GIỚI THIỆU
-
Ngừng thở (Respiratory Arrest)
- Tổng quan
- Hô hấp bình thường và bất thường
- Nhận diện mức độ nghiêm trọng của vấn đề hô hấp
- Đánh giá BLS
- Đánh giá sơ cấp
- Quản lý ngừng thở
- Cung cấp oxy bổ sung
- Mở đường thở
- Thở hỗ trợ cơ bản
- Dụng cụ hỗ trợ đường thở cơ bản: Airway miệng họng (OPA)
- Dụng cụ hỗ trợ đường thở cơ bản: Airway mũi họng (NPA)
- Hút đàm
- Sử dụng đo capnography dạng sóng với bóng-mặt nạ
- Đo SpO₂
- Hỗ trợ thở với đường thở nâng cao
- Lưu ý với bệnh nhân chấn thương
TỔNG QUAN
Thuốc cho ngừng hô hấp
HÔ HẤP BÌNH THƯỜNG VÀ BẤT THƯỜNG
XÁC ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ HÔ HẤP THEO MỨC ĐỘ NGHIÊM TRỌNG
Nguy kịch hô hấp (Respiratory Distress)
- Thở nhanh
- Tăng nỗ lực hô hấp (ví dụ: cánh mũi phập phồng, co kéo)
- Nỗ lực hô hấp không đủ (ví dụ: giảm thông khí hoặc thở chậm)
- Âm thanh bất thường của đường thở (ví dụ: khò khè (stridor), thở rít (wheezing), thở rên rỉ (grunting))
- Nhịp tim nhanh
- Da tái, lạnh (tuy nhiên, một số nguyên nhân gây nguy kịch hô hấp, như nhiễm trùng huyết (sepsis), có thể khiến da ấm, đỏ và đỗ mồ hôi)
- Thay đổi mức độ ý thức/kích động
- Sử dụng cơ bụng để giúp thở
Suy hô hấp (Respiratory Failure)
- Thở nhanh rõ rệt
- Thở chậm, ngưng thở
- Không có nỗ lực hô hấp
- Lưu lượng khí ở phổi ngoại vi (rì rào phế nang) kém hoặc không có
- Nhịp tim nhanh (giai đoạn sớm); nhịp tim chậm (giai đoạn muộn)
- Xanh tím/ Tím tái (Cyanosis)
- Lơ mơ, hôn mê (giai đoạn muộn)
Ngừng hô hấp (Respiratory Arrest)
- Làm tăng áp lực trong lồng ngực
- Giảm hồi lưu tĩnh mạch về tim
- Làm giảm cung lượng tim và khả năng sống sót
- Có thể gây co mạch não, làm giảm lưu lượng máu đến não
ĐÁNH GIÁ BLS (BLS ASSESSMENT)
Đánh giá và đánh giá lại bệnh nhân
- Kiểm tra phản ứng của bệnh nhân
- Gọi thêm người hỗ trợ
- Đánh giá theo các chữ ABC ( Airway – Đường thở, Breathing – Hô hấp, Circulation – Tuần hoàn)
Kiểm tra thông khí và mạch
Kiểm tra mạch mỗi 2 phút; dành khoảng 5 đến 10 giây để kiểm tra. Nếu không có mạch, bắt đầu ép tim (CPR).
ĐÁNH GIÁ SƠ CẤP(PRIMARY ASSESSMENT)
Quản lý đường thở trong ngừng hô hấp
XỬ TRÍ NGỪNG HÔ HẤP
- Cung cấp oxy bổ sung
- Mở đường thở
- Thực hiện thông khí cơ bản
- Sử dụng các thiết bị hỗ trợ đường thở cơ bản (đường thở miệng họng (Oropharyngeal airway - OPA) và đường thở mũi họng (Nasopharyngeal airway - NPA))
- Hút dịch đường thở
CUNG CẤP OXY BỔ SUNG
Xem Tài liệu học viên ACLS để biết chi tiết về việc sử dụng oxy cho bệnh nhân không trong tình trạng ngừng hô hấp hoặc ngừng tim.
MỞ ĐƯỜNG THỞ
Các nguyên nhân phổ biến gây tắc nghẽn đường thở
Tắc nghẽn đường thở do lưỡi và nắp thanh môn. Khi bệnh nhân không phản ứng, lưỡi có thể gây tắc nghẽn đường thở. Kỹ thuật ngửa đầu–nâng cằm giúp giải phóng tắc nghẽn ở bệnh nhân không phản ứng.
Kỹ thuật mở đường thở cơ bản
Quản lý đường thở
CUNG CẤP THÔNG KHÍ CƠ BẢN
- Kỹ thuật ngửa đầu–nâng cằm
- Kỹ thuật đẩy hàm không kèm duỗi đầu (trong trường hợp nghi ngờ chấn thương cột sống cổ)
- Thông khí (Thổi ngạt) miệng–miệng
- Thông khí (Thổi ngạt) miệng–mũi
- Thông khí (Thổi ngạt) qua thiết bị chắn (sử dụng mặt nạ bỏ túi)
- Thông khí bằng bóp bóng – mặt nạ (bag-mask ventilation)
Thông khí Bóp Bóng–Mặt nạ (Bag-Mask)
- Sử dụng thiết bị bóp bóng–mặt nạ bởi 1 người cứu hộ (Hình 36): Người cứu hộ đứng phía đầu bệnh nhân, dùng ngón cái và ngón trỏ tạo thành hình chữ “C” ôm quanh phần trên của mặt nạ, đồng thời dùng ngón giữa, áp út và út tạo thành hình chữ “E” để nâng hàm dưới. Đây được gọi là kỹ thuật kẹp E–C.
- Sử dụng thiết bị bóp bóng–mặt nạ bởi 2 người cứu hộ (Hình 37): 2 người cứu hộ đã được huấn luyện và có kinh nghiệm sẽ thực hiện thông khí bằng bóp bóng–mặt nạ thuận lợi hơn. Người thứ nhất đứng ở đầu bệnh nhân, nghiêng đầu bệnh nhân và áp kín mặt nạ lên mặt, dùng ngón cái và ngón trỏ của cả hai tay tạo hình chữ “C” để ép mặt nạ kín quanh mặt. Ba ngón còn lại của mỗi tay tạo thành hình “E” để nâng hàm dưới (giữ đường thở thông thoáng). Người cứu hộ thứ hai bóp bóng từ từ (trong 1 giây) cho đến khi thấy lồng ngực nâng lên. Cả hai người đều phải theo dõi sự nâng lên của lồng ngực.
- Van một chiều để ngăn bệnh nhân hít lại khí đã thở ra
- Cổng oxy để cung cấp oxy bổ sung
- Cổng thuốc để đưa thuốc dạng lỏng hoặc thuốc khác
- Cổng hút để làm sạch đường thở
- Cổng đo CO₂ cuối thì thở ra (ETCO₂) dạng sóng định lượng
Tham khảo thêm phần Tài liệu Học viên ACLS để biết thêm chi tiết về thông khí bằng Bóp bóp–mặt nạ.
THIẾT BỊ ĐƯỜNG THỞ BỔ SUNG: OPA (ĐƯỜNG THỞ MIỆNG HỌNG)
- Bệnh nhân có nguy cơ tắc nghẽn đường thở do lưỡi hoặc do các cơ vùng đường thở trên bị giãn
- Bệnh nhân bất tỉnh khi các can thiệp khác (ví dụ: ngửa đầu–nâng cằm hoặc đẩy hàm) không thể duy trì đường thở thông thoáng
- Hỗ trợ hút dịch vùng miệng và họng ở bệnh nhân đã được đặt nội khí quản
- Ngăn bệnh nhân cắn và gây tắc ống nội khí quản (ET)
Kỹ thuật đặt OPA
- Làm sạch miệng và họng khỏi dịch tiết, máu hoặc nôn bằng ống hút họng cứng nếu có thể.
- Chọn kích thước phù hợp của đường thở miệng họng (OPA) và đặt vào cạnh bên mặt (Hình 38B). Khi flange (phần viền – mặt bích) của OPA ở tại góc miệng, đầu ống sẽ nằm ở góc của xương hàm dưới. Chèn OPA sao cho thiết bị uốn cong lên phía vòm miệng cứng khi đi vào miệng.
- Khi OPA đi qua khoang miệng và tiến gần thành sau của họng, xoay thiết bị 180° vào vị trí chính xác (Hình 38C). Có thể chèn OPA ở góc 90° với miệng rồi sau đó xoay xuống phía sau họng khi tiến hành đưa thiết bị vào.
- OPA quá lớn có thể gây tắc nghẽn thanh quản hoặc gây chấn thương cho các cấu trúc thanh quản.
- OPA quá nhỏ hoặc chèn sai cách có thể đẩy phần dưới của lưỡi về phía sau và gây tắc nghẽn đường thở.
- Chèn OPA cẩn thận để tránh gây chấn thương mô mềm cho môi và lưỡi.
- Chỉ sử dụng OPA cho bệnh nhân không phản ứng và không có phản xạ ho hoặc phản xạ nôn. Nếu bệnh nhân có phản xạ ho hoặc phản xạ nôn, OPA có thể kích thích nôn và co thắt thanh quản.
THIẾT BỊ ĐƯỜNG THỞ BỔ SUNG: NPA (ĐƯỜNG THỞ MŨI HỌNG)
Đường thở mũi họng (NPA) được lựa chọn như một phương án thay thế cho đường thở miệng họng (OPA) ở những bệnh nhân cần một thiết bị hỗ trợ đường thở cơ bản. NPA là ống mềm, chế tạo từ cao su hoặc nhựa, không có vòng bít (Hình 39A). Thiết bị tạo một ống dẫn khí từ lỗ mũi đi vào vùng hầu họng.
Khác với OPA, NPA có thể được sử dụng cho bệnh nhân còn tỉnh táo, lơ mơ hoặc bất tỉnh, với điều kiện phản xạ ho và nôn vẫn còn nguyên vẹn. Cân nhắc dùng NPA khi việc đặt OPA bị khó khăn hoặc có nguy cơ về kỹ thuật, ví dụ: bệnh nhân có phản xạ nôn, hàm kẹt, chấn thương nặng vùng quanh miệng, hoặc hàm bị cố định. Ngoài ra, NPA cũng có thể áp dụng cho bệnh nhân suy yếu thần kinh, có trương lực hầu họng giảm hoặc phối hợp cơ kém gây tắc nghẽn đường thở trên.
Kỹ thuật đặt NPA
-
Chọn đúng kích thước đường thở mũi họng (NPA):
- So sánh chu vi ngoài của NPA với lỗ mũi của bệnh nhân. NPA không nên quá lớn đến mức gây trắng bệch kéo dài tại lỗ mũi. Có thể dùng đường kính của ngón tay út làm mốc để chọn kích thước phù hợp.
- Chiều dài NPA nên tương ứng với khoảng cách từ chóp mũi đến dái tai của bệnh nhân (Hình 39B).
- Bôi trơn đường thở (Airway) bằng chất bôi trơn tan trong nước hoặc gel gây tê.
-
Đưa đường thở (Airway) vào qua lỗ mũi theo hướng ra sau, vuông góc với mặt phẳng của khuôn mặt. Đẩy nhẹ nhàng dọc theo sàn của mũi họng (Hình 39C). Nếu gặp cản trở:
- Xoay nhẹ NPA để đưa vào theo góc đi qua ống mũi và mũi họng.
- Thử đưa vào qua lỗ mũi còn lại, do kích thước ống mũi giữa hai bên có thể khác nhau.
- Thường xuyên đánh giá lại và duy trì tư thế ngửa đầu bằng cách nâng cằm hoặc kéo hàm. Dịch nhầy, máu, chất nôn hoặc mô mềm vùng hầu họng có thể làm tắc nghẽn NPA do đường kính trong nhỏ. Vì vậy, cần thường xuyên đánh giá và hút sạch đường thở nếu cần để đảm bảo thông thoáng.
- Đưa đường thở vào nhẹ nhàng để hạn chế biến chứng. NPA có thể gây kích thích niêm mạc hoặc làm rách mô VA (adenoidal - amidan vòng họng), dẫn đến chảy máu và bệnh nhân có thể hít phải cục máu đông. Có thể cần hút để loại bỏ máu hoặc dịch tiết.
- Kích thước NPA không phù hợp có thể đi vào thực quản. Trong trường hợp thông khí tích cực bằng bóp bóng-mặt nạ, NPA nằm trong thực quản có thể gây căng phồng hơi dạ dày và làm giảm thông khí.
- NPA có thể gây co thắt thanh quản (laryngospasm) và nôn ói; dù vậy thường được dung nạp ở bệnh nhân bán tỉnh táo.
- Thận trọng ở bệnh nhân chấn thương vùng mặt do nguy cơ đặt sai vị trí vào khoang hộp sọ thông qua mảnh sàng (cribriform plate) bị gãy vỡ.
Khi dùng OPA hoặc NPA, cần lưu ý:
- Luôn kiểm tra hô hấp tự nhiên ngay sau khi đặt OPA hoặc NPA.
- Nếu bệnh nhân không tự thở hoặc thở không hiệu quả (không đầy đủ), tiến hành thông khí áp lực dương ngay bằng thiết bị phù hợp.
- Nếu không có sẵn OPA, NPA hoặc các thiết bị hỗ trợ khác, thực hiện thông khí bằng miệng qua thiết bị chắn (mouth-to-barrier device).
HÚT DỊCH (SUCTIONING)
Hút dịch là thao tác thiết yếu nhằm duy trì đường thở thông thoáng. Thiết bị hút bao gồm cả máy hút di động và máy hút gắn trên tường.
- Máy hút di động dễ vận chuyển nhưng có thể không cung cấp đủ lực hút cần thiết.
- Máy hút gắn trên tường cần đảm bảo cung cấp lưu lượng khí trên 40 L/phút tại đầu ống hút và lực hút đạt hơn −300 mmHg khi ống được kẹp hoàn toàn.
- Cần hút đường thở ngay lập tức khi bệnh nhân có nhiều dịch tiết, máu hoặc chất nôn.
Ống thông mềm so với ống thông cứng
Trong quá trình hút dịch, có thể sử dụng cả ống thông mềm lẫn ống thông cứng.
Sử dụng ống thông mềm (có trong bao bì vô trùng):
- Hút trong miệng hoặc mũi.
- Hút sâu trong ống nội khí quản (ET tube).
- Hút các dịch tiết loãng từ vùng miệng họng và mũi họng.
- Hút dịch trong khí quản.
- Hút qua đường thở đang đặt sẵn (ví dụ, đường thở mũi họng - NPA) nhằm tiếp cận vùng sau của họng ở bệnh nhân nghiến chặt răng.
Sử dụng ống thông cứng (ví dụ, Yankauer):
- Hút vùng miệng họng.
- Hút dịch tiết đặc và các mảnh chất rắn.
- Hút vùng miệng họng hiệu quả hơn.
Kỹ thuật hút dịch miệng họng
Thực hiện theo các bước sau để hút dịch vùng miệng họng:
- Đo chiều dài ống thông trước khi tiến hành hút.
- Nhẹ nhàng đưa ống thông hoặc dụng cụ hút vào vùng miệng họng, vượt qua lưỡi. Không đưa sâu hơn khoảng cách từ chóp mũi đến dái tai.
- Áp dụng lực hút bằng cách bịt lỗ bên của ống thông trong khi rút ra với động tác xoay tròn hoặc xoắn.
- Nếu dùng dụng cụ hút cứng, đặt đầu hút nhẹ nhàng vào khoang miệng. Tiến sâu vào vùng miệng họng bằng cách ấn lưỡi xuống khi cần.
- Giới hạn mỗi lần hút không quá 10 giây.
Kỹ thuật hút dịch qua ống nội khí quản
Trong trường hợp bệnh nhân có dịch tiết phổi, có thể cần hút dịch ngay cả sau khi đã đặt nội khí quản (ET). Các bước thực hiện hút dịch qua ống nội khí quản gồm:
- Sử dụng kỹ thuật vô khuẩn để giảm nguy cơ nhiễm bẩn đường thở.
- Nhẹ nhàng đưa ống thông vào trong ống nội khí quản, nhưng không đưa quá sâu vì có thể gây tổn thương niêm mạc ống hoặc kích thích ho/co thắt phế quản.
- Đảm bảo lỗ bên của ống thông mở (không bị bít - không tạo áp lực hút) trong khi đưa ống vào.
- Chỉ tạo áp lực hút khi rút ống ra, bằng cách bịt lỗ bên, kết hợp xoay tròn hoặc xoắn nhẹ.
- Không hút quá 10 giây cho mỗi lần hút. Để hạn chế thiếu oxy máu, nên cho thở oxy 100% trong thời gian ngắn trước và sau mỗi lần hút.
Trong suốt quá trình hút dịch, theo dõi tần số tim, mạch, độ bão hòa oxy (SpO2) và biểu hiện lâm sàng. Nếu ghi nhận nhịp tim chậm, SpO2 giảm hoặc tình trạng lâm sàng xấu đi, lập tức ngừng hút dịch. Cung cấp oxy dòng cao cho đến khi tần số tim và tình trạng lâm sàng trở lại bình thường; hỗ trợ thông khí nếu cần.
Sử dụng capnography dạng sóng định lượng (ETCO2) với thiết bị Bóp Bóng-Mặt nạ
Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ (AHA) khuyến cáo sử dụng capnography dạng sóng định lượng kết hợp với thiết bị bóp bóng-mặt nạ để xác nhận và theo dõi chất lượng CPR.
Ngoài việc dùng các thiết bị phản hồi để đánh giá chất lượng CPR, capnography dạng sóng định lượng còn hỗ trợ hiệu chỉnh chất lượng CPR theo thời gian thực.
ĐỘ BÃO HÒA OXY XUNG MẠCH (SPO2)
Độ bão hòa oxy có thể được theo dõi không xâm lấn thông qua máy đo độ bão hòa oxy xung mạch (pulse oximetry). Đây là phương tiện nhanh để đo và giám sát độ bão hòa oxy ngoại vi (SpO2), phản ánh lượng oxy trong máu.
Giá trị SpO2 bình thường nên nằm trong khoảng 95% đến 98%.
Cung cấp oxy bổ sung khi có chỉ định.
Trong ngừng tim, cung cấp oxy 100%.
Đối với các tình trạng lâm sàng khác, điều chỉnh cung cấp oxy nhằm đạt mức độ bão hòa oxy tương ứng:
- Hội chứng mạch vành cấp (ACS): 90%
- Đột quỵ: 95% đến 98%
- Chăm sóc sau ngừng tim: 92% đến 98%
CUNG CẤP THÔNG KHÍ VỚI ĐƯỜNG THỞ NÂNG CAO
Việc lựa chọn thiết bị đường thở nâng cao phụ thuộc vào mức độ đào tạo, phạm vi thực hành và trang thiết bị hiện có của Nhóm hiệu suất cao. Các thiết bị đường thở nâng cao bao gồm:
- Ống nội khí quản (ET tube)
- Ống thanh quản (Laryngeal tube)
- Đường thở Mặt nạ thanh quản (Laryngeal mask airway)
Khóa học này nhằm giúp người học làm quen với các loại đường thở nâng cao nêu trên, tuy nhiên không hướng dẫn kỹ thuật đặt. Trong quá trình thực hành, người học sẽ thực hiện thông khí khi đường thở nâng cao đã được đặt sẵn đồng thời phối hợp thông khí với ép tim.
Để sử dụng thành thạo các thiết bị đường thở nâng cao, cần bảo đảm đã được đào tạo ban đầu đầy đủ và có kinh nghiệm thực hành liên tục.
Người thực hiện đặt đường thở nâng cao cần tham gia quy trình cải tiến chất lượng liên tục (CQI) nhằm ghi nhận và giảm thiểu biến chứng.
Cảnh báo: Đường thở nâng cao- Một số bệnh nhân không thể được thông khí bằng đường thở mặt nạ thanh quản (Laryngeal mask airway), vì vậy cần chuẩn bị chiến lược thay thế, ví dụ thiết bị bóp bóng-mặt nạ (bag-mask device).
- Với bất kỳ thiết bị đường thở nâng cao nào, tần suất thông khí là 1 lần mỗi 6 giây ở bệnh nhân ngừng hô hấp hoặc ngừng tim.
- Không khuyến cáo sử dụng việc ấn (tạo áp lực) sụn nhẫn (cricoid pressure) thường quy trong ngừng tim. Mặc dù ấn sụn nhẫn có thể bảo vệ đường thở giúp ngăn chặn hít sặc và chướng hơi dạ dày khi thông khí bằng bóp bóng-mặt nạ ở bệnh nhân không ngừng tim, nhưng cũng có thể cản trở thông khí và gây khó khăn cho việc đặt ống hoặc thiết bị đường thở trên thanh môn.
Tài liệu học viên ACLS cung cấp thông tin thêm về tất cả các loại đường thở nâng cao nêu trên.
Ống nội khí quản (Endotracheal Tube)
Nếu hỗ trợ trong quá trình đặt ống nội khí quản (ET), cần tuân thủ các bước cơ bản sau:
- Chuẩn bị đặt ống nội khí quản bằng cách tập hợp đầy đủ các thiết bị cần thiết.
- Thực hiện đặt ống nội khí quản (xem Tài liệu học viên ACLS).
- Bơm bóng chèn (Cuff) hoặc các bóng chèn trên ống.
- Gắn bóp bóp (Bag) thông khí.
- Xác nhận vị trí đúng của ống ET bằng khám lâm sàng và sử dụng thiết bị xác nhận.
- Theo dõi capnography (thán đồ) dạng sóng liên tục (waveform capnography) được khuyến cáo (ngoài đánh giá lâm sàng) là phương pháp đáng tin cậy nhất để xác nhận và theo dõi vị trí đúng của ống nội khí quản. Tuy nhiên, nếu không có capnography dạng sóng, có thể sử dụng máy dò CO₂ dạng màu (colorimetric) hoặc máy dò CO₂ không có dạng sóng (nonwaveform detectors).
- Cố định ống ET tại chỗ và theo dõi nguy cơ lệch vị trí ống.
Sử dụng từ viết tắt DOPE để hỗ trợ xử trí sự cố:
- D isplacement – Lệch vị trí ống
- O bstruction – Tắc nghẽn
- P neumothorax – Tràn khí màng phổi
- E quipment failure – Thiết bị hỏng hóc
Ống thanh quản (Laryngeal Tube)
Ưu điểm của ống thanh quản (laryngeal tube) tương tự như ống thực quản–khí quản (esophageal-tracheal tube). Tuy nhiên, ống thanh quản gọn hơn và ít phức tạp hơn khi đặt.
Nếu đã được đào tạo sử dụng ống thanh quản, có thể cân nhắc sử dụng như một phương án thay thế cho thông khí bằng bóp bóng–mặt nạ (bag-mask ventilation) hoặc đặt ống nội khí quản (ET intubation) để quản lý đường thở trong trường hợp ngừng tim.
Đường thở mặt nạ thanh quản (Laryngeal Mask Airway)
Đường thở Mặt nạ thanh quản (laryngeal mask airway) là một thiết bị đường thở nâng cao, thay thế cho đặt ống nội khí quản (ET intubation) và cung cấp khả năng thông khí tương đương trong quản lý đường thở ở bệnh nhân ngừng tim.
CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG NGỪA ĐỐI VỚI BỆNH NHÂN CHẤN THƯƠNG
Khi hỗ trợ thông khí cho bệnh nhân nghi ngờ hoặc đã chẩn đoán chấn thương cột sống cổ, cần tránh mọi di chuyển đầu, cổ hoặc cột sống. Các chuyển động này có thể gây tổn thương tủy sống không thể hồi phục hoặc làm nặng thêm chấn thương tủy sống nhẹ.
Khoảng 2% bệnh nhân chấn thương kín đủ nghiêm trọng để phải chụp hình (chẩn đoán hình ảnh) cột sống tại khoa cấp cứu (ED) có tổn thương cột sống, và nguy cơ này tăng gấp ba lần nếu bệnh nhân có chấn thương đầu hoặc mặt. Do đó, cần giả định rằng bất kỳ bệnh nhân nào bị đa chấn thương, chấn thương đầu hoặc chấn thương mặt đều có thể có tổn thương cột sống; đặc biệt thận trọng khi nghi ngờ chấn thương cột sống cổ (ví dụ: tai nạn tốc độ cao, ngã từ trên cao, hoặc chấn thương khi lặn).
- Mở đường thở bằng kỹ thuật đẩy hàm (jaw thrust) mà không duỗi (ngửa) đầu ra sau. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng duy trì đường thở thông thoáng và bảo đảm thông khí đầy đủ là ưu tiên hàng đầu; vì vậy, có thể áp dụng kỹ thuật ngửa đầu–nâng cằm nếu đẩy hàm không hiệu quả.
- Yêu cầu một thành viên khác giữ cố định đầu bệnh nhân ở tư thế trung tính trong khi tiến hành thao tác đường thở. Hạn chế cử động cột sống bằng tay thay vì sử dụng các thiết bị cố định. Bất động cột sống bằng tay an toàn hơn, vì nẹp cổ có thể làm phức tạp (gây khó khăn) cho quản lý đường thở hoặc thậm chí can thiệp vào sự thông thoáng của đường thở (làm hẹp đường thở).
Các thiết bị bất động cột sống có ích trong quá trình vận chuyển.
Tài liệu tham khảo
- Respiratory Arrest. Part 3: High-Performance Teams. ACLS 2020