và có nhịp nhanh thất (VT) hoặc rung thất (VF), nỗ lực sốc điện khử rung ban đầu đơn thuần là phù hợp, nhưng các nỗ lực bổ sung nên dừng lại cho đến khi nhiệt độ trung tâm tăng lên >30°C. Tương tự, các thuốc hỗ trợ tim mạch thường được giữ (ngừng sử dụng) cho đến khi nhiệt độ cơ thể tăng lên trên 30°C; khi được dùng, khoảng cách giữa các lần dùng thuốc nên được tăng lên để tránh tích tụ gây nhiễm độc.
Tiên lượng phụ thuộc vào nguyên nhân, bệnh kèm theo và biến chứng. Tỷ lệ tử vong lên tới 100% đã được báo cáo trong các trường hợp nặng, tuy nhiên tỷ lệ tử vong không nên công bố cho đến khi bệnh nhân đã được làm ấm lại thành công.
Ở bệnh nhân có đồng thời bỏng lạnh, các bộ phận bị ảnh hưởng cần được thao tác càng ít càng tốt. Các vùng bị ảnh hưởng phải được làm mềm ra (rã đông) bằng cách ngâm trong nước ấm, không ấm quá 40°C đến 42°C; nước ở nhiệt độ cao hơn có thể làm tổn hại thêm. Trong quá trình làm ấm lại có thể hình thành các vết phồng rộp. Các vết phồng rộp trong suốt có thể cắt lọc để tránh tổn hại mô tiếp tục, nhưng các vết phồng rộp xuất huyết phải được giữ nguyên để tránh nhiễm trùng. Các bộ phận cơ thể đã được làm mềm cần được giữ trên các tấm vải vô trùng và được bác sĩ phẫu thuật đánh giá nhằm xác định khả năng tồn tại của mô. Cắt cụt chi khẩn cấp hiếm khi được chỉ định, song bệnh nhân cần được theo dõi thường xuyên về sự phát triển của hội chứng chèn ép khoang.
LIỆU PHÁP HẠ THÂN NHIỆT
Hạ thân nhiệt do điều trị có thể giúp giảm thiểu các di chứng thần kinh do tổn thương thiếu máu cục bộ - tổn thương do tái tưới máu đến não sau ngừng tim, phù não do chấn thương, hoặc phù não liên quan đến suy gan cấp. Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ (AHA) khuyến cáo quản lý nhiệt độ tích cực (<36°C) hoặc gây hạ thân nhiệt (32°C đến 34°C) cho bệnh nhân hôn mê sau khi ngừng tim; đồng thời một số trung tâm y tế đã đưa ra tiêu chuẩn chăm sóc gây hạ thân nhiệt đối với phù não liên quan đến chấn thương sọ não, suy gan cấp và ngạt ở trẻ sơ sinh.
Trong tình huống ngừng tim, điều trị hạ thân nhiệt cần được cân nhắc cho tất cả bệnh nhân không đáp ứng và có tái lập tuần hoàn tự nhiên (ROSC), đồng thời phải tuyệt đối tránh sốt. Không kiểm soát được nhiệt độ cơ thể trung tâm để ngăn tăng thân nhiệt có thể dẫn đến sốt và tổn hại thần kinh không thể phục hồi về sau. Chống chỉ định của liệu pháp hạ thân nhiệt bao gồm: >8 giờ kể từ ROSC, trụy tim mạch sắp xảy ra, chảy máu hoặc nhiễm trùng đe dọa tính mạng, tình trạng bệnh lý nền ở giai đoạn cuối hoặc chỉ thị nâng cao loại trừ các biện pháp điều trị tích cực. (Xem thêm: ACLS - chăm sóc sau ngừng tuần hoàn ngay lập tức ở người lớn với tái lập tuần hoàn tự nhiên).
Các phác đồ điều trị khác nhau, nhưng nhìn chung đều bao gồm bắt đầu hạ thân nhiệt sớm nhất có thể thông qua làm lạnh chủ động bên ngoài và/hoặc nội mạch; kèm an thần, giãn cơ và thở máy với nhiệt độ trung tâm mục tiêu là 32°C đến 34°C và ít nhất dưới 36°C. Tiếp tục duy trì hạ thân nhiệt với theo dõi sát tại ICU lên tới 24 giờ, sau đó làm ấm lại (giảm mức độ lạnh) có kiểm soát với tốc độ 0,2°C đến 0,33°C mỗi giờ nhằm giảm thiểu các biến chứng huyết động. Có thể cần bolus dịch, thuốc tăng co bóp cơ tim và thuốc vận mạch để duy trì tưới máu não đầy đủ; đồng thời sự kết hợp giữa thuốc an thần, thuốc giảm đau và chẹn thần kinh cơ có thể giúp kiểm soát rét run (yếu tố phản tác dụng trong việc đạt được nhiệt độ hạ thân nhiệt). Vì các lý do này, liệu pháp hạ thân nhiệt nên được dành riêng cho các trung tâm có đủ khả năng theo dõi sát các tác dụng phụ về huyết động và thần kinh. (Xem thêm: Liệu pháp hạ thân nhiệt, bao gồm liệu pháp hạ thân nhiệt theo đích).
Tài liệu tham khảo
- Temperature Alterations. A. Cole Burks and Derek E. Byers. Critical Care 2018