GIỚI THIỆU
- Trước thế kỷ 20, đa số trường hợp vết thương thấu bụng được xử trí theo hướng bảo tồn không phẫu thuật và đạt được kết quả thành công. Trong thời Chiến tranh Thế giới thứ I, các phẫu thuật viên nhận thấy phẫu thuật mở bụng sửa chữa giúp giảm tỉ lệ tử vong ở những người lính bị vết thương thấu bụng. Từ đó, mở bụng thám sát và xử lý thương tổn trở thành điều trị chuẩn đối với nhóm vết thương này. Về sau, người ta ghi nhận vết thương thấu bụng thời chiến (do vết thương hoả khí tốc độ cao) có đặc điểm khác so với nguyên nhân gặp trong thương tổn dân sự - sinh hoạt thời bình (đa phần là vết đâm chọc hoặc súng đạn với tốc độ thấp hơn). Năm 1960, Shaftan tiến hành nghiên cứu đánh giá sự cứng nhắc của chủ trương mở bụng thăm dò tất cả bệnh nhân vết thương thấu bụng; từ kết quả này, tỉ lệ mở bụng ở các trường hợp bị đâm thấu bụng đã giảm rõ rệt trong các thập niên tiếp theo.
- Đặc điểm của vết thương thấu bụng là có thể đồng thời gây tổn thương nhiều tạng (tạng đặc hoặc tạng rỗng), có thể là tổn thương đơn giản hoặc tổn thương ở cùng lúc nhiều khoang giải phẫu: tầng sinh môn, trong phúc mạc - sau phúc mạc, khoang ngực - trung thất… Nghiên cứu cơ chế tổn thương theo hướng lực tác động (đường đạn, dao đâm, hoặc vật đâm chọc còn nguyên vị trí trên cơ thể bệnh nhân) giúp định hướng chẩn đoán tổn thương.
- Phần lớn các nghiên cứu cho thấy chấn thương bụng kín thường gặp hơn vết thương thấu bụng; đồng thời vết thương thấu bụng lại phổ biến hơn vết thương đạn bắn trong cộng đồng dân cư. Vết thương bụng do đạn bắn, do năng lượng động cao hơn, liên quan đến tổn thương nặng nề hơn và có tỉ lệ tử vong cao gấp 8 lần so với vết thương bụng do đâm.
- Ở cả trẻ em và người lớn, tạng rỗng (ruột) là cơ quan thường bị tổn thương nhất trong các trường hợp đâm chọc. Các cơ quan có thể bị tổn thương tiếp theo gồm: mạch máu lớn, cơ hoành, mạch máu mạc treo, lách, gan, thận, tuỵ, túi mật và tuyến thượng thận. Tổn thương cơ quan đặc hiệu do đâm tuỳ thuộc vào vị trí đường đâm.
- Việc sửa chữa từng dạng tổn thương cụ thể có thể liên quan đến nhiều chuyên khoa ngoại khác nhau và được trình bày tóm lược theo các nhóm: tổn thương gan, đường mật, lách - cơ hoành; tổn thương dạ dày - ruột non - đại tràng - trực tràng; tổn thương tá - tuỵ, mạch máu lớn khoang bụng, tổn thương hệ niệu dục… [8]. Phạm vi bài này tập trung vào đánh giá ban đầu và xử trí vết thương thấu bụng do đâm chọc ở người lớn. Các nội dung hồi sức chấn thương nói chung ở người lớn và trẻ em, cũng như vết thương bụng do đạn bắn và các khía cạnh chăm sóc chấn thương khác thuộc phạm vi bài khác, không được đề cập trong tài liệu này.
TỔNG QUAN
Cơ chế chấn thương
- Tất cả các vật có khả năng đâm chọc đều có thể gây vết thương thấu bụng. Vật nhọn, sắc, điển hình như dao là nguyên nhân thường gặp; tuy nhiên trên thực tế có thể gặp nhiều tác nhân khác như mũi kéo, móc quần áo, sừng động vật… Các vật nói trên có thể gây tổn thương mọi loại mô từ da, cân mạc, tạng đặc, tạng rỗng, mạch máu, thần kinh, cơ đến xương.
- Theo một nghiên cứu, phần lớn các trường hợp vết thương thấu bụng kèm sổ tạng gặp ở hạ sườn trái, tiếp theo là hố chậu trái, hạ sườn phải và hố chậu phải. Vết thương do đâm từ hông và từ sau lưng có nguy cơ cao gây tổn thương các tạng sau phúc mạc như đại tràng, thận, tuyến thượng thận. Trường hợp có nhiều vết thương đâm chọc ghi nhận ở 18-34% bệnh nhân, và có đến 30% vết thương thấu ngực có thể xuyên thủng cơ hoành, từ đó làm tăng khả năng gây tổn thương các tạng ổ bụng. Vì vậy, cần đặc biệt lưu ý các trường hợp vết đâm ở phía trước ngực dưới đường ngang núm vú (khoang gian sườn thứ 4) và vết đâm ở phía sau lưng dưới mỏm xương vai (khoang gian sườn thứ 7), do phải kiểm tra khả năng tổn thương cơ hoành cùng với các tạng ổ bụng bên cạnh các tổn thương ngực khác.
Phân khu giải phẫu
- Bụng trước: được giới hạn bởi hai đường nách trước kéo dài từ bờ sườn xuống đến nếp bẹn ở hai bên. Do cơ hoành có biên độ dao động theo nhịp hô hấp, vì vậy đường ngang vú (khoang gian sườn 4) ở phía trước, đỉnh xương vai (khoang gian sườn 7) và bờ dưới sườn ở phía sau cần được sử dụng để xác định giới hạn trên của khoang bụng. Các vết thương vùng bụng trên có thể gây tổn thương tạng thuộc khoang ngực và khoang bụng tuỳ thuộc vào đường đi của tác nhân cũng như vị trí của cơ hoành tại thời điểm tai nạn.
- Hai vùng hông phải - trái: mỗi bên được giới hạn bởi bờ dưới sườn, mào chậu, và hai đường nách trước - nách sau.
- Vùng lưng: là vùng nằm giữa đường nách sau, đỉnh dưới xương vai (khoang gian sườn 7) và mào chậu. Vết đâm ở vùng lưng và vùng hông có nhiều khả năng làm tổn thương các cấu trúc sau phúc mạc, gồm đại tràng, thận và tuyến thượng thận.
CHẨN ĐOÁN
Bệnh sử/hoàn cảnh
- Tác nhân đâm chọc là gì ?
- Tác nhân dài và rộng thế nào ?
- Tư thế đứng của bệnh nhân lúc bị đâm.
- Đường đi (hoặc các đường đi nếu có nhiều vết đâm) của ngoại vật tác động.
- Bệnh nhân có mất máu tại hiện trường nhiều không ?
Đánh giá ban đầu
Trình tự đánh giá toàn diện và xử trí ban đầu ở bệnh nhân chấn thương được mô tả chi tiết trong bài khác. Dưới đây là các nội dung đặc thù cần chú ý khi đánh giá bước đầu ở bệnh nhân bị đâm xuyên.
Cần cởi bỏ toàn bộ trang phục của bệnh nhân ngay khi đến viện trong trường hợp có vết đâm. Vết thương do đâm thường có thể bị che khuất bởi tư thế nằm (che khuất vùng lưng hoặc vùng bụng khi bệnh nhân năm ngửa hay nằm sấp), bởi quần áo, do chảy máu, hoặc ở các vị trí khuất dễ bỏ sót như vùng nách, đáy chậu, vùng háng-bẹn. Cần kiểm tra kỹ để nhận diện xem có một vết đâm hay nhiều vết đâm; đồng thời phải tìm tổn thương nguy hiểm nhất, vì tổn thương nghiêm trọng có thể không nằm ở vị trí dễ thấy và được phát hiện ngay. Lưu ý rằng những vết rách da - xây xát phần mềm trên thành bụng/ thành ngực có thể bị hiểu nhầm là vết đâm thấu với tổn thương cơ quan nội tạng quan trọng nằm sâu bên trong.
Việc lựa chọn các bước đánh giá và xử trí bệnh nhân vết đâm thấu bụng phụ thuộc tình trạng lâm sàng. Ở bệnh nhân nguy kịch đe doạ tính mạng, cần mở ngực hồi sức và mở bụng khẩn cấp để kiểm soát chảy máu cũng như xử trí các tổn thương kèm theo khác. (Mở ngực cấp cứu thuộc phạm vi bài khác.)
Bệnh nhân có một trong các biểu hiện sau cần chuyển ngay phòng mổ để mở bụng cấp cứu:
- Huyết động không ổn định
- Viêm phúc mạc
- Ngoại vật còn đâm xiên
- Sổ tạng ra ngoài (evisceration)
- Máu tươi từ sonde dạ dày hoặc qua thăm trực tràng
Đối với nhóm bệnh nhân không có chỉ định rõ ràng phải mở bụng cấp cứu ngay, khám lâm sàng phải đủ nhạy và đủ đặc hiệu để phát hiện tổn thương nghiêm trọng của các tạng trong ổ bụng. Một nghiên cứu quan sát tiến cứu trên 249 ca vết thương thấu bụng tại một trung tâm chuyên sâu chấn thương cho thấy khám lâm sàng đạt độ nhạy lên đến 100% và độ đặc hiệu 98.7% so với CT scan trong phát hiện tổn thương tạng ổ bụng cần phải mở bụng giải quyết. Ở nhóm này, có thể đánh giá thăm khám dựa trên một hoặc nhiều phương cách sau.
Thăm dò vết thương tại chỗ
- Cần xác định vết đâm đã thủng rách vào phúc mạc hay chưa, đồng thời đánh giá độ sâu và hướng đi của đường đâm. Thăm dò tại chỗ có thể thực hiện an toàn tại giường bệnh, nhưng cần chuẩn bị an thần và gây tê tại chỗ hiệu quả. Thủ thuật cần có sự tham gia của hai người, đảm bảo vô khuẩn, đủ ánh sáng và bộc lộ giải phẫu đến khi quan sát rõ đáy vết thương. Thăm dò bằng đầu dò tù như ngón tay hay tăm bông không đáng tin cậy và không được khuyến cáo.
- Với vết thương thành bụng trước: nếu thăm dò đến đáy vết đâm mà chưa xuyên qua lá trước bao cơ thẳng bụng, bệnh nhân được cho xuất viện sau khi vệ sinh làm sạch kỹ vết thương (trong trường hợp không có tổn thương bụng phối hợp hoặc tổn thương ngoài ổ bụng khác).[5] Tình trạng béo phì nặng, khối cơ lớn, nhiều vết đâm đồng thời hoặc các chấn thương khác có thể cản trở thăm dò tại chỗ. Nếu tổn thương lá trước bao cơ không nhìn rõ hoặc không thể đánh giá hoàn toàn thì không thể loại trừ xuyên thủng phúc mạc và cần theo dõi/đánh giá thêm. Đối với bác sĩ chưa có kinh nghiệm hoặc chưa gặp nhiều tình huống tương tự, cách tiếp cận an toàn là giả định xuyên thấu phúc mạc trừ khi tất cả các bờ mép vết thương được nhìn thấy rõ ràng.
Chụp Xq bụng đứng không chuẩn bị
- Nếu có hơi tự do trong ổ phúc mạc (tư thế đứng hoặc nằm nghiêng) có thể giúp xác định tình trạng xuyên thấu phúc mạc, tuy nhiên không có giá trị chẩn đoán cho thủng tạng rỗng. Vì vậy ASP không có độ nhạy và độ đặc hiệu cần thiết để phát hiện thương tổn nghiêm trọng, nên hiếm khi được chỉ định áp dụng.
- Một ngoại lệ của ASP là tìm kiếm hoặc định vị dị vật cản quan: khi ngoại vật đâm chọc còn nguyên vị trí trên cơ thể bệnh nhân hoặc khi nghi ngờ có di vật không nhìn thấy trên vết thương (ví dụ, lưỡi dao gãy…).
Khám lâm sàng lập lại và theo dõi sát
Đây là biện pháp an toàn và có giá trị để phát hiện thương tổn ở các tạng quan trọng sau vết đâm vào bụng, khi thực hiện bởi bác sĩ có kinh nghiệm và trên bệnh nhân phù hợp. Lý tưởng là cùng một bác sĩ theo dõi liên tục cho bệnh nhân, ít nhất mỗi 6h/lần.
- Bệnh nhân không phù hợp lưu theo dõi khám lâm sàng liên tục bao gồm: chấn thương sọ não kèm thay đổi tri giác, chấn thương tủy sống, ngộ độc (rượu, thuốc..), hoặc cần gây mê để xử trí tổn thương khác.
Ngoài việc đánh giá tình trạng vùng bụng, cần kiểm tra tình trạng mạch và cảm giác-vận động ở hai chi dưới, vì vết đâm vùng bụng có thể gây thương tổn mạch máu - thần kinh vùng bụng-chậu.
Vết thương thủng rách lá trước bao cơ thẳng bụng cần được theo dõi sát ít nhất 12h.
Những bệnh nhân sau cần được theo dõi ít nhất 24h:
- Tuổi >65
- Uống thuốc chống đông hoặc chống ngưng tập tiểu cầu quanh thời điểm bị đâm
- Có tổn thương quan trọng khác cũng cần theo dõi thêm
Bệnh nhân có thể được ra viện sau thời gian theo dõi ngắn (12h) nếu đạt các tiêu chí:
- Tỉnh táo và hiểu được các chỉ dẫn về chăm sóc y tế
- Khám lâm sàng, đặc biệt vùng bụng - không có gì đặc biệt, ngoại trừ cảm giác đau tại chỗ vết đâm
- Dấu hiệu sinh tồn ổn định: Mạch < 90lần/phút; nhịp thở <14lần/phút; T0<380C;
- Tự tiểu bình thường
- Uống nước được (không đau)
- Tự di chuyển được an toàn
- Không dùng thuốc chống đông
- Điều kiện sinh hoạt khi ra viện an toàn
Siêu âm
- Siêu âm cấp cứu tại giường mở rộng trong chấn thương (extended Focused Abdominal Sonography for Trauma - eFAST): đánh giá tràn máu màng tim, phúc mạc, khí-máu màng phổi.., có thể xuất hiện đồng thời nhiều khoang. Nói chung, eFAST có độ nhạy tương đối cao nhưng độ đặc hiệu còn hạn chế.
- eFAST đặc biệt có giá trị trong đánh giá bước đầu bệnh nhân với vết đâm vùng ngực thấp hoặc vùng bụng cao, vì có thể xác định nhanh tràn máu màng tim - màng bụng, từ đó giúp quyết định ưu tiên xử trí tức thời (dẫn lưu màng tim, mở bụng cầm máu..). Ở bệnh nhân huyết động ổn định với eFAST(+), cần những biện pháp chẩn đoán hiệu quả hơn như CT scan hoặc nội soi chẩn đoán để xác định tổn thương đặc hiệu và hướng dẫn xử trí. Ở bệnh nhân eFAST âm tính, cũng không loại trừ được thương tổn ngay, và nếu cần có thể tiến hành thêm thăm dò theo các phương cách nêu trên.
Chọc hút và chọc rửa phúc mạc chẩn đoán
Đây là kỹ thuật chẩn đoán xâm nhập tại giường thực hiện nhanh chóng và dễ dàng, giúp đánh giá tình trạng xuyên phúc mạc với thương tổn tạng đặc, tạng rỗng và cơ hoành. Chọc rửa ổ phúc mạc (DFL) không đánh giá được thương tổn sau phúc mạc. Với vết đâm vùng bụng, chọc dò và chọc rửa phúc mạc được chỉ định khi:
- Cần xác định nhanh chóng hiện diện tràn máu phúc mạc ở bệnh nhân huyết động không ổn định trong khi siêu âm tại giường chưa ghi nhận tình trạng này.
- Xác định tổn thương cơ hoành (ví dụ, nghi ngờ khi vết đâm ngực thấp có xuyên thủng phúc mạc).
Chống chỉ định tuyệt đối của chọc rửa phúc mạc: khi lâm sàng đã có chỉ định rõ ràng mở bụng cấp cứu (nêu ở phần chỉ định chuyển mổ).
Chống chỉ định tương đối của chọc rửa phúc mạc: tiền sử phẫu thuật bụng, rối loạn đông máu (dùng thuốc chống đông), xơ gan nặng, béo phì bệnh lý và thai kỳ từ tháng thứ ba. Chọc rửa phúc mạc trên rốn được khuyến cáo ở bệnh nhân gãy xương chậu, hoặc thai kỳ từ tháng thứ ba.
- Chọc hút ra 10mL máu tươi ở bệnh nhân vết thương bụng được nhiều chuyên gia xem là có tổn thương tạng. Tuy nhiên, ngưỡng hồng cầu chẩn đoán trong chọc rửa phúc mạc còn chưa thống nhất (thường >10.000 HC/vi trường). Mức 5000-10.000HC/vi trường thường được áp dụng cho vết thương ngực thấp (theo dõi ngực-bụng) để tăng độ nhạy chẩn đoán.
Chụp CT (Cắt lớp vi tính)
Độ nhạy 97% và đặc hiệu đến 98% trong xác định có xuyên thấu phúc mạc; độ nhạy 94% và đặc hiệu 95% trong phát hiện thương tổn ổ bụng mà cần phải mở bụng giải quyết. Ưu thế khác là phát hiện tổn thương ổ bụng có thể điều trị nội khoa bảo tồn (như các vết rách gan). CT scan âm tính không loại trừ được thương tổn quan trọng (đặc biệt cơ hoành và ruột).
Phân độ và khuyến cáo xử trí vết thương vùng hông/lưng dựa trên kết quả CT Scan.
| Nguy cơ | Kết quả CTscan | Can thiệp |
|---|---|---|
| Thấp | Không xuyên thủng Xuyên thủng vào lớp dưới da |
Ra viện từ cấp cứu |
| Trung bình | Đâm thủng vào lớp cơ Máu tụ sau phúc mạc, xa các cấu trúc, mạch máu quan trọng |
Khám lâm sàng lập lại nhiều lần |
| Cao | Thoát thuốc từ đại tràng Thoát thuốc quan trọng từ thận Khối máu tụ gần mạch máu lớn sau phúc mạc Hơi tự do sau phúc mạc, không liên quan với tác nhân Chứng cứ thương tổn trên và dưới cơ hoành Dịch tự do ổ phúc mạc. |
Mở bụng giải quyết |
Nội soi ổ bụng chẩn đoán
Đây là phương pháp tốt nhất để thám sát cơ hoành trong vết thương ngực-bụng (kèm xử trí nếu có), cũng như để quyết định khả năng điều trị bảo tồn đối với vết rách gan. Bất lợi: việc kiểm tra toàn bộ tạng rỗng có thể khó khăn và cần kéo dài thời gian; đồng thời phương pháp này không đánh giá được thương tổn sau phúc mạc.
ĐIỀU TRỊ
Xử trí ban đầu
- Hồi sức cơ bản: thực hiện theo nguyên tắc ABC, tiến hành hồi sức tùy theo đánh giá và sàng lọc ban đầu.
- Đánh giá vết thương: thăm khám vết đâm chọc, tìm các dấu hiệu chảy máu: máu ra ngoài (qua vết thương, sonde dạ dày, sonde tiểu, trực tràng..) hoặc chảy máu trong (chảy máu màng phổi, ổ bụng..); đồng thời nhận định dấu hiệu phúc mạc và sự hiện diện của ngoại vật tại vết thương hoặc vùng khuất lấp. Chú ý tình trạng đa vết thương, vết thương vùng lưng và vùng khuất.
- Tìm kiếm các dấu hiệu gợi ý cần mổ cấp cứu khẩn trương.
- Nếu không có chỉ định mổ cấp cứu, tiến hành theo dõi và các thăm dò phù hợp.
Điều trị phẫu thuật cụ thể (theo cơ quan thương tổn)
Chuẩn bị bệnh nhân
Trong bối cảnh cấp cứu này, chìa khoá cho thành công là chuẩn bị trước đầy đủ và kịp thời cho mọi tình huống có thể xảy ra, bao gồm cả điều kiện trang thiết bị lẫn bản thân bệnh nhân.
Phòng mổ/hồi sức cần được làm ấm để bảo đảm bệnh nhân không mất quá nhiều nhiệt gây hạ thân nhiệt.
- Dụng cụ phẫu thuật phải được chuẩn bị sẵn sàng với các yêu cầu đặc biệt: trong trường hợp nghi ngờ tổn thương mạch máu cần có bộ dụng cụ mạch máu và van vén sườn-bụng; cần có gạc lớn chèn bụng đầy đủ; hệ thống cellsaver và truyền dịch nhanh nếu có sẵn cần được yêu cầu chuẩn bị sẵn sàng trước. Dự trù máu đầy đủ.
- Bệnh nhân cần được đặt sonde mũi dạ dày và thông tiểu. Đặt đường truyền theo dõi xâm nhập nếu cần, đồng thời tiến hành hồi sức tích cực song song với chuẩn bị bệnh nhân cho phẫu thuật. Kháng sinh phổ rộng đường tĩnh mạch trước khi rạch da. Sau khi bệnh nhân đã được đặt đúng tư thế phẫu thuật, tiến hành sát khuẩn phẫu trường phía trên lên đến hõm ức gồm thành ngực trước; dự phòng trường hợp cần mở ngực để xử trí tổn thương hoặc kiểm soát mạch máu từ tầng ngực thì không cần chờ đợi chuẩn bị thêm. Tương tự, sát khuẩn phía dưới xuống đến 1/3 trên đùi trước để nếu cần có thể lấy ngay đoạn gần TM hiển làm đoạn mạch ghép tạo hình. Trường hợp sốc mất máu nặng hoặc ngừng tuần hoàn cần hồi sức phối hợp phẫu thuật cầm máu đồng thời, việc sát trùng và che phủ có thể thực hiện nhanh gọn nhất.
Rạch da và thăm dò sơ bộ
- Mở bụng đường giữa: ưu tiên do có tính chất nhanh chóng và thuận lợi trong tiếp cận khoang bụng; có thể bộc lộ hầu hết các tạng và cấu trúc ổ bụng. Khi cần thiết, có thể kéo dài mở xương ức. Bất lợi chủ yếu là hạn chế tiếp cận tổn thương ở hai ngách vòm hoành. Ngoài ra, nếu BN có sẹo mổ cũ đường giữa, có thể tiếp cận trước tiên ở phía trên hoặc phía dưới sẹo nhằm tránh gây tổn thương tạng do dính.
- Các đường mổ khác: Đường dưới sườn hai bên có thể được cân nhắc khi BN có sẹo mổ cũ dính nhiều; tuy nhiên cần lưu ý hạn chế do thời gian can thiệp lâu hơn và khả năng bộc lộ/kiểm tra thương tổn vùng I bị giới hạn. Các đường mổ như đường trắng-bên, dưới sườn, sau phúc mạc, xiên hông cũng không được khuyến cáo với lý do tương tự.
- Khi đã tiếp cận khoang bụng, cần thám sát ban đầu nhanh chóng theo một trình tự nhất định để: giảm thiểu chảy máu và nhiễm bẩn, hạn chế gây thêm tổn thương mới, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để phát hiện và khám phá thương tổn tạng. Các quai ruột được đưa ra ngoài; máu đọng nhiều cần được lấy sạch. Tiến hành nhanh chóng chèn gạc vào 4 góc khoang bụng theo trình tự: hạ sườn phải – hạ sườn trái – hai hố chậu.
- Huyết áp có thể dao động thấp trong giai đoạn mở bụng (do giảm áp), vì vậy cần thông báo ngay cho bộ phận gây mê để chủ động đối phó. Khi huyết động ổn định, tiến hành thăm dò các tạng trong phúc mạc (intraperitoneal). Trong vết thương thấu bụng, tiêu điểm chảy máu thường dễ xác định nhờ quan sát trực tiếp. Các vết thương mạch máu được kiểm soát bằng tay cho đến khi kiểm soát được hai phía đầu gần và đầu xa của thương tổn. Đối với thương tổn chảy máu ở mạc treo, cần cặp buộc ngay. Trường hợp chảy máu từ thương tổn tạng đặc (gan): chèn gạc tạm cầm máu như trong chấn thương kín, sau đó xử trí bằng khâu trực tiếp. Các tình huống còn chảy máu tiếp tục sau khi đã chèn gạc cần được nhận định và lưu ý ngay.
- Các tạng rỗng được thám sát theo một trình tự nhất định. Mặt trước dạ dày cần được kiểm tra từ đoạn thực quản bụng đến môn vị. Nếu ghi nhận thủng rách thành dạ dày hoặc nghi ngờ cao dựa trên cơ chế tổn thương, hoặc có máu tụ trong thành hay dịch tiêu hoá tràn ra, cần kiểm tra mặt sau dạ dày bằng cách mở mạc nối vị-đại tràng; qua đó cũng đánh giá mặt trước thân tuỵ.
- Nếu nghi ngờ tổn thương tá-tuỵ, cần thực hiện thủ thuật Kocher để lật mặt sau khối tá-tuỵ. Tiếp theo kiểm tra toàn bộ ruột non từ tá tràng đến góc tá-hỗng tràng, sau đó xuống đến van hồi manh tràng. Cần kiểm tra toàn bộ hai mặt bên của quai ruột, đồng thời lưu ý không bỏ sót tổn thương ở bờ mạc treo. Với khối máu tụ mạc treo cần đặc biệt nghi ngờ khả năng tổn thương mạch mạc treo và đánh giá tưới máu của quai ruột.
- Sau đó kiểm tra đại tràng từ manh tràng đến trực tràng. Nếu ghi nhận thủng rách mặt trước ở đoạn đại tràng lên hoặc xuống, cần cắt gỡ mạc Toldt, di động để thám sát mặt sau đại tràng ở đoạn nghi ngờ tổn thương.
- Cuối cùng, gỡ lần lượt các tấm gạc lớn đã chèn cầm máu tạm thời tại các vùng tổn thương tạng đặc, lần lượt theo từng vị trí một để thám sát lại tình trạng chảy máu hoặc tổn thương.
- Khi hoàn thành thám sát các tạng trong phúc mạc, tiến hành kiểm tra khoang sau phúc mạc dựa trên cơ chế thương tổn theo đường đi của hướng tác động. Khối máu tụ khoang sau phúc mạc được phân loại theo cơ sở giải phẫu: vùng 1 là khu vực trung tâm, giới hạn hai bên bởi hai thận và đi từ trên là lỗ cơ hoành xuống đến chỗ chia đôi TM chủ dưới và ĐM chủ bụng; vùng 2 là vùng bên khoang sau phúc mạc, đi từ hai thận ra đến rãnh cạnh đại tràng hai bên; vùng 3 là phần tiểu khung (Hình 1).
Trình tự ưu tiên xử trí
- Kiểm soát chảy máu: từ các mạch máu lớn, đường rách tạng đặc..
- Kiểm soát nhiễm bẩn: từ dịch ruột, dịch mật-tuỵ, nước tiểu…
- Sửa chữa thực thụ các vết thương mạch máu: từ đơn giản có thể thắt buộc, khâu, dùng tấm vá, đoạn mạch ghép, phẫu thuật bắc cầu…
- Sửa chữa các tổn thương thủng rách tạng rỗng, đoạn ruột thiếu máu nuôi.
- Sửa chữa tổn thương sau phúc mạc.
Đóng bụng
- Kỹ thuật chung: thường dựa trên 5 yếu tố chính: (1) mức độ mất máu, (2) lượng dịch bù hồi sức, (3) mức độ nhiễm bẩn, (4) tình trạng dinh dưỡng và (5) tình trạng ổn định huyết động.
- Khâu vết thương: nếu vết thương đơn giản, không có dấu hiệu thủng rách ruột, có thể khâu vết thương thì đầu. Nếu vết thương nhiễm bẩn, nghi ngờ nhiễm trùng, có thể khâu cân cơ để hở da (khâu muộn sau 3-5 ngày).
- Đóng bụng tạm thời: Với phẫu thuật cấp cứu tối giản (Damage control surgery), BN vẫn không ổn định sau khi kiểm soát chảy máu và nhiễm bẩn, hoặc hạ thân nhiệt và rối loạn đông máu: cần kết thúc nhanh cuộc mổ để hồi sức hiệu quả; tiến hành đóng bụng khẩn trương với giả định sẽ mở bụng lại để giải quyết tiếp theo sau. Chỉ cần đóng da (bằng clip kẹp toan mổ), băng tạm vết mổ hoặc sử dụng hệ thống băng VAC hút áp lực âm.
- Đóng bụng thực thụ: khi BN ổn định, cần thực hiện khâu đóng lại cân cơ theo giải phẫu.
Mổ mở (phẫu thuật bộc lộ)
Động mạch chủ bụng và các nhánh
- Qua ngả mạc nối nhỏ: vén gan trái lên trên-ra ngoài, kéo dạ dày xuống dưới. Có thể bộc lộ ĐMC bụng trên thân tạng ở lỗ thực quản, tuy nhiên mức độ hạn chế trong sửa chữa thực thụ.
- Xoay tạng bên trái vào trong (Hình 2): cắt dây chằng lách-thận, hạ đại tràng (ĐT) góc lách, cắt nếp phúc mạc rãnh đại tràng (mạc Toldt) trái đến hết ĐT sigma. Khối ĐT trái được bóc tách-đẩy vào đường giữa ở mặt phẳng trước cân Gerota. Kỹ thuật này cho phép thám sát toàn bộ ĐMC bụng và các nhánh tạng, đồng thời thuận lợi cho kiểm soát cuống thận trái trước khi bộc lộ khối máu tụ sau phúc mạc zone 2 bên trái. Cải biên là thủ thuật Mattox: thận trái được bóc tách và đẩy vào đường giữa phía trong ở mặt phẳng trước khối cơ thành bụng sau, nhờ đó kiểm soát tốt hơn nguyên uỷ ĐM thận trái.
- Qua ngả xuyên phúc mạc: khi tổn thương ĐMC bụng thấp hơn. Ruột non đẩy sang phải, ĐT ngang lên trên, ĐT trái ra ngoài. Mở phúc mạc ngay trên ĐMC, tá tràng D3-D4 được đẩy lên trên.
Tĩnh mạch chủ bụng và các nhánh
- Đoạn trên gan: (1) cắt mở gân trung tâm cơ hoành; hoặc (2) mở ngực đường giữa xương ức và mở màng tim.
- Đoạn dưới gan: xoay tạng bên phải vào trong (thủ thuật Cattell-Braasch) (hình 3). Với tổn thương TMC ngay dưới gan, chỉ cần lật khối tá tuỵ vào trong (Kocher).
Gan
Tuỵ
Thận
Tá tràng, đường mật, ruột non
Đại tràng, trực tràng
THỰC HÀNH
Phác đồ xử trí vết thương thành bụng trước.
Phác đồ xử trí vết thương thấu ngực-bụng.
Tài liệu tham khảo
- Hướng dẫn thực hành chẩn đoán và điều trị vết thương thấu bụng. Vinmec