GIỚI THIỆU
- Tổng quan
- Mô tả PEA
- Tiếp cận Vô tâm thu(Asystole)
- Xử trí Vô tâm thu/PEA: Lưu đồ ngừng tim ở người lớn
- Bệnh nhân với chỉ định không cố gắng hồi sức(DNAR)
- Chấm dứt những nổ lực hồi sức
TỔNG QUAN
Ở Đánh giá sơ cấp(Primary Assessment), Trưởng nhóm(Team Leader) xác định Hoạt động điện vô mạch(PEA) hoặc Vô tâm thu (asystole) và triển khai các can thiệp phù hợp theo Lưu đồ Ngừng tim ở Người lớn.
Do việc phát hiện và sửa chữa nguyên nhân nền/tổn thương căn bản của PEA hoặc Asystole – nếu có và đã xác định – là yếu tố cốt lõi quyết định kết cục của bệnh nhân, Trưởng nhóm đồng thời nêu chẩn đoán phân biệt trong quá trình dẫn dắt nhóm hiệu suất cao tìm kiếm và điều trị các nguyên nhân có thể đảo ngược.
Các nhịp trong PEA (hoạt động điện vô mạch)
- Tần số – quá nhanh hoặc quá chậm
- Độ rộng của phức bộ QRS – rộng so với hẹp
Nhịp vô tâm thu - Asystole (Không có nhịp)
Các thuốc dùng trong PEA và Asystole
- Epinephrine
- Các thuốc khác, tùy thuộc vào nguyên nhân gây ngừng tim do PEA và vô tâm thu
MÔ TẢ PEA
Nhịp có tổ chức có thể có phức bộ QRS hẹp hoặc rộng; có thể xảy ra với tần số nhanh hoặc chậm; và có thể đều hoặc không đều.
Bất kỳ nhịp có tổ chức nào không kèm theo mạch đập đều được quy về PEA. Điều này bao gồm nhịp xoang, rung nhĩ hoặc cuồng nhĩ, block nhánh bó, và nhịp tự thất hoặc nhịp thoát thất,..v.v. Tim không bơm đủ máu để duy trì tưới máu mạch vành, vì vậy phương pháp tiếp cận điều trị chính tập trung vào xử trí nguyên nhân căn bản gây ngừng tuần hoàn thay vì chuyển sang một nhịp tim khác.
Những nhịp vô mạch bị loại trừ khỏi định nghĩa này gồm Rung thất (VF) và Nhịp nhanh thất vô mạch (pVT), là các nhịp đáp ứng tốt nhất với liệu pháp sốc điện ngay lập tức, và Vô tâm thu (asystole), mặc dù được điều trị tương tự như PEA nhưng bị loại trừ theo định nghĩa.
Chẩn đoán phân biệt trong PEA
PEA cũng bao gồm một số tình huống khác, trong đó thất trái bị rỗng do tiền gánh không đầy đủ. Ở bối cảnh này, chức năng co bóp của tim vẫn còn nhưng thể tích trong buồng thất không đủ để tống máu ra ngoài. Điều này có thể xảy ra do mất thể tích tuần hoàn nghiêm trọng (giảm thể tích tuần hoàn) hoặc do giảm hồi lưu tĩnh mạch từ thuyên tắc phổi, chèn ép tim, hoặc tràn khí màng phổi áp lực.
Nếu CPR chất lượng cao tạo ra mạch rõ, chỉ số ETCO₂ hoặc huyết áp tương đối cao thì khả năng cao là thất trái đã đầy và nguyên nhân của PEA là thất trái co bóp kém. Ngược lại, nếu CPR chất lượng cao vẫn không tạo ra dấu hiệu của cung lượng tim tốt thì khả năng thất trái đang bị rỗng. Cách định hướng này giúp tập trung chẩn đoán phân biệt vào các nguyên nhân có xác suất xảy ra cao hơn khi cân nhắc các nguyên nhân theo các chữ H và T.
TIẾP CẬN VÔ TÂM THU(ASYSTOLE)
Cần xác nhận rằng đoạn đường đẳng điện quan sát trên màn hình thực sự là vô tâm thu bằng cách đảm bảo rằng:
- Không phải là một loại nhịp khác (ví dụ: rung thất[VF] sóng nhỏ) đang giả dạng đường đẳng điện
- Không phải là kết quả của nhiễu do dây điện tim bị ngắt kết nối hoặc do cài đặt sai chế độ dây (ví dụ: chế độ dây được đặt là miếng dán điện cực nhưng các miếng dán lại chưa được gắn lên bệnh nhân)
Vô tâm thu và các vấn đề kỹ thuật
Đối với bệnh nhân ngừng tim với Vô tâm thu, cần nhanh chóng loại trừ các nguyên nhân khác gây điện tâm đồ dạng đường đẳng điện (isoelectric ECG), chẳng hạn như: dây dẫn lỏng hoặc chưa kết nối với bệnh nhân hoặc máy khử rung/máy theo dõi; thiết bị không có nguồn điện; hoặc biên độ tín hiệu quá thấp.
Vô tâm thu như một điểm kết thúc
Nỗ lực hồi sức kéo dài là không cần thiết và vô ích, ngoại trừ khi có tình huống hồi sức đặc biệt, chẳng hạn như hạ thân nhiệt hoặc quá liều thuốc. Cân nhắc ngừng hồi sức nếu ETCO₂ dưới 10 mm Hg sau 20 phút CPR và đã xử trí tất cả các nguyên nhân có thể đảo ngược của ngừng tim.
Vô tâm thu: Một nhịp hấp hối ?
- Nhịp tim cuối cùng trong một nỗ lực hồi sức khởi đầu từ một nhịp khác
- Nhịp tim đầu tiên được ghi nhận ở bệnh nhân ngừng tim không được chứng kiến hoặc ngừng tim kéo dài
Vô tâm thu dai dẳng phản ánh thiếu máu cục bộ cơ tim lan rộng và tổn thương do tình trạng tưới máu mạch vành không đầy đủ kéo dài. Tiên lượng rất xấu trừ khi có tình huống hồi sức đặc biệt hoặc nguyên nhân có thể đảo ngược xảy ra ngay lập tức.
XỬ TRÍ VÔ TÂM THU/PEA: LƯU ĐỒNG NGỪNG TIM Ở NGƯỜI LỚN
Một kết cục hồi sức tốt với tái lập nhịp tim có tưới máu (khả năng bơm máu) và tự thở đòi hỏi nhóm hiệu suất cao phải thực hiện CPR hiệu quả, đồng thời nhận định và điều chỉnh nguyên nhân gây PEA (nếu có).
Con đường Vô tâm thu/PEA trong lưu đồ ngừng tim
- Bắt đầu CPR (Bước 1)
- Cung cấp oxy.
- Gắn máy theo dõi/khử rung.
Xử trí Vô tâm thu/PEA
- Về mặt thời gian, trong ngừng tim với nhịp không sốc điện được, tiêm epinephrine càng sớm càng phù hợp.
- Epinephrine 1 mg IV/IO — lặp lại mỗi 3 đến 5 phút, hoặc mỗi 4 phút như mức trung bình (tức là mỗi lần kiểm tra nhịp tim khác nhau).
Thực hiện kiểm tra nhịp tim
Nhịp tim không thể sốc điện (Nonshockable Rhythm)
- Nếu không có hoạt động điện tim (vô tâm thu), hãy lặp lại trình tự xử trí.
- Nếu có hoạt động điện tim có tổ chức, hãy cố gắng bắt mạch. Dành ít nhất 5 giây nhưng không quá 10 giây để kiểm tra mạch.
- Nếu không có mạch, hoặc nghi ngờ không có mạch, hãy ngay lập tức tiếp tục ép tim trong 2 phút, bắt đầu bằng ép tim, rồi lặp lại trình tự xử trí.
- Nếu có mạch và nhịp có tổ chức, bắt đầu chăm sóc sau ngừng tim.
- Tùy vào tình trạng của bệnh nhân và thời gian đã thực hiện CPR, cân nhắc mức độ phù hợp của việc tiếp tục hay ngừng hồi sức.
Điểm quyết định: Nhịp có thể sốc điện
- Nếu kiểm tra nhịp cho thấy nhịp có thể sốc điện, tiếp tục CPR với ép tim trong khi máy khử rung đang sạc.
- Chuyển sang trình tự xử trí VF/pVT trong lưu đồ, bắt đầu từ Bước 5 hoặc Bước 7.
Trình tự điều trị Vô tâm thu/PEA
Nhận định và điều chỉnh các nguyên nhân căn bản
Khi nào nghi ngờ
BỆNH NHÂN VỚI CHỈ THỊ KHÔNG CỐ GẮNG HỒI SỨC (DNAR)
- Cứng cơ tử vong/Co cứng tử thi (rigor mortis)
- Các chỉ thị về tình trạng không cố gắng hồi sức (DNAR) (ví dụ, vòng tay, vòng chân, tài liệu viết tay)
- Mối đe dọa đến sự an toàn của nhân viên y tế
CHẤM DỨT NHỮNG NỔ LỰC HỒI SỨC
Trong bệnh viện (In-Hospital) — Chấm dứt các nỗ lực hồi sức
- Thời gian từ khi bệnh nhân ngã quỵ (collapse) đến khi bắt đầu CPR
- Thời gian từ khi bệnh nhân ngã quỵ đến lần sốc điện đầu tiên
- Các bệnh lý kèm theo
- Tình trạng trước khi ngừng tim
- Nhịp tim ban đầu khi ngừng tim
- Đáp ứng với các biện pháp hồi sức
- ETCO2 dưới 10 mmHg sau 20 phút thực hiện CPR chất lượng cao
Ngoài bệnh viện (Out-of-Hospital) — Chấm dứt các nỗ lực hồi sức
- Khôi phục tuần hoàn và thông khí tự nhiên hiệu quả
- Chuyển giao chăm sóc cho một chuyên gia y tế cấp cứu cao cấp
- Các tiêu chí đáng tin cậy cho thấy tử vong không thể đảo ngược
- Sự kiệt sức hoặc các mối nguy hiểm từ môi trường ngăn cản nhân viên y tế tiếp tục
- Việc tiếp tục hồi sức đặt mạng sống của những người khác vào tình huống nguy hiểm
- Có chỉ thị DNAR hợp lệ
- Có sự ủy quyền trực tuyến từ bác sĩ kiểm soát y tế hoặc có sẵn phác đồ y tế trước đó để chấm dứt hồi sức
Thời gian nỗ lực hồi sức
Cân nhắc đạo đức
Vận chuyển bệnh nhân bị ngừng tim
Tài liệu tham khảo
- Cardiac Arrest: PEA and Asystole. Part 3: High-Performance Teams. ACLS 2020