GIỚI THIỆU
CHỈ ĐỊNH
Nhiễm toan
Tăng kali máu
Quá tải thể tích
Tăng urê máu
THỜI ĐIỂM BẮT ĐẦU RRT
CÁC PHƯƠNG THỨC
| Bảng 1. Các phương thức thay thế thận | ||
|---|---|---|
| Phương thức | Ưu điểm | Nhược điểm |
| IHD |
Vận chuyển các chất hòa tan hiệu quả cao khi cần loại bỏ nhanh chóng các chất độc hoặc chất điện giải.
Cho phép thời gian nghỉ để kiểm tra máy lọc máu. |
Không dung nạp về huyết động thứ phát do dịch chuyển dịch.
Mô hình "Răng cưa" của kiểm soát chuyển hóa giữa các phiên lọc. |
| CRRT |
Dịch chuyển huyết động nhẹ nhàng hơn so với IHD.
Kiểm soát chất tan ổn định. |
Nhu cầu liên tục về điều dưỡng chuyên ngành.
Yêu cầu chống đông máu liên tục (heparin so với citrate). |
| PIRRT |
Tất cả những ưu điểm của CRRT.
Cung cấp “thời gian ngừng máy” để kiểm tra máy. Điều dưỡng chăm sóc ít hơn CRRT. Ít tốn kém hơn CRRT. Thuốc chống đông máu thường không cần thiết. |
Yêu cầu điều trị gần như hàng ngày.
Loại bỏ “phân tử trung bình” ít hơn CRRT. |
| Thẩm phân phúc mạc (PD) | Chuyển dịch huyết động nhẹ nhàng hơn IHD. |
Cần phải xâm lấn khoang phúc mạc, điều này có thể không khả thi ở bệnh nhân sau phẫu thuật.
Tốc độ loại bỏ dịch khó dự đoán hơn. |
LIỀU LỌC MÁU
Liều “lý tưởng” của liệu pháp lọc máu ở bệnh nhân hồi sức vẫn chưa được xác định một cách nhất quán. Bằng chứng thu được từ nhóm bệnh nhân phụ thuộc lọc máu ở giai đoạn cuối cho thấy phác đồ 3 lần/tuần với mức giảm urê khoảng 70% mỗi đợt là hợp lý. Tuy vậy, ở nhóm bệnh nhân hồi sức tích cực nặng, các tính toán đó không phải lúc nào cũng tương đương trên thực hành.
Độ thanh thải urê thực tế trong bối cảnh hồi sức thường thấp hơn khoảng 25% so với mức kỳ vọng ở một bệnh nhân chạy thận mãn tính ổn định. Vì vậy, người ta đề xuất rằng có thể đạt lợi ích bổ sung bằng cách tăng liều điều trị (ví dụ: cao hơn mức ban đầu), tăng tần suất điều trị hoặc tiến hành siêu lọc máu lớn hơn.
Trong IHD, một số nghiên cứu nhỏ ghi nhận lợi ích về sống còn ở bệnh nhân hồi sức được lọc máu liều cao > 3 lần mỗi tuần hoặc phải lọc máu hàng ngày. Ngược lại, nghiên cứu của Mạng lưới thử nghiệm suy thận cấp (ATN) VA/NIH (thử nghiệm lớn ngẫu nhiên, đa trung tâm, tiến cứu) không nhận thấy sự giảm tỷ lệ tử vong hoặc tăng khả năng phục hồi thận khi tăng tần suất lọc máu (6 lần mỗi tuần so với 3 lần mỗi tuần). Trên cơ sở đó, khuyến nghị cung cấp IHD 3 lần mỗi tuần, hướng đến tỷ lệ giảm urê >70% hoặc Kt/V từ 1,2 đến 1,4 cho mỗi lần điều trị.
Tương tự, trong CRRT, các thử nghiệm nhỏ ngẫu nhiên có đối chứng từng cho thấy lợi ích sống sót khi thực hiện lọc máu cường độ cao (tốc độ dòng dịch thải cao). Tuy nhiên, các thử nghiệm tiếp theo có kết quả không đồng nhất. Hai nghiên cứu quy mô lớn nhất cho đến thời điểm hiện tại gồm nghiên cứu ATN (tốc độ dòng dịch thải 35 mL/kg/giờ so với 20 mL/kg/giờ) và nghiên cứu từ các Nhà điều tra Nghiên cứu Liệu pháp Thay thế RENAL (tốc độ dòng dịch thải 40 mL/kg/giờ so với 25 mL/kg/giờ) không chứng minh lợi ích sống còn khi lọc máu cường độ cao hơn ở ngày thứ 60. Trong nghiên cứu ATN, việc tăng cường độ lọc máu không cải thiện phục hồi chức năng thận và cũng không làm giảm tỷ lệ suy cơ quan không phải thận. Phân tích tổng hợp sau đó cho kết quả tương tự.
Nếu tại cơ sở y tế, CVVHDF được lựa chọn là phương thức ưu tiên, khuyến cáo sử dụng tốc độ dòng 20 mL/kg/giờ, trong đó tốc độ dòng dịch thay thế và tốc độ dòng dịch thẩm tách được chia đều. Với liều này, bệnh nhân cần duy trì liệu pháp tối thiểu 20 giờ mỗi ngày. Trường hợp bệnh nhân không nhận được CRRT ít nhất 18 đến 20 giờ trong khoảng thời gian 24 giờ do các xét nghiệm chẩn đoán, thủ thuật phẫu thuật, cục máu đông trong hệ thống dây lọc hoặc các yếu tố khác, thì liều đã kê đơn có thể tăng lên từ 15% đến 20% nhằm đảm bảo liều cung cấp xấp xỉ 20 mL/kg/giờ.
Ngoài ra, ở những bệnh nhân cần độ thanh thải cao hơn để điều trị nhiễm toan nặng hoặc tăng kali máu, nên sử dụng tốc độ dòng cao hơn.
CHỈNH LIỀU THUỐC TRONG CRRT
Nhiều yếu tố tác động đến việc điều chỉnh liều thuốc trong bối cảnh CRRT. Dược động học liên quan đến cơ chế loại bỏ thuốc qua CRRT có thể phức tạp, phụ thuộc kích thước phân tử của thuốc, mức độ liên kết với protein, thể tích phân bố, tính thấm của màng quả lọc, liều lọc máu và phương thức CRRT (thẩm tách máu tĩnh mạch-tĩnh mạch liên tục [CVVHD] so với siêu lọc máu tĩnh mạch-tĩnh mạch liên tục [CVVH] so với thẩm tách siêu lọc máu tĩnh mạch-tĩnh mạch liên tục [CVVHDF]).
Độ thanh thải thuốc còn có thể chịu ảnh hưởng bởi quá trình thải trừ qua đường ngoài thận và mức độ chức năng thận còn sót lại. Nói chung, độ thanh thải ngoài thận được xem là không đổi, dù ở bệnh nhân hồi sức có suy đa cơ quan, thành phần này có thể thấp hơn dự đoán. Trong nhiễm trùng huyết, một số biến số như thể tích phân bố và mức độ gắn protein có thể thay đổi.
Hiện có rất ít dữ liệu về việc dùng thuốc ở bệnh nhân nguy kịch được điều trị bằng CRRT. Một nguyên tắc quan trọng cần ghi nhớ là quá trình đào thải diễn ra liên tục; vì vậy, đa số các thuốc sẽ cần được dùng hai hoặc ba lần mỗi ngày. Nếu có theo dõi nồng độ thuốc thì nên đo hằng ngày. Liều khuyến cáo cho một số kháng sinh thường được kê đơn hơn được trình bày trong Bảng 2. Các khuyến cáo này không nhằm thay thế đánh giá lâm sàng, do các tình huống lâm sàng rất khác nhau.
| Bảng 2. Liều các thuốc kháng sinh trong RRT | ||
|---|---|---|
| Thuốc | CVVH | CVVHD hoặc CVVHDF |
| Vancomycin | Liều tải 15-20 mg/kg, sau đó 1g mỗi 48 giờ | Liều tải 15-20 mg/kg, sau đó 1g mỗi 24 giờ |
| Cefepime | 1-2g mỗi 12 giờ | 2g mỗi 12 giờ hoặc 1g mỗi 8 giờ |
| Ceftazidime | 1-2g mỗi 12 giờ | 2g mỗi 12 giờ hoặc 1g mỗi 8 giờ |
| Cefotaxime | 1-2g mỗi 12 giờ | 2g mỗi 12 giờ |
| Ceftriaxone | 1-2g mỗi 12-24 giờ | 2g mỗi 12-24 giờ |
| Imipenem-cilastatin | 250mg mỗi 6 giờ hoặc 500mg mỗi 8 giờ | 250mg mỗi 6 giờ, 500mg mỗi 6 giờ, hoặc 500mg mỗi 8 giờ |
| Meropenem | 1g mỗi 12 giờ | 1g mỗi 12 giờ |
| Ciprofloxacin | 200mg mỗi 12 giờ | 200-400mg mỗi 12 giờ |
| Metronidazole | 500mg mỗi 8 giờ | 500mg mỗi 8 giờ |
| Piperacillin-tazobactam | 2,25g mỗi 6 giờ | 3,375 g mỗi 6 giờ |
| Amikacin | Liều tải 10 mg/kg, sau đó 7,5 mg/kg mỗi 24-48 giờ | Liều tải 10 mg/kg, sau đó 7,5 mg/kg mỗi 24-48 giờ |
| Tobramycin | Liều tải 3 mg/kg, sau đó 2 mg/kg mỗi 24-48 giờ | Liều tải 3mg/kg, sau đó 2 mg/kg mỗi 24-48 giờ |
| Gentamycin | Liều tải 3 mg/kg, sau đó 2 mg/kg mỗi 24-48 giờ | Liều tải 3 mg/kg, sau đó 2 mg/kg mỗi 24-48 giờ |
| Daptomycin | 4 hoặc 6 mg/kg mỗi 48 giờ | 4 hoặc 6 mg/kg mỗi 48 giờ |
| Linezolid | 600 mg mỗi 12 giờ | 600 mg mỗi 12 giờ |
| Fluconazole | 200-400 mg mỗi 24 giờ | 400-800 mg mỗi 24 giờ |
| Acyclovir | 5-7,5 mg/kg mỗi 24 giờ | 5-7,5 mg/kg mỗi 24 giờ |
Công cụ tính liều lượng kháng sinh ở bệnh nhân suy thận, lọc máu theo Sanford Guide: CrCl & anti-infective drugs
CHỈNH LIỀU THUỐC TRONG PIRRT
Hiện có dữ liệu còn hạn chế về độ thanh thải thuốc và liều lượng thuốc phù hợp ở bệnh nhân trải qua PIRRT. Nhìn chung, các yếu tố ảnh hưởng đến liều thuốc trong PIRRT tương tự như trong CRRT. Tuy nhiên, độ thanh thải thuốc trong PIRRT khó dự đoán hơn do tính chất ngắt quãng của kỹ thuật này. Đồng thời, việc đưa ra khuyến cáo liều chung cho từng thuốc cụ thể cũng gặp khó khăn vì thời gian bán hủy có thể thay đổi đáng kể trong PIRRT, do thiếu tính đồng nhất của màng lọc, điều kiện của hệ thống cũng như dòng máu và tốc độ dòng dịch lọc (phụ thuộc máy và trung tâm).
Đối với thuốc được chỉ định dùng một lần mỗi ngày, khuyến cáo sử dụng liều sau PIRRT. Đối với thuốc dùng hai lần mỗi ngày, khuyến cáo dùng liều đầu tiên sau PIRRT và liều thứ hai sau 12 giờ. Lý tưởng nhất là khởi trị PIRRT vào cùng một thời điểm mỗi ngày. Sự phối hợp chặt chẽ giữa nhóm thận học, dược sĩ và nhóm ICU là cần thiết nhằm bảo đảm cung cấp đủ liều lượng thuốc.
CÁC BIẾN CHỨNG CỦA RRT
Hạ huyết áp
Rối loạn nhịp tim
Phản ứng với máy thẩm tách
Các vấn đề liên quan đến catheter lọc máu
Các vấn đề liên quan đến CRRT
NGỪNG RRT
TÓM LẠI
Tài liệu tham khảo
- Renal Replacement Therapy. Critical Care 2018