GIỚI THIỆU
- Thông tin về tá dược chỉ được trình bày khi có sẵn (đặc biệt hạn chế đối với thuốc generic); cần đối chiếu tờ hướng dẫn của từng sản phẩm cụ thể. [DSC] = Sản phẩm đã ngừng lưu hành.
-
Gói, dùng đường uống (hỗn dịch giải phóng chậm):
- Noxafil: 300 mg (1 gói, 8 gói) [chứa carrageenan, methylparaben, propylparaben, saccharin natri; hương berry]
-
Dung dịch tiêm tĩnh mạch:
- Generic: 300 mg/16,7 mL (16,7 mL)
-
Dung dịch tiêm tĩnh mạch [không chứa chất bảo quản]:
- Noxafil: 300 mg/16,7 mL (16,7 mL) [chứa edetate (EDTA) disodium]
- Generic: 300 mg/16,7 mL (16,7 mL)
-
Hỗn dịch uống (giải phóng ngay):
- Noxafil: 40 mg/mL (105 mL) [chứa polysorbate 80, natri benzoat; hương anh đào]
- Generic: 40 mg/mL (105 mL)
-
Viên nén uống giải phóng chậm:
- Noxafil: 100 mg [DSC]
- Generic: 100 mg
- Thông tin về tá dược chỉ được trình bày khi có sẵn (thường hạn chế, đặc biệt đối với thuốc generic); cần tham khảo tờ hướng dẫn của từng sản phẩm cụ thể.
-
Dung dịch tiêm tĩnh mạch:
- Posanol: 300 mg/16,7 mL (16,7 mL) [chứa edetate (EDTA) disodium]
-
Hỗn dịch uống (giải phóng ngay):
- Posanol: 40 mg/mL (105 mL) [chứa polysorbate 80, natri benzoat]
- Generic: 40 mg/mL (105 mL)
-
Viên nén uống giải phóng chậm:
- Posanol: 100 mg
- Generic: 100 mg
LIỀU LƯỢNG
Trẻ em
- Thông tin về dạng bào chế: Cần thận trọng khi lựa chọn dạng bào chế; hỗn dịch uống phóng thích tức thì, hỗn dịch uống phóng thích chậm và viên nén phóng thích chậm không thể thay thế cho nhau.
Bệnh nấm Aspergillus xâm lấn, dự phòng
- Đường uống:
- Dạng phóng thích chậm:
- Hỗn dịch uống phóng thích chậm: Trẻ ≥2 tuổi và thanh thiếu niên cân nặng từ 10 đến 40 kg:
- 10 đến <12 kg: Uống 90 mg hai lần mỗi ngày trong 2 liều đầu, sau đó 90 mg một lần mỗi ngày.
- 12 đến <17 kg: Uống 120 mg hai lần mỗi ngày trong 2 liều đầu, sau đó 120 mg một lần mỗi ngày.
- 17 đến <21 kg: Uống 150 mg hai lần mỗi ngày trong 2 liều đầu, sau đó 150 mg một lần mỗi ngày.
- 21 đến <26 kg: Uống 180 mg hai lần mỗi ngày trong 2 liều đầu, sau đó 180 mg một lần mỗi ngày.
- 26 đến <36 kg: Uống 210 mg hai lần mỗi ngày trong 2 liều đầu, sau đó 210 mg một lần mỗi ngày.
- 36 đến ≤40 kg: Uống 240 mg hai lần mỗi ngày trong 2 liều đầu, sau đó 240 mg một lần mỗi ngày.
- Viên nén phóng thích chậm: Trẻ ≥2 tuổi và thanh thiếu niên cân nặng >40 kg: Uống 300 mg hai lần mỗi ngày trong 2 liều đầu, sau đó 300 mg một lần mỗi ngày.
- Hỗn dịch uống phóng thích tức thì: Thanh thiếu niên ≥13 tuổi: Uống 200 mg ba lần mỗi ngày.
- Đường tiêm tĩnh mạch (IV):
- Trẻ ≥2 tuổi và thanh thiếu niên <18 tuổi: Tiêm tĩnh mạch 6 mg/kg/liều hai lần mỗi ngày trong 2 liều đầu, sau đó 6 mg/kg/liều một lần mỗi ngày; liều tối đa: 300 mg mỗi liều.
- Thanh thiếu niên ≥18 tuổi: Tiêm tĩnh mạch 300 mg hai lần mỗi ngày trong 2 liều đầu, sau đó 300 mg một lần mỗi ngày.
Bệnh nấm Aspergillus xâm lấn, điều trị (liệu pháp cứu vãn)
- Đường uống: Thanh thiếu niên:
- Viên nén phóng thích chậm (ưu tiên dùng): Uống 300 mg hai lần mỗi ngày trong 2 liều đầu, sau đó 300 mg một lần mỗi ngày.
- Hỗn dịch uống phóng thích tức thì: Dữ liệu còn hạn chế; uống 200 mg ba lần mỗi ngày hoặc 400 mg hai lần mỗi ngày.
- Đường tiêm tĩnh mạch (IV): Thanh thiếu niên: Tiêm tĩnh mạch 300 mg hai lần mỗi ngày trong 2 liều đầu, sau đó 300 mg một lần mỗi ngày.
Bệnh nấm Candida ở miệng – điều trị
- Thanh thiếu niên không nhiễm HIV:
- Đợt nhiễm đầu tiên: Hỗn dịch uống phóng thích tức thì: Uống 100 mg hai lần mỗi ngày trong 2 liều đầu, sau đó 100 mg một lần mỗi ngày trong 13 ngày.
- Nhiễm dai dẳng: Hỗn dịch uống phóng thích tức thì: Uống 400 mg hai lần mỗi ngày; thời gian điều trị phụ thuộc vào bệnh nền và đáp ứng lâm sàng.
- Thanh thiếu niên nhiễm HIV:
- Đợt nhiễm đầu tiên (thuốc thay thế cho fluconazole): Hỗn dịch uống phóng thích tức thì: Uống 400 mg hai lần mỗi ngày trong 2 liều đầu, sau đó 400 mg một lần mỗi ngày trong 7 đến 14 ngày.
- Nhiễm dai dẳng: Hỗn dịch uống phóng thích tức thì: Uống 400 mg hai lần mỗi ngày trong 28 ngày.
Bệnh nấm Candida thực quản (kháng azole), điều trị
- Thanh thiếu niên nhiễm HIV: Hỗn dịch uống phóng thích tức thì: Uống 400 mg hai lần mỗi ngày trong 28 ngày.
- Lưu ý: Nếu người bệnh tái phát thường xuyên hoặc nặng, có thể tiếp tục điều trị duy trì; cân nhắc ngừng điều trị khi số lượng tế bào CD 4 >200/mm³.
Bệnh nấm Candida xâm lấn, dự phòng
- Đường uống:
- Các dạng bào chế phóng thích chậm:
- Hỗn dịch uống phóng thích chậm: Trẻ ≥2 tuổi và thanh thiếu niên có cân nặng từ 10 đến 40 kg:
- 10 đến <12 kg: Uống 90 mg hai lần mỗi ngày trong 2 liều đầu, sau đó 90 mg một lần mỗi ngày.
- 12 đến <17 kg: Uống 120 mg hai lần mỗi ngày trong 2 liều đầu, sau đó 120 mg một lần mỗi ngày.
- 17 đến <21 kg: Uống 150 mg hai lần mỗi ngày trong 2 liều đầu, sau đó 150 mg một lần mỗi ngày.
- 21 đến <26 kg: Uống 180 mg hai lần mỗi ngày trong 2 liều đầu, sau đó 180 mg một lần mỗi ngày.
- 26 đến <36 kg: Uống 210 mg hai lần mỗi ngày trong 2 liều đầu, sau đó 210 mg một lần mỗi ngày.
- 36 đến ≤40 kg: Uống 240 mg hai lần mỗi ngày trong 2 liều đầu, sau đó 240 mg một lần mỗi ngày.
- Viên nén phóng thích chậm: Trẻ ≥2 tuổi và thanh thiếu niên có cân nặng >40 kg: Uống 300 mg hai lần mỗi ngày trong 2 liều đầu, sau đó 300 mg một lần mỗi ngày.
- Hỗn dịch uống phóng thích tức thì: Thanh thiếu niên ≥13 tuổi: Uống 200 mg ba lần mỗi ngày.
- Đường tiêm tĩnh mạch (IV):
- Trẻ ≥2 tuổi và thanh thiếu niên <18 tuổi: Tiêm tĩnh mạch 6 mg/kg/liều hai lần mỗi ngày trong 2 liều đầu, sau đó 6 mg/kg/liều một lần mỗi ngày; liều tối đa: 300 mg/liều.
- Thanh thiếu niên ≥18 tuổi: Tiêm tĩnh mạch 300 mg hai lần mỗi ngày trong 2 liều đầu, sau đó 300 mg một lần mỗi ngày.
Bệnh nấm Coccidioides, kháng với điều trị thông thường (thuốc thay thế)
- Thanh thiếu niên nhiễm HIV: Lưu ý: Có thể cần điều trị kháng nấm đường tiêm tĩnh mạch ban đầu; thời gian điều trị thay đổi tùy theo vị trí và mức độ nặng của nhiễm trùng cũng như tình trạng miễn dịch của bệnh nhân; điều trị viêm màng não là suốt đời.
- Viên nén phóng thích chậm: Uống 300 mg hai lần mỗi ngày trong 2 liều đầu, sau đó 300 mg một lần mỗi ngày.
Dự phòng nhiễm nấm xâm lấn ở bệnh nhân giảm bạch cầu trung tính (ví dụ: bệnh nhân mắc bệnh ác tính hoặc sau ghép tế bào gốc tạo máu [HSCT])
Liều theo cân nặng:
- Viên nén phóng thích chậm: Dữ liệu còn rất hạn chế: Trẻ ≥3 tuổi và thanh thiếu niên ≤17 tuổi: Uống 5–7 mg/kg/lần, ngày 2 lần trong 2 liều đầu, sau đó 5–7 mg/kg/lần, ngày 1 lần.
- Hỗn dịch uống phóng thích tức thì: Dữ liệu hạn chế: Trẻ nhũ nhi ≥6 tháng tuổi, trẻ em và thanh thiếu niên ≤17 tuổi: Uống 4–6 mg/kg/lần, ngày 3 lần; liều tối đa 400 mg/lần.
- Viên nén phóng thích chậm: Thanh thiếu niên: Uống 300 mg/lần, ngày 2 lần trong 2 liều đầu, sau đó 300 mg/lần, ngày 1 lần.
- Hỗn dịch uống phóng thích tức thì: Thanh thiếu niên: Uống 200 mg/lần, ngày 3 lần.
Điều trị nhiễm nấm xâm lấn (thuốc thay thế/ liệu pháp cứu vãn)
- Lưu ý: Chưa xác định được liều tối ưu để đạt mục tiêu dược động học; đã ghi nhận sự biến thiên đáng kể về dược động học giữa các bệnh nhân và trong cùng một bệnh nhân. Cần theo dõi chặt chẽ nồng độ thuốc trong huyết thanh và đáp ứng của bệnh nhân, điều chỉnh liều phù hợp.
-
Trẻ nhũ nhi ≥5 tháng tuổi và trẻ em:
Uống:
- <34 kg: 4,5–6 mg/kg/lần, ngày 4 lần; liều tối đa: 800 mg/ngày.
- ≥34 kg: 200 mg/lần, ngày 4 lần.
- Thanh thiếu niên: Uống: 200 mg/lần, ngày 4 lần.
- Lưu ý: Liều dựa trên một nghiên cứu hồi cứu (n=33; tuổi trung vị: 11,5 năm; khoảng: 0,5–23,2 năm) ở bệnh nhân dùng posaconazole để điều trị nhiễm nấm nghi ngờ hoặc đã xác định. Liều trung vị ở bệnh nhân nhiễm nấm xác định là 16,5 mg/kg/ngày (khoảng: 10,2–32,8 mg/kg/ngày); 12/33 bệnh nhân có nồng độ posaconazole thấp hơn mục tiêu 0,7 mg/L; 3/14 bệnh nhân nhiễm nấm xác định có tiến triển bệnh nấm. Nồng độ posaconazole ở bệnh nhân ≥13 tuổi thấp hơn so với nhóm <13 tuổi, có thể do việc giới hạn liều; trong các thử nghiệm khác, liều dùng hàng ngày dao động 4,8–33,3 mg/kg/ngày.
- Trẻ ≤11 tuổi: Dữ liệu còn rất hạn chế: 6–10 mg/kg/lần, ngày 2 lần trong 2 liều đầu, sau đó 6–10 mg/kg/lần, ngày 1 lần; liều tối đa: 300 mg/lần. Liều dựa trên một nghiên cứu hồi cứu và một loạt ca bệnh nhỏ. Trong nghiên cứu hồi cứu (n=10; tuổi: 1,5–11 năm) ở bệnh nhân nghi ngờ, có thể hoặc xác định nhiễm nấm xâm lấn (IFI), bệnh nhân dùng liều 6–8 mg/kg/lần có khả năng đạt nồng độ mục tiêu 0,7 mg/L cao hơn so với liều thấp hơn, và việc tăng liều cao hơn không cải thiện tỷ lệ đạt mục tiêu. Trong loạt ca bệnh nhỏ (n=4; tất cả có thể hoặc xác định IFI; tuổi: 3–9 năm), liều duy trì 8,8–9,7 mg/kg giúp đạt nồng độ đáy >1 mg/L. Posaconazole được dung nạp tốt, có ghi nhận tăng nhẹ men gan và 1 trường hợp hạ kali máu.
Điều chỉnh liều khi dùng đồng thời thuốc khác
- Có nhiều tương tác thuốc đáng kể, có thể cần điều chỉnh liều hoặc tần suất dùng, hoặc tránh phối hợp.
- Tham khảo cơ sở dữ liệu về tương tác thuốc để biết thêm thông tin chi tiết.
Liều dùng: Suy thận (Trẻ em)
- Rối loạn chức năng thận:
- Đường tiêm tĩnh mạch (IV): Trẻ ≥2 tuổi và thanh thiếu niên:
- eGFR ≥50 mL/phút/1,73 m²: Không khuyến cáo điều chỉnh liều.
- eGFR <50 mL/phút/1,73 m²: Tránh sử dụng trừ khi đánh giá lợi ích/nguy cơ cho phép; tá dược truyền tĩnh mạch (cyclodextrin) có thể tích lũy. Cần theo dõi nồng độ creatinin huyết thanh; nếu tăng, nên xem xét chuyển sang đường uống.
- Đường uống:
- Viên nén phóng thích chậm, hỗn dịch uống phóng thích chậm: Trẻ ≥2 tuổi và thanh thiếu niên cân nặng >40 kg:
- eGFR ≥20 mL/phút/1,73 m²: Không cần điều chỉnh liều.
- eGFR <20 mL/phút/1,73 m²: Không cần điều chỉnh liều; tuy nhiên, cần theo dõi nguy cơ nhiễm nấm đột phá do biến thiên nồng độ posaconazole.
- Hỗn dịch uống phóng thích tức thì: Thanh thiếu niên ≥13 tuổi:
- eGFR ≥20 mL/phút/1,73 m²: Không cần điều chỉnh liều.
- eGFR <20 mL/phút/1,73 m²: Không cần điều chỉnh liều; tuy nhiên, cần theo dõi nguy cơ nhiễm nấm đột phá do biến thiên nồng độ posaconazole.
- Thẩm tách máu: Không bị loại bỏ qua thẩm tách.
Liều dùng: Suy gan (Trẻ em)
- Trẻ ≥2 tuổi và thanh thiếu niên:
- Độc tính trên gan trước khi bắt đầu điều trị (nhẹ đến nặng): Không cần điều chỉnh liều.
- Độc tính trên gan trong quá trình điều trị: Không có hướng dẫn điều chỉnh liều cụ thể trong nhãn của nhà sản xuất; nên xem xét ngừng điều trị nếu xuất hiện các dấu hiệu và triệu chứng gợi ý bệnh gan có thể liên quan đến posaconazole.
Người lớn
Hướng dẫn liều dùng
- Liều lượng: Điều chỉnh liều dựa trên nồng độ đáy trong huyết thanh nhằm đạt hiệu quả điều trị và hạn chế độc tính. Thời điểm và tần suất theo dõi nồng độ được cá thể hóa theo từng bệnh nhân.
- Thông tin dạng bào chế: Viên nén phóng thích chậm, hỗn dịch uống phóng thích tức thì (IR) và hỗn dịch uống phóng thích chậm (không khuyến cáo ở người lớn hoặc bệnh nhi >40 kg) không thay thế cho nhau do khác biệt về liều dùng giữa các dạng bào chế. Viên nén phóng thích chậm thường được ưu tiên hơn hỗn dịch uống phóng thích tức thì vì dễ sử dụng hơn, dung nạp tốt hơn và hấp thu ổn định hơn. Dạng tiêm tĩnh mạch (IV) được dùng với liều tương đương viên nén phóng thích chậm.
Bệnh nấm do Aspergillus
-
Thể mạn tính có hang trong phổi (thuốc thay thế)
- Lưu ý: Một số chuyên gia ưu tiên lựa chọn viên nén thay cho hỗn dịch uống phóng thích tức thì.
- Viên nén phóng thích chậm: Uống 300 mg hai lần mỗi ngày trong 2 liều đầu, sau đó 300 mg mỗi ngày một lần. Đối với bệnh nhân yếu hoặc có cân nặng thấp (ví dụ: BMI <18,5), một số chuyên gia khuyến cáo dùng 200 mg mỗi ngày một lần.
- Hỗn dịch uống phóng thích tức thì (sử dụng ngoài chỉ định được phê duyệt): Uống 200 mg ba lần mỗi ngày hoặc 400 mg hai lần mỗi ngày.
- Đường tiêm tĩnh mạch (IV): 300 mg hai lần mỗi ngày trong 2 liều đầu, sau đó 300 mg mỗi ngày một lần.
- Thời gian điều trị: Tối thiểu từ ≥6 đến 12 tháng; một số bệnh nhân có thể cần điều trị kéo dài, thậm chí suốt đời.
-
Thể xâm lấn (bao gồm lan tỏa và ngoài phổi) (thuốc thay thế cho bệnh nhân kháng trị hoặc không dung nạp thuốc hàng đầu)
- Uống: Lưu ý: Ưu tiên sử dụng viên nén hơn hỗn dịch uống phóng thích tức thì.
- Viên nén phóng thích chậm: 300 mg hai lần mỗi ngày trong 2 liều đầu, sau đó 300 mg mỗi ngày một lần.
- Hỗn dịch uống phóng thích tức thì (sử dụng ngoài chỉ định được phê duyệt): 200 mg ba lần mỗi ngày hoặc 200 mg bốn lần mỗi ngày trong thời gian nằm viện, sau đó 400 mg hai lần mỗi ngày khi điều trị ngoại trú.
- Đường tiêm tĩnh mạch (IV): 300 mg hai lần mỗi ngày trong 2 liều đầu, sau đó 300 mg mỗi ngày một lần.
- Thời gian điều trị: Tối thiểu từ 6 đến 12 tuần; tổng thời gian điều trị phụ thuộc vào mức độ và thời gian ức chế miễn dịch, vị trí tổn thương và đáp ứng điều trị; bệnh nhân suy giảm miễn dịch có thể cần điều trị kéo dài hơn.
Bệnh nấm do Candida
Lưu ý: Thông thường chỉ dùng trong các tình huống kháng với fluconazole hoặc như một thuốc thay thế ban đầu ở bệnh nhân nhiễm HIV hoặc đã ghép tạng đặc.
-
Viêm thực quản do Candida kháng fluconazole (thuốc thay thế, sử dụng ngoài chỉ định được phê duyệt)
- Đường uống:
- Viên nén phóng thích chậm: 300 mg mỗi ngày một lần; một số chuyên gia khuyến cáo 300 mg hai lần mỗi ngày trong 2 liều đầu, sau đó 300 mg mỗi ngày một lần.
- Hỗn dịch uống phóng thích tức thì: 400 mg hai lần mỗi ngày.
- Thời gian điều trị: 14 đến 28 ngày.
-
Viêm miệng - hầu do Candida
- Đường uống:
-
Đợt đầu tiên (thuốc thay thế)
- Viên nén phóng thích chậm: 300 mg hai lần mỗi ngày trong 2 liều đầu, sau đó 300 mg mỗi ngày một lần.
- Hỗn dịch uống phóng thích tức thì: 400 mg hai lần mỗi ngày trong 1 đến 3 ngày, sau đó 400 mg mỗi ngày một lần.
- Thời gian điều trị: 7 đến 14 ngày.
- Bệnh kháng fluconazole: Hỗn dịch uống phóng thích tức thì 400 mg hai lần mỗi ngày hoặc 400 mg hai lần mỗi ngày trong 3 ngày đầu, sau đó 400 mg mỗi ngày một lần. Thời gian điều trị có thể kéo dài đến 28 ngày.
Bệnh nấm Coccidioides kháng với điều trị thông thường (thuốc thay thế, sử dụng ngoài chỉ định được phê duyệt)
Lưu ý: Có thể cần khởi đầu bằng liệu pháp kháng nấm đường tiêm.
-
Nhiễm trùng ngoài màng não (ví dụ: nhiễm xương và/hoặc khớp, nhiễm phổi ở một số bệnh nhân được chọn)
- Đường uống:
- Viên nén phóng thích chậm: 300 mg hai lần mỗi ngày trong 2 liều đầu, sau đó 300 mg mỗi ngày một lần.
- Hỗn dịch uống phóng thích tức thì: 400 mg hai lần mỗi ngày hoặc 200 mg ba lần mỗi ngày.
- Thời gian điều trị: Thay đổi tùy theo vị trí và mức độ nặng của nhiễm trùng, cũng như tình trạng miễn dịch của bệnh nhân.
-
Viêm màng não do Coccidioides
- Đường uống:
- Viên nén phóng thích chậm: 300 mg hai lần mỗi ngày trong 2 liều đầu, sau đó 300 mg mỗi ngày một lần.
- Hỗn dịch uống phóng thích tức thì: 200 mg bốn lần mỗi ngày hoặc 400 mg hai lần mỗi ngày.
- Thời gian điều trị: Suốt đời do tỷ lệ tái phát cao.
Viêm màng não do Cryptococcus (thuốc thay thế, sử dụng ngoài chỉ định được phê duyệt)
- Giai đoạn củng cố: Viên nén phóng thích chậm: Đường uống, 300 mg mỗi ngày một lần trong 8 tuần.
- Giai đoạn duy trì (ức chế): Viên nén phóng thích chậm: Đường uống, 300 mg mỗi ngày một lần trong khoảng 12 tháng, tùy thuộc vào tình trạng miễn dịch của bệnh nhân.
Bệnh nấm Histoplasma (thuốc thay thế, sử dụng ngoài chỉ định được phê duyệt)
Lưu ý: Chỉ dùng cho bệnh nhân không dung nạp với itraconazole.
-
Điều trị: Liệu pháp ban đầu cho bệnh mức độ nhẹ đến trung bình hoặc liệu pháp chuyển tiếp sau khi dùng amphotericin B ở những trường hợp nặng hơn
- Viên nén phóng thích chậm: Đường uống, 300 mg hai lần mỗi ngày trong 2 liều đầu, sau đó 300 mg mỗi ngày một lần.
- Thời gian điều trị: 6 đến 12 tuần đối với nhiễm phổi nhẹ đến trung bình và ≥12 tuần đối với nhiễm phổi mức độ trung bình đến nặng; ≥12 tháng đối với bệnh nhân suy giảm miễn dịch và/hoặc bệnh nhân có nhiễm hệ thần kinh trung ương (CNS), nhiễm mạn tính có hang trong phổi, hoặc nhiễm lan tỏa.
-
Dự phòng thứ phát (ức chế dài hạn) ở bệnh nhân suy giảm miễn dịch
- Viên nén phóng thích chậm: Đường uống, 300 mg mỗi ngày một lần.
Bệnh nấm Mucormycetes (liệu pháp cứu vãn và liệu pháp xuống thang, sử dụng ngoài chỉ định được phê duyệt)
Lưu ý: Dùng sau khi điều trị bằng amphotericin B; một số chuyên gia khuyến cáo duy trì song song với amphotericin B cho đến khi khả năng hấp thu posaconazole được xác nhận qua theo dõi nồng độ thuốc trong huyết tương. Cần tiến hành phẫu thuật cắt lọc mô hoại tử sớm để đạt hiệu quả điều trị lâm sàng.
-
Đường uống:
Lưu ý: Ưu tiên dùng dạng viên nén hơn hỗn dịch uống phóng thích tức thì; một số chuyên gia không khuyến cáo dùng hỗn dịch uống phóng thích tức thì trong điều trị bệnh nấm Mucor do sinh khả dụng không tối ưu.
- Viên nén phóng thích chậm: 300 mg hai lần mỗi ngày trong 2 liều đầu, sau đó 300 mg mỗi ngày một lần.
- Hỗn dịch uống phóng thích tức thì: 200 mg bốn lần mỗi ngày hoặc 400 mg hai lần mỗi ngày.
- Đường tiêm tĩnh mạch (IV): 300 mg hai lần mỗi ngày trong 2 liều đầu, sau đó 300 mg mỗi ngày một lần.
- Thời gian điều trị: Thay đổi tùy theo đáp ứng lâm sàng và hình ảnh học cũng như tình trạng miễn dịch của bệnh nhân; thường cần điều trị trong vài tháng, và một số bệnh nhân có thể phải điều trị suốt đời.
Dự phòng nhiễm nấm xâm lấn
-
Bệnh lý huyết học ác tính hoặc ghép tế bào tạo máu
- Đường uống: Lưu ý: Ưu tiên dùng dạng viên nén hơn hỗn dịch uống phóng thích tức thì.
- Viên nén phóng thích chậm: 300 mg hai lần mỗi ngày trong 2 liều đầu, sau đó 300 mg mỗi ngày một lần.
- Hỗn dịch uống phóng thích tức thì: 200 mg ba lần mỗi ngày.
- Đường tiêm tĩnh mạch (IV): 300 mg hai lần mỗi ngày trong 2 liều đầu, sau đó 300 mg mỗi ngày một lần.
- Thời gian dự phòng: Thay đổi tùy theo mức độ và thời gian ức chế miễn dịch.
-
Ghép tạng đặc (ví dụ: người nhận ghép phổi) (thuốc thay thế, sử dụng ngoài chỉ định được phê duyệt)
- Đường uống:
- Viên nén phóng thích chậm: 300 mg hai lần mỗi ngày trong 2 liều đầu, sau đó 300 mg mỗi ngày một lần.
- Hỗn dịch uống phóng thích tức thì: 200 mg mỗi 8 giờ hoặc 400 mg mỗi 12 giờ.
- Thời gian dự phòng: Thay đổi tùy theo yếu tố nguy cơ của từng bệnh nhân và phác đồ của trung tâm ghép tạng.
Điều chỉnh liều khi phối hợp điều trị
- Có tương tác thuốc đáng kể; cần điều chỉnh liều và/hoặc tần suất dùng thuốc hoặc tránh phối hợp.
- Tham khảo cơ sở dữ liệu về tương tác thuốc để biết thêm thông tin chi tiết.
Liều dùng: Suy thận (Người lớn)
Lưu ý: Thải trừ qua thận của posaconazole không đáng kể; thuốc được thải trừ chủ yếu dưới dạng không đổi qua phân. Dạng tiêm tĩnh mạch (IV) có chứa tá dược cyclodextrin (sulfobutyl ether beta-cyclodextrin – SBECD), có thể tích lũy khi suy thận (eGFR <50 mL/phút/1,73 m²). Cyclodextrin đã được ghi nhận gây tổn thương thận trong các mô hình động vật; tuy nhiên, các nghiên cứu thuốc kháng nấm có chứa cyclodextrin cho thấy tỷ lệ độc tính trên thận tương tự như thuốc không chứa cyclodextrin ở bệnh nhân được điều trị ngắn hạn (ví dụ <10 ngày). Khi cần dùng đường tiêm tĩnh mạch, lợi ích có thể vượt trội hơn nguy cơ. Ở bệnh nhân có eGFR <50 mL/phút/1,73 m² hoặc đang được thay thế thận, nên ưu tiên posaconazole đường uống hoặc thuốc kháng nấm thay thế, trừ khi lợi ích của đường tiêm lớn hơn nguy cơ. Nếu dùng đường tiêm, cần theo dõi định kỳ creatinine huyết thanh và chuyển sang đường uống khi lâm sàng cho phép.
-
Chức năng thận thay đổi:
- eGFR ≥50 mL/phút/1,73 m²: Đường uống, IV: Không cần điều chỉnh liều.
-
eGFR <50 mL/phút/1,73 m²:
- Đường uống: Không cần điều chỉnh liều.
- Đường tiêm tĩnh mạch (IV): Không cần điều chỉnh liều. Dạng tiêm có chứa tá dược cyclodextrin (SBECD) có thể tích lũy. Xem “Lưu ý” ở đầu mục này để biết thêm chi tiết.
-
Thanh thải thận tăng (ARC, ClCr niệu đo được ≥130 mL/phút/1,73 m²):
Là tình trạng gặp ở một số bệnh nhân nặng nhưng không có rối loạn chức năng cơ quan, với creatinine huyết thanh bình thường. Bệnh nhân trẻ (<55 tuổi) sau chấn thương, phẫu thuật lớn, hoặc mắc nhiễm khuẩn huyết, bỏng, hay bệnh lý ác tính huyết học có nguy cơ cao. Cần đo ClCr niệu trong 8–24 giờ để xác định tình trạng này.
- Đường uống, IV: Không cần điều chỉnh liều.
-
Chạy thận nhân tạo ngắt quãng (3 lần/tuần):
Posaconazole không bị loại bỏ qua thẩm tách.
- Đường uống: Không cần điều chỉnh liều.
- Đường tiêm tĩnh mạch (IV): Không cần điều chỉnh liều (ý kiến chuyên gia). Mặc dù SBECD có thể được loại bỏ một phần qua thẩm tách, nhưng phơi nhiễm với SBECD vẫn cao hơn so với bệnh nhân có chức năng thận bình thường. Xem “Lưu ý” ở đầu mục này để biết thêm chi tiết.
-
Thẩm phân phúc mạc:
Posaconazole không bị loại bỏ (do gắn protein mạnh >98%).
- Đường uống: Không cần điều chỉnh liều.
- Đường tiêm tĩnh mạch (IV): Không cần điều chỉnh liều. Phơi nhiễm với SBECD trong dạng tiêm cao hơn so với bệnh nhân có chức năng thận bình thường dù có thể được loại bỏ một phần qua thẩm phân. Xem “Lưu ý” ở đầu mục này để biết thêm chi tiết.
-
Liệu pháp thay thế thận liên tục (CRRT):
Độ thanh thải thuốc phụ thuộc vào tốc độ dòng dịch thải, loại màng lọc và phương thức thay thế thận. Khuyến cáo dựa trên màng lọc hiệu suất cao với tốc độ dịch thải 20–25 mL/kg/giờ (~1.500–3.000 mL/giờ) và chức năng thận còn lại tối thiểu. Cần đảm bảo nồng độ thuốc đủ tại vị trí nhiễm trùng và theo dõi sát đáp ứng cũng như độc tính do tích lũy thuốc.
- Đường uống: Không cần điều chỉnh liều.
- Đường tiêm tĩnh mạch (IV): Không cần điều chỉnh liều. Tá dược cyclodextrin (SBECD) trong dạng tiêm được loại bỏ hiệu quả bởi CRRT.
-
Liệu pháp thẩm tách kéo dài ngắt quãng (PIRRT, ví dụ: lọc máu – siêu lọc hiệu suất thấp kéo dài):
Độ thanh thải thuốc phụ thuộc vào tốc độ dòng dịch thải, loại màng lọc và phương thức thay thế thận. Cần đảm bảo nồng độ thuốc phù hợp tại vị trí nhiễm trùng và theo dõi sát đáp ứng cũng như độc tính.
- Đường uống: Không cần điều chỉnh liều, do posaconazole được thải trừ không đáng kể qua thận và không bị loại bỏ qua thẩm tách.
- Đường tiêm tĩnh mạch (IV): Chưa có dữ liệu, nhưng do posaconazole không thải trừ qua thận và không bị loại bỏ qua thẩm tách, nên có thể không cần điều chỉnh liều (ý kiến chuyên gia). Tuy nhiên, phơi nhiễm với SBECD trong dạng tiêm có thể cao hơn so với bệnh nhân có chức năng thận bình thường dù có thể được loại bỏ qua PIRRT. Xem “Lưu ý” ở đầu mục này để biết thêm chi tiết.
Liều dùng: Suy gan (Người lớn)
-
Suy gan có sẵn, từ nhẹ đến nặng (phân loại Child-Pugh A, B hoặc C):
Không cần điều chỉnh liều. - Độc tính trên gan trong quá trình điều trị: Không có khuyến cáo điều chỉnh liều cụ thể trong tờ hướng dẫn của nhà sản xuất; cân nhắc ngừng điều trị.
Liều dùng: Béo phì: Người lớn
- Béo phì độ 1 (BMI ≥30 đến 34,9 kg/m²): Đường tiêm tĩnh mạch (IV), đường uống: Không cần điều chỉnh liều.
- Béo phì độ 2 và 3 (BMI ≥35 kg/m²) và cân nặng >140 kg: Đường tiêm tĩnh mạch (IV): 400 mg mỗi 12 giờ trong 2 liều đầu, sau đó 400 mg mỗi ngày một lần để điều trị nhiễm nấm xâm lấn. Cân nhắc theo dõi nồng độ thuốc trong máu (TDM) nếu có thể.
- Lưu ý: Với đường uống, có thể cần liều cao hơn ở bệnh nhân có BMI ≥35 kg/m² và cân nặng >140 kg; tuy nhiên, dữ liệu còn hạn chế nên chưa thể đưa ra khuyến cáo liều cụ thể. Khuyến nghị về liều tiêm tĩnh mạch ở trên có thể được dùng làm điểm khởi đầu cho bệnh nhân dùng viên nén giải phóng chậm kèm theo theo dõi nồng độ thuốc trong máu, mặc dù nghiên cứu được thực hiện với dạng tiêm tĩnh mạch.
- Cơ sở của khuyến nghị: Một nghiên cứu dược động học với posaconazole đường tiêm tĩnh mạch cho thấy nồng độ thuốc trong huyết tương giảm và độ thanh thải tăng khi cân nặng cơ thể tăng.
Liều dùng: Người cao tuổi
- Tham khảo liều dùng cho người lớn.
CÁCH DÙNG
Trẻ em
- Lưu ý chung: Khuyến cáo có thể không phản ánh đầy đủ khác biệt về tá dược, độ thẩm thấu (osmolality), hoặc các đặc tính bào chế khác giữa các sản phẩm của các nhà sản xuất khác nhau.
- Đường uống: Lưu ý: Gói hỗn dịch uống giải phóng chậm, hỗn dịch uống giải phóng ngay và viên nén giải phóng chậm không thể thay thế lẫn nhau.
-
Chuẩn bị hỗn dịch ngay trước khi sử dụng. Để pha, mở 1 gói Posaconazole PowderMix (300 mg) và cho vào cốc pha kèm theo. Lắc mạnh dung dịch pha đi kèm, sau đó dùng xilanh xanh (được cung cấp) hút 9 ml dung dịch và thêm vào bột trong cốc pha. Đóng nắp và lắc mạnh trong 45 giây, bảo đảm bột hòa tan hoàn toàn; hỗn hợp phải đục và không có vón cục. Nồng độ cuối cùng là 30 mg/mL, tuy nhiên chỉ có thể hút chính xác ≤8 mL (240 mg) từ hỗn dịch đã pha. Dùng hỗn dịch đã pha cùng thức ăn trong vòng 1 giờ kể từ khi chuẩn bị; sử dụng xilanh định liều do nhà sản xuất cung cấp. Không dùng cùng rượu vì có thể ảnh hưởng cơ chế giải phóng chậm.
- Liều ≤3 mL: dùng xilanh xanh lá (3 mL, đầu notch).
- Liều >3 mL: dùng xilanh xanh dương (10 mL, đầu notch).
- Qua ống nuôi ăn: Việc dùng qua ống nuôi ăn chưa được nghiên cứu. Hỗn dịch có nguy cơ kết tụ, độ thẩm thấu và độ nhớt cao, có thể làm giảm dung nạp, hấp thu và gây tắc ống. Nếu bắt buộc phải sử dụng, cần cân nhắc lợi ích–nguy cơ, đặc điểm người bệnh; đồng thời bảo đảm dùng đủ lượng nước tinh khiết khi bơm thuốc, theo dõi nồng độ thuốc huyết thanh và điều chỉnh liều để đạt nồng độ điều trị.
- Lắc kỹ trước khi dùng. Dùng trong hoặc trong vòng 20 phút sau bữa ăn đầy đủ; nếu không thể ăn, nên dùng cùng thực phẩm bổ sung dạng lỏng hoặc đồ uống có gas, vị chua (ví dụ ginger ale). Dùng dụng cụ đo liều chính xác. Cân nhắc thuốc chống nấm thay thế nếu bệnh nhân không thể ăn hoặc uống như trên và không có lựa chọn dùng viên nén hoặc đường tiêm.
-
Qua ống nuôi ăn:
Dùng qua ống mũi–dạ dày làm giảm hấp thu. Nếu buộc phải dùng, cần cân nhắc kỹ và đảm bảo đủ lượng nước tinh khiết khi bơm thuốc, theo dõi nồng độ huyết thanh và điều chỉnh liều tương ứng.
- Ống dạ dày (ví dụ: ống NG, G-tube ≥8 French): Lắc kỹ hỗn dịch trước khi hút. Pha loãng liều với lượng nước tinh khiết ít nhất tương đương trước khi dùng để giảm độ thẩm thấu và độ nhớt. Dùng xilanh định liều bơm qua ống.
- Hướng dẫn chung: Ngừng nuôi ăn ít nhất trong thời gian dùng thuốc. Xả ống bằng lượng nước tinh khiết thấp nhất đủ để làm sạch (sơ sinh: 1–3 mL; nhũ nhi và trẻ nhỏ: 2–5 mL; thiếu niên: 15 mL). Sau khi bơm thuốc, tráng dụng cụ pha bằng nước tinh khiết, hút phần tráng và bơm hết qua ống để đảm bảo dùng đủ liều. Sau đó xả lại ống và tiếp tục nuôi ăn. Lưu ý: Để tăng hấp thu, nên cho uống ngay trước bữa ăn qua ống hoặc bắt đầu nuôi ăn ngay sau khi xả cuối.
- Liều quên: Nếu quên liều, dùng ngay khi nhớ ra. Nếu gần đến liều kế tiếp, bỏ qua liều quên và tiếp tục lịch dùng thuốc bình thường. Không dùng gấp đôi liều.
-
Qua ống nuôi ăn:
Một số báo cáo ghi nhận việc nghiền viên nén giải phóng chậm và bơm qua ống nuôi ăn đạt hiệu quả, nhưng có thể cần liều cao hơn để đạt nồng độ mục tiêu. Nếu dùng, cần theo dõi nồng độ huyết thanh và điều chỉnh liều tương ứng.
- Ống dạ dày (ví dụ: NG, G-tube): Nghiền viên thành bột mịn, hòa trong 30 mL nước tinh khiết ngay trước khi dùng. Hút hỗn dịch vào xilanh và bơm qua ống. Hoặc nghiền bằng chày cối, trộn với 1–2 mL OraBlend mỗi viên để tạo hỗn hợp sệt, sau đó pha loãng thành 8 mL OraBlend mỗi viên (nồng độ cuối 10 mg/mL). Tráng chày cối bằng 2 mL OraBlend mỗi viên. Dùng trong vòng 1 giờ sau khi pha.
- Hướng dẫn chung: Ngừng nuôi ăn trong thời gian bơm thuốc. Xả ống bằng lượng nước tinh khiết thấp nhất cần thiết (sơ sinh: 1–3 mL; nhũ nhi và trẻ nhỏ: 2–5 mL; thiếu niên: 15 mL). Sau khi dùng thuốc, tráng dụng cụ pha bằng nước tinh khiết, hút phần tráng và bơm hết qua ống. Sau đó xả lại và tiếp tục nuôi ăn ngay. Lưu ý: Để tối đa hấp thu, nên cho uống ngay trước bữa ăn hoặc khởi động lại nuôi ăn liên tục ngay sau khi xả cuối.
- Liều quên: Nếu quên liều, dùng ngay khi nhớ ra. Nếu còn <12 giờ đến liều kế tiếp, bỏ qua liều quên và dùng theo lịch. Không dùng gấp đôi liều.
- Truyền trong 90 phút qua đường truyền tĩnh mạch trung tâm. Không tiêm bolus hoặc tiêm nhanh. Phải truyền qua bộ lọc trong dòng (0,22 micron polyethersulfone [PES] hoặc polyvinylidene difluoride [PVDF]). Nếu không có đường trung tâm, có thể truyền qua đường ngoại vi một lần trong 30 phút trước khi đặt đường trung tâm hoặc trong thời gian tạm gián đoạn đường trung tâm. Có thể gây kích ứng tại chỗ. Lưu ý: Trong các thử nghiệm lâm sàng, truyền lặp lại qua cùng một tĩnh mạch ngoại vi có thể gây phản ứng tại chỗ truyền.
Người lớn
- Đường uống:
- Hỗn dịch uống phóng thích tức thì (IR suspension): Lắc kỹ trước khi dùng. Dùng bằng muỗng định liều đi kèm trong hoặc trong vòng 20 phút sau khi ăn no. Người bệnh không thể ăn đủ bữa có thể dùng cùng dung dịch dinh dưỡng đường uống hoặc đồ uống có ga có tính acid (ví dụ ginger ale). Cân nhắc thuốc thay thế nếu người bệnh không thể ăn đủ bữa, không dung nạp dung dịch dinh dưỡng hoặc đồ uống có ga, và không có lựa chọn dùng viên nén phóng thích chậm hoặc thuốc tiêm.
- Viên nén phóng thích chậm (Delayed-release tablets): Uống cùng thức ăn khi có thể, nhưng cũng có thể dùng không cần thức ăn. Nhà sản xuất khuyến cáo nuốt nguyên viên; không được chia, nghiền, hòa tan hoặc nhai viên.
- Phẫu thuật giảm béo: Một số cơ sở y tế có thể có quy trình riêng khác với hướng dẫn của nhà sản xuất; cần tham khảo quy trình tại cơ sở. Có thể dùng dạng hỗn dịch uống phóng thích tức thì hoặc dạng tiêm. Nếu có thể theo dõi an toàn và hiệu quả, không cần thay đổi dạng bào chế hoặc cách dùng sau phẫu thuật giảm béo.
- Theo dõi chặt chẽ người bệnh có tiêu chảy nặng hoặc nôn mửa để phát hiện sớm nhiễm nấm bùng phát.
- Đường qua ống nuôi ăn (Enteral feeding tube – EFT):
- Lưu ý: Việc dùng posaconazole qua ống nuôi ăn chưa được thiết lập rõ ràng. Khi lựa chọn dạng dùng, cần cân nhắc lợi ích–nguy cơ và yếu tố cá thể (như chỉ định, khả năng theo dõi nồng độ thuốc trong huyết thanh, điều trị trước đó). Nếu không có lựa chọn thay thế phù hợp, có thể áp dụng theo hướng dẫn dưới đây. Cần theo dõi nồng độ thuốc huyết thanh thường xuyên và điều chỉnh liều để đạt nồng độ điều trị.
- Gói bột pha hỗn dịch uống phóng thích chậm: Chưa có nghiên cứu về việc dùng qua ống nuôi ăn. Có nguy cơ kết tụ và do chứa thành phần trơ có độ thẩm thấu và độ nhớt cao, có thể làm giảm hấp thu hoặc gây khó dung nạp. Nếu bắt buộc dùng, cần đảm bảo sử dụng đủ lượng nước tinh khiết trong quá trình cho thuốc.
- Hỗn dịch uống phóng thích tức thì: Dùng qua ống thông dạ dày có thể làm giảm hấp thu. Cần theo dõi nồng độ thuốc trong huyết thanh và điều chỉnh liều để đạt mục tiêu điều trị.
- Cách thực hiện (ống ≥ 8 French): Lên lịch dùng thuốc gần thời điểm cho ăn qua ống để tăng hấp thu. Lắc kỹ chai thuốc trước khi lấy liều. Pha loãng liều với ít nhất một lượng nước tinh khiết tương đương ngay trước khi cho thuốc để giảm độ thẩm thấu và độ nhớt. Dùng bơm tiêm đưa hỗn dịch đã pha loãng vào ống nuôi ăn.
- Lưu ý: Một dạng hỗn dịch chưa pha loãng có độ thẩm thấu khoảng 2.050 mOsm/kg; hỗn dịch có độ thẩm thấu >600 mOsm/kg có thể làm tăng nguy cơ tác dụng phụ tiêu hóa (như tiêu chảy, đầy bụng, chậm làm rỗng dạ dày), đặc biệt khi dùng qua đường sau môn vị, chưa pha loãng đủ hoặc ở bệnh nhân nguy cơ cao (trẻ sơ sinh, trẻ nhũ nhi, bệnh nhân có hội chứng ruột ngắn).
- Hướng dẫn chung: Tạm ngưng nuôi ăn qua ống trong khi cho posaconazole. Trước khi cho thuốc, rửa ống bằng 15 mL nước tinh khiết. Sau khi cho thuốc, rửa dụng cụ pha bằng nước tinh khiết, hút phần rửa và bơm vào ống để đảm bảo đưa đủ liều. Sau đó rửa ống lại bằng 20 mL nước tinh khiết và tiếp tục nuôi ăn ngay.
- Viên nén phóng thích chậm dùng qua ống nuôi ăn:
- Đã có báo cáo sử dụng thành công viên nghiền cho qua ống ở một số bệnh nhân, nhưng có thể cần tăng liều hoặc dùng thường xuyên hơn để đạt nồng độ điều trị. Cần theo dõi nồng độ thuốc huyết thanh và điều chỉnh liều tương ứng.
- Cách thực hiện: Nghiền viên thành bột mịn, hòa trong 30 mL nước tinh khiết ngay trước khi cho thuốc. Hút hỗn dịch vào bơm tiêm và đưa qua ống. Một số dạng viên có bao phim; cần đảm bảo nghiền mịn và hòa tan kỹ để tránh tắc ống.
- Hướng dẫn chung: Tạm ngưng nuôi ăn trong khi cho thuốc. Trước khi cho thuốc, rửa ống bằng 15 mL nước tinh khiết. Sau khi cho thuốc, rửa dụng cụ pha bằng nước tinh khiết, hút phần rửa và bơm vào ống. Cuối cùng, rửa ống lại bằng 15 mL nước tinh khiết và tiếp tục nuôi ăn ngay.
- Đường tiêm tĩnh mạch (IV):
- Truyền trong 90 phút qua đường trung tâm (central line).
- Không được tiêm trực tiếp hoặc tiêm bolus.
- Phải truyền qua bộ lọc trong dòng 0,22 micron (polyethersulfone hoặc polyvinylidene difluoride).
- Nếu chưa có đường trung tâm, có thể truyền qua đường ngoại vi một lần duy nhất trong 30 phút trong khi chờ đặt đường trung tâm.
- Có thể gây kích ứng. Trong các nghiên cứu lâm sàng, việc truyền nhiều lần qua cùng một tĩnh mạch ngoại vi có liên quan đến phản ứng tại chỗ truyền.
CHỈ ĐỊNH VÀ CHỐNG CHỈ ĐỊNH
Chỉ định được phê duyệt ở trẻ em
- Dự phòng nhiễm nấm Aspergillus và Candida xâm lấn ở bệnh nhân có nguy cơ cao kèm suy giảm miễn dịch nặng (ví dụ: người ghép tế bào gốc tạo máu có bệnh mảnh ghép chống chủ, hoặc người mắc bệnh ác tính về huyết học bị giảm bạch cầu trung tính kéo dài do hóa trị).
- Hỗn dịch uống giải phóng chậm: được FDA phê duyệt cho trẻ ≥ 2 tuổi và cân nặng ≤ 40 kg.
- Viên nén uống giải phóng chậm: được FDA phê duyệt cho trẻ ≥ 2 tuổi và người lớn có cân nặng > 40 kg.
- Dạng tiêm tĩnh mạch: được FDA phê duyệt cho trẻ ≥ 2 tuổi và người lớn.
- Hỗn dịch uống giải phóng tức thì: được FDA phê duyệt cho trẻ ≥ 13 tuổi và người lớn.
- Điều trị nhiễm Aspergillus xâm lấn: dạng tiêm tĩnh mạch và viên nén giải phóng chậm; được FDA phê duyệt cho trẻ ≥ 13 tuổi và người lớn.
- Điều trị nấm miệng – họng (oropharyngeal candidiasis), bao gồm cả trường hợp kháng itraconazole và/hoặc fluconazole: hỗn dịch uống giải phóng tức thì; được FDA phê duyệt cho trẻ ≥ 13 tuổi và người lớn.
- Thuốc cũng đã được sử dụng trong điều trị và dự phòng các nhiễm nấm xâm lấn nghiêm trọng ở bệnh nhân không dung nạp hoặc kháng với liệu pháp kháng nấm thông thường, cũng như trong điều trị bệnh coccidioidomycosis.
Chỉ định được phê duyệt ở người lớn
- Aspergillosis xâm lấn: viên nén uống giải phóng chậm và dung dịch tiêm (bệnh nhân ≥ 13 tuổi); chỉ định điều trị Aspergillosis xâm lấn.
- Candidiasis miệng – họng: hỗn dịch uống giải phóng tức thì (bệnh nhân ≥ 13 tuổi); chỉ định điều trị Candidiasis miệng – họng, bao gồm cả trường hợp kháng itraconazole và/hoặc fluconazole.
Sử dụng ngoài chỉ định được phê duyệt ở người lớn
- Aspergillosis phổi mạn có hang: điều trị Aspergillosis phổi mạn tính có hang.
- Aspergillosis xâm lấn: bao gồm các trường hợp lan tỏa và ngoài phổi.
- Candidiasis thực quản kháng fluconazole: điều trị Candidiasis thực quản không đáp ứng với fluconazole.
- Coccidioidomycosis kháng điều trị thông thường: sử dụng trong các trường hợp không đáp ứng với liệu pháp kháng nấm thông thường.
- Viêm màng não do Cryptococcus: điều trị Cryptococcal meningitis.
- Histoplasmosis: điều trị bệnh do Histoplasma.
- Mucormycosis: liệu pháp cứu vãn hoặc điều trị duy trì sau hồi phục ban đầu.
- Dự phòng nhiễm nấm xâm lấn: ở bệnh nhân ghép tạng đặc.
Chống chỉ định
-
Không được dùng đồng thời với các thuốc sau:
- Sirolimus.
- Các alkaloid ergot (ví dụ: ergotamine, dihydroergotamine).
- Các thuốc ức chế HMG-CoA reductase được chuyển hóa chủ yếu qua CYP3A4 (ví dụ: atorvastatin, lovastatin, simvastatin).
- Các thuốc là substrate của CYP3A4 có khả năng kéo dài khoảng QT (ví dụ: pimozide, quinidine).
- Venetoclax (trong giai đoạn khởi đầu hoặc tăng liều ở bệnh nhân mắc bệnh bạch cầu lympho mạn tính hoặc lymphoma lympho nhỏ).
- Quá mẫn với posaconazole, các thuốc kháng nấm nhóm azole khác, hoặc bất kỳ thành phần nào của chế phẩm.
- Không dung nạp di truyền fructose đã biết hoặc nghi ngờ (chỉ áp dụng cho dạng hỗn dịch uống phóng thích chậm).
Lưu ý: Posaconazole có thể gây tương tác thuốc đáng kể, cần điều chỉnh liều/lịch dùng hoặc tránh phối hợp; tham khảo cơ sở dữ liệu về tương tác thuốc để biết thêm chi tiết.
NHỮNG LƯU Ý
Cân nhắc khi mang thai
- Các biến cố bất lợi đã được ghi nhận trong các nghiên cứu về sinh sản trên động vật.
Cân nhắc ở phụ nữ đang cho con bú
- Hiện chưa rõ posaconazole có được bài tiết vào sữa mẹ hay không.
- Theo khuyến cáo của nhà sản xuất, quyết định cho con bú trong thời gian điều trị cần cân nhắc giữa nguy cơ phơi nhiễm thuốc ở trẻ, lợi ích của việc nuôi con bằng sữa mẹ đối với trẻ, và lợi ích của việc điều trị đối với người mẹ.
Lưu ý về chế độ ăn uống
- Viên nén phóng thích chậm: uống cùng thức ăn khi có thể, nhưng cũng có thể dùng cùng hoặc không cùng thức ăn.
- Hỗn dịch uống phóng thích chậm: uống cùng thức ăn.
- Hỗn dịch uống phóng thích tức thì: dùng trong hoặc trong vòng 20 phút sau một bữa ăn đầy đủ, một dung dịch dinh dưỡng đường uống, hoặc một loại đồ uống có ga có tính acid (ví dụ: ginger ale).
- Cân nhắc sử dụng thuốc kháng nấm thay thế đối với bệnh nhân có khả năng ăn uống kém hoặc bị tiêu chảy/nôn mửa nặng; nếu không có lựa chọn thay thế, cần theo dõi chặt chẽ nguy cơ xuất hiện nhiễm nấm dai dẳng.
- Khả năng hấp thu posaconazole từ đường tiêu hóa và nồng độ thuốc trong huyết tương phụ thuộc vào việc dùng thuốc cùng thức ăn để đạt hiệu quả điều trị; nồng độ thuốc trung bình trong huyết tương thấp hơn có liên quan đến nguy cơ thất bại điều trị cao hơn.
Tài liệu tham khảo
- Posaconazole: Drug information. Uptodate 2025
- Posaconazole: Pediatric drug information. Uptodate 2025