FCCS: Quản lý rối loạn điện giải và chuyển hóa đe dọa tính mạng

Post key: 458bc1c3-0483-5396-ae95-43f50534ef70
Slug: fccs-quan-ly-roi-loan-dien-giai-va-chuyen-hoa-de-doa-tinh-mang
Excerpt: Hướng dẫn hồi sức: Rối loạn điện giải và chuyển hóa thường gặp ở bệnh nhân nặng hoặc chấn thương, có thể gây rối loạn chức năng sinh lý và tăng nguy cơ tử vong. Tài liệu tóm tắt các nhóm chính (Kali, Natri, Canxi, Magie, Phosphat, Glucose) kèm tiêu chuẩn nhận biết hạ/tăng và các biểu hiện lâm sàng quan trọng (nhất là trên điện tâm đồ và thần kinh cơ), đồng thời nêu định hướng đánh giá nguyên nhân và các chiến lược điều chỉnh cấp cứu, theo dõi sát trong quá trình can thiệp. Nội dung cũng bao gồm: suy thượng thận cấp và các tình huống tăng đường huyết khẩn (DKA/HHS/đái tháo đường nặng), với mục tiêu điều trị, theo dõi glucose–điện giải–bổ sung kali, và những lưu ý về tốc độ bù dịch/natri để giảm nguy cơ biến chứng thần kinh.
Recognized tags: icu, khan-cap, danh-cho-sinh-vien, dieu-tri, theo-doi, ca-lam-sang, bo-y-te

GIỚI THIỆU

Rối loạn điện giải và chuyển hóa là tình trạng thường gặp ở bệnh nhân nặng hoặc bị chấn thương. Các bất thường này có thể làm thay đổi chức năng sinh lý và góp phần làm tăng tỷ lệ bệnh tật cũng như tử vong.
Rối loạn điện giải
Các rối loạn điện giải và chuyển hóa đe dọa tính mạng thường gặp nhất ở bệnh nhân nặng là các rối loạn liên quan đến nồng độ Kali, Natri, Canxi, Magiê, Phosphat và Glucose. Việc nhận biết sớm và can thiệp điều trị kịp thời các bất thường này giúp giảm nguy cơ xuất hiện các biến chứng đe dọa tính mạng và cải thiện kết cục lâm sàng.

Mục tiêu của chủ đề này:
  1. Tìm hiểu về quản lý cứu rối loạn điện giải nghiêm trọng
  2. Nhận biết các biểu hiện của suy thượng thận cấp và bắt đầu điều trị thích hợp
  3. Mô tả cách quản lý các hội chứng tăng đường máu nghiêm trọng
Ca lâm sàng: Một người đàn ông 65 tuổi được con trai đưa vào khoa cấp cứu do tình trạng ý thức thay đổi. Con trai khai rằng bệnh nhân có biểu hiện yếu cơ tăng dần trong 3 ngày qua. Đồng thời, bệnh nhân có nhiều đợt tiêu chảy không lẫn máu và giảm cảm giác thèm ăn. Bệnh sử bổ sung cho thấy người con trai cho biết gia đình chưa lắp đặt máy điều hòa không khí trong phòng bệnh nhân ở nhà dù đang trong mùa hè. Bệnh nhân không thể cung cấp thêm thông tin do lú lẫn. Các dấu hiệu sinh tồn ban đầu ghi nhận: huyết áp 104/66 mm Hg, nhịp tim 111 nhịp/phút, nhịp thở 18 nhịp/phút, độ bão hòa oxy SpO2 99% khi thở khí trong phòng và nhiệt độ 36,9°C (98,4°F). Thăm khám cho thấy một người đàn ông da trắng tỉnh táo nhưng mất định hướng về địa điểm, thời gian hoặc con người. Bệnh nhân có biểu hiện mất nước trên lâm sàng với niêm mạc khô và độ đàn hồi da kém khi bị véo da (nếp véo da mất rất chậm > 2 giây). Điện tâm đồ ghi nhận ngoại tâm thu thất thường xuyên.
  • Bệnh nhân này có những yếu tố nguy cơ nào gây rối loạn điện giải?
  • Những bất thường về điện giải nào có thể góp phần vào biểu hiện của ông ấy?
  • Bạn sẽ bắt đầu đánh giá và điều trị bệnh nhân này như thế nào?

RỐI LOẠN ĐIỆN GIẢI

Rối loạn điện giải là hậu quả của bệnh lý nền hoặc có thể do can thiệp/thuốc của thầy thuốc gây ra. Mục tiêu lâm sàng là xác định nguyên nhân của bất thường điện giải đồng thời điều chỉnh trực tiếp các thay đổi điện giải. Nhiều biểu hiện không đặc hiệu cho một rối loạn điện giải đơn lẻ và có thể phản ánh đồng thời nhiều bất thường. Mức độ khẩn cấp của can thiệp phụ thuộc vào bối cảnh lâm sàng, không chỉ dựa trên nồng độ tuyệt đối. Tất cả bất thường điện giải nghiêm trọng đều cần được theo dõi và tái đánh giá thường xuyên trong suốt quá trình điều chỉnh.

Kali

Kali là cation nội bào chủ yếu, đóng vai trò thiết yếu trong việc duy trì điện thế màng. Khoảng tham chiếu bình thường 3,5–5,0 mEq/L (3,5–5,0 mmol/L). Hầu hết kali (95–98%) nằm trong nội bào, phần còn lại hiện diện ở khoang ngoại bào. Kali góp phần quan trọng trong việc bảo đảm chức năng tế bào của nhiều mô chịu ảnh hưởng bởi kali. Các biến đổi cation này chủ yếu tác động lên hệ tim mạch, thần kinh cơ và hệ tiêu hóa.

Hạ kali máu

Hạ kali máu là rối loạn thường gặp, được xác định khi nồng độ kali < 3,5 mEq/L (< 3,5 mmol/L). Nguyên nhân thường do mất kali qua thận hoặc ngoài thận, dịch chuyển kali vào trong tế bào và/hoặc giảm lượng đưa vào, tương ứng với Bảng 1. Hạ kali máu đe dọa tính mạng chủ yếu liên quan đến hệ tim mạch và thần kinh cơ. Rối loạn nhịp tim (bao gồm tại thất và trên thất), dẫn truyền bị trì hoãn, nhịp tim chậm xoang; các bất thường trên điện tâm đồ (ECG) như sóng U, khoảng QT kéo dài, sóng T phẳng hoặc đảo ngược; yếu cơ hoặc liệt, dị cảm; tắc ruột, đau bụng, buồn nôn và nôn là các biểu hiện thường gặp.
Bảng 1. Nguyên nhân hạ kali máu
Dịch chuyển vào trong tế bào Mất qua thận
  • Nhiễm kiềm cấp
  • Tăng thông khí
  • Insulin
  • Đồng vận β-Adrenergic
  • Lợi tiểu
  • Kiềm chuyển hóa
  • Bệnh ống thận(toan hóa ống thận type 1 , type 2)
  • Đái tháo đường nhiễm toan ketone
  • Thuốc (lợi tiểu, aminoglycoside, amphotericin B)
  • Hạ Magie máu
  • Nôn ói
  • Cường Aldosteron
  • Hội chứng Cushing
Mất ngoài thận Giảm đưa vào
  • Tiêu chảy
  • Đổ mồ hôi nhiều
  • Hút dịch dạ dày qua sonde mũi dạ dày
  • Suy dinh dưỡng
  • Nghiện rượu
Điều trị hạ kali máu nhằm hiệu chỉnh nguyên nhân nền và bù kali ( Hình 1 ). Ngừng các thuốc gây hạ kali máu (nếu có thể), đồng thời chỉnh hạ magie máu và các rối loạn điện giải khác, cũng như điều chỉnh tình trạng nhiễm kiềm được hoàn tất như một phần của chiến lược điều trị. Do kali là ion chủ yếu nội bào, mức độ thiếu hụt ước tính không thể suy ra trực tiếp từ giá trị kali huyết thanh; vì vậy liều bù cần được cá thể hóa dựa trên đánh giá lại nồng độ kali trong huyết thanh. Khuyến cáo truyền kali 20 mEq (20 mmol) trong 100 mL dịch trong hơn 1 giờ, với các liều bổ sung được thực hiện tuần tự, nhằm giảm nguy cơ biến chứng khi dùng dung dịch đậm đặc hơn. Nồng độ này cần được truyền qua đường truyền trung tâm; tuy nhiên có thể truyền các dung dịch loãng hơn ở ngoại vi. Tốc độ truyền có thể giảm sau khi đã xử trí các triệu chứng đe dọa tính mạng. Nồng độ và tốc độ truyền có thể thay đổi tùy quy trình của cơ sở y tế. Cần theo dõi nồng độ kali huyết thanh thường xuyên trong thời gian bù đầy đủ (tức mỗi 3-4 giờ trong giai đoạn bổ sung ban đầu). Trong trường hợp có toan máu, cần ưu tiên điều chỉnh nồng độ kali trước khi hiệu chỉnh pH vì kali sẽ dịch chuyển vào nội bào khi pH tăng.

Luôn cân nhắc khả năng tồn tại hạ magie máu khi có hạ kali máu đáng kể.

Hình 1. Điều trị Hạ kali máu

Tăng kali máu

Tăng kali máu (nồng độ kali > 5 mEq/L (> 5 mmol/L)) thường gặp trong môi trường hồi sức tích cực; nguyên nhân thường nhất là rối loạn chức năng thận hoặc bù kali quá mức. Các nguyên nhân khác được trình bày trong Bảng 2. Giả tăng kali máu có thể do số lượng bạch cầu > 100.000/mm3, số lượng tiểu cầu > 600.000/mm3, hoặc tán huyết sau kỹ thuật lấy máu tĩnh mạch. Giả tăng kali máu là khả năng cần loại trừ nhằm tránh can thiệp không phù hợp; đặc biệt khi mức kali đo được không tương ứng với xu hướng trước đó mà không có quá trình bệnh rõ ràng để giải thích tình trạng tăng cao.
Bảng 2. Nguyên nhân tăng kali máu
  1. Rối loạn chức năng thận
  2. Toan máu
  3. Giảm aldosteron
  4. Thuốc (ví dụ: thuốc lợi tiểu giữ kali, thuốc ức chế men chuyển angiotensin, succinylcholine, thuốc kháng viêm non-steroid[NSAIDs], trimethoprim-sulfamethoxazole)
  5. Chết tế bào (Tiêu cơ vân, Ly giải khối u, Bỏng, Tán huyết)
  6. Đưa kali vào quá nhiều
Khi đánh giá bệnh nhân tăng kali máu, việc khai thác bệnh sử, thăm khám thực thể đầy đủ và đối chiếu chính xác điều trị bằng thuốc đang dùng của bệnh nhân là bước then chốt. Biểu hiện lâm sàng của tăng kali máu chủ yếu liên quan đến tim và hệ cơ ( Hình 2 ). Rối loạn nhịp tim, block tim, nhịp tim chậm, giảm dẫn truyền và co bóp; các bất thường trên ECG như sóng T đạt đỉnh[cao nhọn] lan tràn, khoảng PR kéo dài, QRS giãn rộng, sóng P giảm, sóng dạng hình sin; yếu cơ, liệt cơ, dị cảm và giảm phản xạ là các biểu hiện thường gặp.
Hình 2. Ảnh hưởng lên ECG của Tăng kali máu. Hình A: Sóng T cao nhọn và phức bộ QRS rộng. Hình B. sóng dạng hình Sin.

Tăng kali máu kèm các thay đổi đáng kể trên ECG, chẳng hạn như QRS giãn rộng và sóng hình sin, cần được điều trị ngay lập tức.

Điều trị tăng kali máu bao gồm nhận biết và xử trí bệnh tiềm ẩn, ngừng các thuốc làm tăng kali, hạn chế lượng kali đưa vào, và điều chỉnh các bất thường về toan máu hoặc điện giải. Mọi mức kali huyết thanh > 6 mEq/L (6 mmol/L) đều cần được xử trí; tuy nhiên mức độ khẩn cấp phụ thuộc vào biểu hiện lâm sàng và kết quả ECG. Các lựa chọn điều trị tăng kali máu được tóm tắt trong Bảng 3. Nên tiến hành xét nghiệm kali huyết thanh tuần tự định kỳ(serial), theo dõi liên tục trên monitor tim và đo ECG theo chu kỳ trong suốt quá trình đánh giá và điều trị.
Bảng 3. Các lựa chọn đối với điều trị tăng kali máu
Nếu có bất thường đáng kể về điện tâm đồ(ECG)
  • Dùng canxi clorua 5-10 ml dung dịch 10%, tiêm tĩnh mạch trong 5-10 phút để ổn định màng tế bào cơ tim và giảm nguy cơ rối loạn nhịp tim.
  • Nếu sử dụng canxi gluconate, cần 10-20 mL dung dịch 10% để điều trị vì hàm lượng canxi nguyên tố thấp hơn.
  • Hiệu quả chỉ kéo dài 30-60 phút và theo sau đó cần được điều trị bổ sung.
Để phân phối lại kali (chuyển dịch kali vào trong tế bào)
  1. Cho insulin và glucose (10 đơn vị insulin Regular với 50 g dextrose 50% trong 5-10 phút qua đường tĩnh mạch). Theo dõi glucose là cần thiết để tránh hạ đường huyết.
  2. Cho Natri bicarbonate (1 mmol/kg trong 5-10 phút qua đường tĩnh mạch). Hãy lưu ý đến khả năng quá tải natri. Natri bicarbonate kém hiệu quả hơn glucose và insulin trong việc giảm nồng độ kali ở bệnh nhân suy thận giai đoạn cuối.
  3. Dùng thuốc chủ vận β2 dạng hít với liều cao (albuterol [salbutamol] 10-20 mg), có thể làm giảm kali huyết thanh khoảng 0,5 mmol/L.
Để loại bỏ kali khỏi cơ thể
  • Tăng lượng nước tiểu bằng thuốc lợi tiểu quai (furosemide 1-2 mg/kg) và dịch đẳng trương.
  • Tăng mất kali qua đường tiêu hóa bằng natri polystyrene 25-50 g trong sorbitol, qua đường uống hoặc bằng thụt tháo. (Hãy lưu ý đến khả năng quá tải natri. Đây có thể không phải là lựa chọn tốt trong trường hợp bệnh nặng.).
  • Bắt đầu lọc thẩm tách máu (chạy thận nhân tạo).

Xem thêm: Tăng kali máu.

Natri

Rối loạn cân bằng natri và nước thường gặp ở bệnh nhân hồi sức. Suy đa cơ quan, liệu pháp truyền dịch và nhiều can thiệp khác trên bệnh nhân nhập ICU có thể can thiệp vào các cơ chế khác nhau, các cơ chế nhằm duy trì cân bằng nội môi natri và nước trong toàn bộ cơ thể. Natri là chất thẩm thấu chính trong dịch ngoại bào và quyết định thể tích ngoại bào; đồng thời natri là yếu tố chính quyết định độ thẩm thấu của máu và tham gia điều hòa thể tích ngoại bào. Những bất thường natri trong tuần hoàn chủ yếu ảnh hưởng chức năng thần kinh và thần kinh cơ.
Khi thảo luận về độ thẩm thấu và độ trương (tonicity: nhược/đẳng/ưu trương), độ thẩm thấu của dung dịch được xác định bởi số lượng chất hòa tan trên kilogam. Độ thẩm thấu huyết tương (huyết thanh) có thể được đo bằng kỹ thuật hạ băng điểm (phương pháp đo điểm đông - freezing point depression) hoặc tính toán theo công thức sau:
2 (Na) [mEq/L] + Glucose [mg/dL] /18 + BUN [mg/dL] /2,8
Giá trị bình thường: 275– 295 mOsm/kg H2O
Chênh lệch giữa độ thẩm thấu đo được và độ thẩm thấu tính toán < 10 mOsm/kg H2O. Nước di chuyển tự do giữa không gian nội bào và ngoại bào dựa trên độ chênh lệch (gradient) thẩm thấu với độ thẩm thấu của hai khoang gần như tương đương. Điều quan trọng là natri quyết định chủ yếu độ trương của huyết tương; độ trương là nồng độ tương đối các chất hòa tan trong dung dịch, quyết định hướng khuếch tán và mức độ khuếch tán.
Cơ chế khát và hormone chống bài niệu (ADH) kiểm soát chặt chẽ độ thẩm thấu. ADH kích thích tái hấp thu nước trong ống góp thận; tăng độ trương tạo kích thích khát và ADH. Do đó, rối loạn thẩm thấu phản ánh suy giảm cân bằng nội môi nước và các bất thường bệnh lý của những cơ chế này.

Hạ Natri máu

Theo định nghĩa, hạ natri máu là nồng độ natri huyết thanh dưới 135 mEq/L (135 mmol/L). Giả hạ natri máu, dạng giả của hạ natri máu do thẩm thấu bình thường, có thể xảy ra khi tăng lipid máu, tăng protein máu hoặc tăng đường huyết nặng, khi natri được đo bằng phương pháp quang kế ngọn lửa (Flame photometry). Độ thẩm thấu huyết thanh xác định tình trạng hạ natri thực sự. Giá trị độ thẩm thấu huyết thanh 280–295 mOsm/kg gợi ý giả hạ natri máu do tăng lipid máu hoặc tăng protein máu. Giá trị độ thẩm thấu huyết thanh lớn hơn 295 mOsm/kg cho thấy tăng đường huyết hoặc sử dụng mannitol là nguyên nhân dẫn đến natri huyết thanh thấp. Hạ natri máu thực sự được xác định khi độ thẩm thấu huyết thanh dưới 280 mOsm/kg.
Nếu loại trừ tăng đường huyết hoặc mannitol là nguồn gốc và xác định có hạ natri máu thực sự, cần đánh giá tình trạng thể tích của bệnh nhân. Biểu hiện lâm sàng cùng độ thẩm thấu nước tiểu và natri nước tiểu được sử dụng để xác định tình trạng thể tích. Phân suất bài tiết natri là chỉ số bổ sung có thể hỗ trợ xác định thể tích. Độ thẩm thấu nước tiểu < 100 mOsm/kg cho thấy nồng độ chất tan thấp do uống nước nhiều (khát nhiều) nguyên phát, lượng natri đưa vào thấp hoặc nghiện bia. Độ thẩm thấu nước tiểu > 100 mOsm/kg cho thấy rối loạn cân bằng natri/nước. Giảm thể tích máu, bình thể tích máu hoặc tăng thể tích máu được định hướng bởi chẩn đoán và biểu hiện lâm sàng. Cần hoàn tất việc xem xét hồ sơ điều trị thuốc để xác định bất kỳ thuốc nào có thể ảnh hưởng đến nhu cầu cân bằng natri-nước. Giá trị natri trong nước tiểu và phân suất bài tiết natri (FENa) giúp thu hẹp nguyên nhân hạ natri máu nhằm kiểm soát chính xác rối loạn và điều chỉnh nồng độ natri.
Hình 3. Tiếp cận chẩn đoán nguyên nhân hạ natri máu. FE Na phân suất bài tiết natri; SIADH hội chứng tiết hormone chống bài niệu(ADH) không thích hợp
Biểu hiện lâm sàng của hạ natri máu liên quan hệ thần kinh trung ương (CNS) và hệ cơ, bao gồm mất định hướng, suy giảm ý thức, cáu kỉnh (dễ bị kích thích), co giật, li bì, hôn mê, buồn nôn/nôn, suy yếu và ngừng hô hấp. Điều trị yêu cầu xác định loại hạ natri máu, điều trị bệnh nền, loại bỏ các thuốc ảnh hưởng và cải thiện nồng độ natri tuần hoàn. Hạ natri máu giảm thể tích thường đáp ứng với bù thể tích nội mạch (tức với nước muối sinh lý bình thường). Khi đã bù thể tích, sự giải phóng ADH sẽ bị ức chế phù hợp và thận bắt đầu bài tiết nước tự do. Hạ natri máu tăng thể tích thường ít nghiêm trọng và cải thiện khi xử trí thành công tình trạng căn bản.

Suy thượng thận cần được loại trừ ở bệnh nhân hạ natri máu với thể tích máu bình thường và giảm.

Hạ natri máu với thể tích máu bình thường gần như luôn là tình trạng thứ phát do tăng ADH. Chẩn đoán được hỗ trợ bằng việc xác định độ thẩm thấu nước tiểu trước khi điều trị (đặc biệt khi dùng thuốc lợi tiểu) để so sánh với độ thẩm thấu huyết thanh tính toán. Nếu hạ natri máu cấp tính hoặc bệnh nhân có triệu chứng, cần tăng nồng độ natri huyết thanh bằng cách hạn chế lượng nước tự do đưa vào, tăng độ thanh thải nước tự do bằng thuốc lợi tiểu quai và bổ sung thể tích nội mạch bằng nước muối sinh lý bình thường (154 mEq/L [154 mmol/ L]) hoặc dung dịch muối ưu trương 3% (513 mEq/L [513 mmol/L]).
Nước muối ưu trương chỉ định khi có triệu chứng nặng, chẳng hạn co giật, hôn mê hoặc sắp ngừng hô hấp. Mục tiêu điều trị trong tình huống này là loại bỏ nước tự do, không phải natri. Mức tăng natri huyết thanh cần được kiểm soát; dù tốc độ tăng chính xác còn gây tranh cãi, mức tăng natri huyết thanh nên giới hạn khoảng 6 đến 8 mmol/L trong 24 giờ đầu. Một lựa chọn là tăng tốc natri huyết thanh sớm trong giai đoạn xử trí khi có triệu chứng đe dọa tính mạng (như co giật), sau đó làm chậm tốc độ tăng sau khi đã giải quyết triệu chứng bằng chiến lược phù hợp để giảm thiểu nguy cơ tổn thương hủy myelin tiềm ẩn do điều chỉnh quá nhanh. Khi sử dụng nước muối ưu trương ở bệnh nhân có triệu chứng, nên truyền ban đầu natri clorid 1 mmol/kg (nước muối 3% chứa ~0,5 mmol/mL). Lượng tương tự có thể được lặp lại bằng liều tăng dần đến tối đa 3 đến 5 mmol/kg hoặc cho đến khi triệu chứng thuyên giảm. Ngoài ra, có thể ước tính mức thay đổi natri huyết thanh sau khi dùng 1 lít nước muối sinh lý 0,9% theo công thức sau:
  • Thay đổi Natri huyết thanh = (Natri dịch truyền – Natri huyết thanh) / (Tổng lượng nước cơ thể + 1)
  • Thay đổi Natri huyết thanh = [(Natri dịch truyền + Kali dịch truyền) – Natri huyết thanh) / (Tổng lượng nước cơ thể + 1)
  • Tổng lượng nước cơ thể = 0,6 × Trọng lượng (kg) đối với nam giới; 0,5 × Trọng lượng (kg) đối với nữ
Nồng độ natri khác nhau trong các dịch truyền được nêu trong Bảng 4. Các công thức nêu trên không tính đến việc tăng thêm lượng dịch khác (ví dụ qua ống cho ăn hoặc truyền thuốc liên tục) và lượng dịch mất đi (ví dụ nước tiểu), do đó chỉ đóng vai trò hướng dẫn can thiệp. Nồng độ natri huyết thanh cần được theo dõi thường xuyên trong quá trình điều trị hạ natri máu, ít nhất 6 giờ một lần. Khi natri huyết thanh lớn hơn 125 đến 130 mEq/L (125 đến 130 mmol/L), việc chỉ hạn chế nước tự do có thể làm natri trở về bình thường chậm hơn.

Không dùng thuốc đối kháng vasopressin ở bệnh nhân có triệu chứng thần kinh nặng và không dùng đồng thời với nước muối ưu trương.

Bàng 4. Nồng độ natri của dịch truyền được lựa chọn
Dịch truyền Nồng độ Natri (mmol/L)
NaCl 5% 855
NaCl 3% 513
NaCl 0.9% 154
Dung dịch Ringer lactate 130
NaCl 0.45% 77
Dextrose 5% trong nước 0
Việc điều chỉnh natri huyết thanh quá nhanh có thể gây tổn thương hệ thần kinh trung ương (hội chứng hủy myelin do thẩm thấu), đặc biệt ở bối cảnh hạ natri máu mạn tính. Hội chứng hủy myelin do thẩm thấu hiếm khi xảy ra ở bệnh nhân có natri huyết thanh lớn hơn 120 mEq/L (120 mmol/L). Các triệu chứng hủy myelin thường xuất hiện sau khi có cải thiện ban đầu về tinh thần. Trong vòng 1 đến 7 ngày sau khi hạ natri máu mạn tính được cải thiện nhanh chóng, bệnh nhân có thể phát triển khiếm khuyết vận động khu trú, suy hô hấp và tiến triển mất dần ý thức. Nhóm có nguy cơ cao nhất gồm suy dinh dưỡng, hạ kali máu, nghiện rượu, phụ nữ lớn tuổi và bệnh nhân bỏng. Nếu hạ natri máu là mạn tính và bệnh nhân không có triệu chứng, bất kể mức độ giảm natri, hạn chế nước tự do có thể đủ để natri huyết thanh trở về bình thường theo tiến triển chậm.
Mặc dù còn tranh cãi, thuốc đối kháng thụ thể vasopressin như conivaptan và tolvaptan hiện có sẵn để kiểm soát hạ natri máu. Các thuốc này không nên dùng để xử trí hạ natri máu cấp tính và cần tham khảo ý kiến chuyên gia trước khi sử dụng. Thuốc ức chế tái hấp thu nước thông qua tác động lên thụ thể V2 của thận và dẫn đến natri huyết thanh tăng chậm. Thuốc đối kháng thụ thể vasopressin có thể gây hạ huyết áp và giảm thể tích, vì vậy nên tránh ở bệnh nhân giảm thể tích tuần hoàn. Sau khi dùng thuốc đối kháng thụ thể vasopressin, cần theo dõi natri huyết thanh thường xuyên (cứ sau 4 giờ) do lo ngại điều chỉnh natri nhanh chóng và di chứng thần kinh (đặc biệt hủy myelin). Để tránh điều chỉnh quá mức, tránh sử dụng thuốc đối kháng vasopressin kết hợp với nước muối ưu trương. Khi đạt mức tăng 6 đến 8 mmol/L, cần cân nhắc bổ sung nước tự do (uống hoặc truyền tĩnh mạch) để phù hợp lượng nước tiểu và ngăn chặn tăng natri quá mức.

Hạ Natri máuTính tốc độ truyền NaCl 3% trong hạ Natri máu.

Tăng Natri máu

Tăng natri máu (natri > 145 mEq/L [145 mmol/L]) cho thấy suy giảm thể tích nội bào do mất nước tự do nhiều hơn mất natri. Nguyên nhân tăng natri máu được liệt kê trong Bảng 5.
Bảng 5. Các nguyên nhân gây Tăng natri máu
Mất nước
  • Tiêu chảy
  • Nôn ói
  • Đổ mồ hôi quá nhiều
  • Lợi tiểu
  • Đái tháo nhạt
Giảm lượng nước đưa vào
  • Thay đổi sự khát nước
  • Giảm khả năng tiếp cận nguồn cung cấp nước
Lượng Natri đưa vào quá mức
  • Muối viên
  • Sử dụng nước muối ưu trương
  • Sử dụng Natri bicarbonate
Biểu hiện lâm sàng của tăng natri máu liên quan chức năng thần kinh trung ương và cơ; gồm thay đổi tinh thần (ý thức), li bì, co giật, hôn mê và yếu cơ. Đa niệu gợi ý đái tháo nhạt hoặc đưa vào quá nhiều muối và nước.
Điều trị tập trung vào hiệu chỉnh nguyên nhân cơ bản gây tăng natri máu. Gần như tất cả bệnh nhân tăng natri máu đều cần bổ sung nước tự do. Có thể ước tính lượng nước thiếu hụt bằng phương trình sau:
  • Lương nước thiếu hụt (L) = 0,6 (0,5 đối với phụ nữ) × trọng lượng (kg) x [(Na đo được/Na bình thường) – 1]
Ví dụ: Lượng nước thiếu hụt của một người đàn ông nặng 70 kg với natri đo được là 160 mEq/L (mmol/L)
  • 0,6 × 70 [(160/140) – 1]
  • 42 x [1,14 – 1]
  • 42 × 0,14 = 5,88 L lượng nước thiếu hụt
Một phần lượng nước tự do thiếu hụt nên được bù ban đầu với tốc độ tương xứng mức độ nghiêm trọng của triệu chứng; sau đó cần đánh giá lại thường xuyên cho kế hoạch bù dịch tiếp theo (theo dõi natri mỗi 6 giờ). Dù nồng độ natri huyết thanh như thế nào, nếu bệnh nhân có dấu hiệu sốc giảm thể tích (ví dụ hạ huyết áp, tư thế đứng ([hạ huyết áp tư thế] hoặc nhịp tim nhanh đáng kể), cần dùng nước muối sinh lý bình thường cho đến khi thể tích nội mạch được điều chỉnh. Khi huyết động ổn định, bù phần còn lại của lượng nước thiếu hụt bằng Dextrose(Glucose) 5% trong nước, NaCl 0.45% hoặc NaCl 0.2% với Dextrose 5%. Để ước tính mức thay đổi natri huyết thanh dự kiến sau khi truyền 1 lít dịch, sử dụng các công thức tương tự như trong hạ natri máu:
  • Thay đổi Natri huyết thanh = (Natri dịch truyền – Natri huyết thanh) / (Tổng lượng nước cơ thể + 1)
  • Thay đổi Natri huyết thanh = [(Natri dịch truyền + Kali dịch truyền) – Natri huyết thanh] / (Tổng lượng nước cơ thể + 1)
Ở bệnh nhân ổn định, nước có thể bù qua đường ruột (tức qua ống thông mũi dạ dày). Ở một số ít bệnh nhân quá tải natri quá mức, natri có thể được loại bỏ bằng thuốc lợi tiểu quai hoặc lọc máu (nếu thể tích nội mạch đủ). Có thể cân nhắc sử dụng vasopressin hoặc desmopressin dạng nước cho bệnh nhân đái tháo nhạt trung ương.

Điều chỉnh nhanh chóng natri huyết thanh có thể gây phù não và tổn thương thần kinh.

Nồng độ natri cần đo thường xuyên trong quá trình điều trị và điều chỉnh liệu pháp nhằm đạt điều chỉnh tối ưu. Nếu tăng natri máu tiến triển trong vài giờ, giảm natri huyết thanh 1 mEq/L/h (1 mmol/L/h) là phù hợp. Trường hợp tăng natri máu kéo dài hơn hoặc chưa xác định được thời điểm khởi phát, khuyến cáo giảm tốc độ điều chỉnh chậm hơn (0,5 mEq/L/h [0,5 mmol/L/h]). Tăng lượng nước tự do đưa vào dịch duy trì cho phép natri trở lại bình thường một cách chậm rãi.

Calcium

Canxi là khoáng chất có nhiều nhất trong cơ thể: gồm 50% canxi ion hóa có hoạt tính và 50% canxi liên kết với albumin trong dịch ngoại bào. Canxi cần cho co cơ, dẫn truyền xung thần kinh, tiết hormone, đông máu, phân chia tế bào, vận động tế bào và chữa lành vết thương. Nồng độ canxi hiệu quả ở bệnh nhân nặng được đánh giá tốt nhất bằng cách đo canxi ion hóa nếu sẵn có. Canxi toàn phần huyết thanh liên quan trực tiếp với albumin huyết thanh, trong khi canxi ion hóa liên quan nghịch với albumin. Nói chung, mỗi lần albumin tăng hoặc giảm 1 g/dL, canxi huyết thanh sẽ tăng hoặc giảm 0,8 mg/dL (0,2 mmol/L); tuy nhiên, mối quan hệ albumin và canxi toàn phần kém tin cậy hơn ở bệnh nhân nặng.

Hạ Calci máu

Hạ canxi máu (canxi toàn phần < 8,5 mg/dL [< 2,12 mmol/L], canxi ion hóa < 4 mg/dL [1 mmol/L]) thường gặp ở bệnh nhân nặng và là kết quả của suy tuyến cận giáp và/hoặc vitamin D toàn thân (Bảng 6). Các bất thường tim mạch là biểu hiện phổ biến nhất của hạ canxi máu ở bệnh nhân hồi sức, bao gồm hạ huyết áp, nhịp tim chậm, rối loạn nhịp tim, suy tim, ngừng tim, mất nhạy cảm với digitalis, khoảng QT và đoạn ST kéo dài. Biểu hiện thần kinh cơ bao gồm yếu cơ, co thắt cơ, co thắt thanh quản, tăng phản xạ, co giật, cơn co cơ không chủ ý (cơn tetany) và dị cảm.
Bảng 6. Nguyên nhân của Hạ canxi máu
  • Suy tuyến cận giáp
  • Nhiễm trùng huyết
  • Bỏng
  • Tiêu cơ vân
  • Viêm tụy
  • Hấp thu kém
  • Bệnh gan
  • Bệnh thận
  • Chelat hóa canxi
  • Hạ Magie máu
  • Truyền máu số lượng lớn
Điều trị nhằm mục đích điều chỉnh bệnh căn bản, xử trí bất kỳ rối loạn điện giải kèm theo và cung cấp canxi. Hạ canxi máu nhẹ thường dung nạp tốt và điều trị tích cực có thể dẫn đến tổn thương mô (đặc biệt trong thiếu máu cục bộ và nhiễm trùng). Nếu hạ canxi máu nặng (canxi ion hóa < 4 mg/dL [1 mmol/L]) hoặc nếu bệnh nhân có triệu chứng, cho 100 mg canxi qua đường tĩnh mạch trong 5 đến 10 phút (3–4 mL canxi clorua 10% hoặc 10 mL 10% canxi gluconate), tiếp theo sau là canxi với lượng 0,3 đến 2 mg/kg/giờ. Các chế phẩm canxi khác nhau về hàm lượng canxi nguyên tố: 1 g canxi clorua 10% chứa trong 10 mL có 272 mg canxi; 1 g canxi gluconate 10% chứa trong 10 mL có 90 mg canxi. Khi nồng độ canxi tuần hoàn ổn định, có thể bổ sung canxi qua đường tiêu hóa (tức 500–1.000 mg mỗi 6 giờ).
Theo dõi canxi ion hóa hoặc canxi toàn phần thường xuyên trong quá trình điều trị và điều chỉnh lượng bù để duy trì mức canxi ở giới hạn bình thường thấp hơn, nhằm tránh ức chế chức năng tuyến cận giáp. Nếu chỉ bù canxi không duy trì được nồng độ canxi tuần hoàn, cần cân nhắc dùng vitamin D và xác nhận nồng độ magie bình thường. Tác dụng phụ của canxi bao gồm tăng canxi máu, nhịp tim chậm, buồn nôn/nôn, đỏ bừng mặt và kết tủa (vôi hóa) canxi tại mô.
Xem thêm: Hạ canxi máu.

Tăng Calci máu

Nguyên nhân phổ biến nhất của tăng canxi máu (canxi toàn phần > 11 mg/dL [> 2,75 mmol/L], canxi ion hóa > 5,21 mg/dL [1,3 mmol/L]) là giải phóng canxi từ xương (Bảng 7). Biểu hiện lâm sàng của tăng canxi máu chủ yếu liên quan hệ tim mạch và thần kinh cơ, bao gồm tăng huyết áp, thiếu máu cơ tim cục bộ, rối loạn nhịp tim, nhịp tim chậm, bất thường dẫn truyền, ngộ độc digitalis, mất nước, hạ huyết áp, yếu cơ, suy giảm tinh thần, hôn mê, co giật và đột tử. Biểu hiện tiêu hóa gồm buồn nôn/nôn, chán ăn, đau bụng, táo bón, viêm tụy và bệnh loét. Đái tháo nhạt do thận gây ra đa niệu có thể xảy ra và góp phần làm giảm thể tích. Sỏi thận, canxi hóa thận và suy thận cũng có thể gặp.
Bảng 7. Nguyên nhân tăng canxi máu
  • Cường cận giáp
  • Bệnh ác tính
  • Bất động
  • Đưa vào(ăn/uống) quá nhiều vitamin A hoặc vitamin D
  • Nhiễm độc giáp
  • Bệnh u hạt
Điều trị tăng canxi máu nhằm kiểm soát bệnh căn bản, bù nước cho bệnh nhân và hạ nồng độ canxi. Nồng độ canxi trong tuần hoàn thường cần giảm trong khi đánh giá và điều trị bệnh chính. Thể tích nội mạch nên được phục hồi bằng nước muối sinh lý để đảm bảo tưới máu mô và lưu lượng máu đến thận đầy đủ (lượng nước tiểu 2–3 mL/kg/h). Nước muối cũng làm giảm tái hấp thu canxi tại ống thận. Sau khi thể tích phù hợp đã được đảm bảo, lợi tiểu bằng thuốc lợi tiểu quai sẽ tăng thêm bài tiết canxi. Cần theo dõi kali và magiê huyết thanh và chỉnh các nồng độ thấp. Ở bệnh nhân suy thận, phù phổi hoặc tăng canxi máu đe dọa tính mạng, có thể hạ canxi bằng lọc máu. Sau ổn định ban đầu, có thể xem xét điều trị bằng calcitonin và bisphosphonates.
Xem thêm: Tăng canxi máu.

Phốt phát (Phosphorus)

Phốt phát (phosphate) có vai trò quan trọng trong chuyển hóa năng lượng của tế bào. Hạ phosphat máu (phosphate < 2,5 mg/dL [0,81 mmol/L]) do dịch chuyển vào trong tế bào, mất qua thận, mất qua đường tiêu hóa hoặc do đưa vào không đủ (Bảng 8). Suy giảm phosphat chủ yếu ảnh hưởng hệ thần kinh cơ và hệ thần kinh trung ương. Biểu hiện lâm sàng gồm yếu cơ, suy hô hấp, tiêu cơ vân, dị cảm, li bì, mất định hướng, lơ mơ, hôn mê và co giật. Các biến chứng khác có thể xảy ra: suy giảm chức năng ống thận, phản ứng tăng huyết áp bị suy giảm, rối loạn chức năng gan, rối loạn chức năng miễn dịch, suy giảm tổng hợp protein, tan máu (tán huyết), suy giảm chức năng tiểu cầu và suy giảm khả năng giải phóng oxy từ huyết sắc tố.
Bảng 8. Nguyên nhân gây Hạ phosphat máu
Dịch chuyển vào trong thế bào Mất qua thận
  • Nhiễm kiềm cấp tính
  • Sử dụng Carbonhydrate (gluxit)
  • Thuốc (insulin, epinephrine)
  • Cường cận giáp
  • Sử dụng thuốc lợi tiểu
  • Hạ Kali máu
  • Hạ Magie máu
  • Steroids
Mất qua đường tiêu hóa Giảm đưa vào(ăn/ uống)
  • Kém hấp thu
  • Tiêu chảy
  • Rò ruột (dẫn lưu ruột)
  • Thuốc kháng axit
  • Suy dinh dưỡng
  • Dinh dưỡng ngoài đường ruột (tiêm truyền)
Điều trị hạ phosphat máu bao gồm kiểm soát bệnh căn bản, loại bỏ các thuốc gây hạ phosphat, điều chỉnh bất thường điện giải và bù bổ sung phosphat. Mức photphat < 1 mg/dL (< 0,32 mmol/L) liên quan đến các triệu chứng được coi là đe dọa tính mạng và cần điều trị ngay lập tức. Để điều trị cấp cứu, cho phosphat với liều 0,6 đến 0,9 mg/kg mỗi ngày qua đường tĩnh mạch. Khi nồng độ trong tuần hoàn ổn định, lượng photphat duy trì bù qua đường tĩnh mạch là 1.000 mg/ngày cộng với lượng mất đi ước tính vượt mức (ví dụ qua nước tiểu hoặc phân). Phosphate có thể dùng dưới dạng kali photphat (93 mg/mL photphat, 1,1 mmol/mL kali) hoặc natri photphat (93 mg/mL). Phosphat qua đường tiêu hóa được ưu tiên ở những bệnh nhân có nồng độ phosphat huyết thanh > 1,0 đến 1,5 mg/dL (> 0,32–0,48 mmol/L).
Cần theo dõi phosphat huyết thanh trong quá trình bổ sung và điều chỉnh liệu pháp để đạt nồng độ trong tuần hoàn từ 3 đến 4 mg/dL (0,97–1,29 mmol/L). Tác dụng phụ khi sử dụng phosphat gồm tăng phosphat máu, hạ canxi máu, kết tủa canxi ở mô, tổn thương thận và tiêu chảy (phosphat đường ruột).
Tăng phosphat máu hiếm gặp ở bệnh nhân nặng ngoại trừ suy thận. Tăng chuyển hóa xương thứ phát do khối u hoặc tăng hấp thu tại ruột cũng có thể gây tăng phosphat máu. Triệu chứng tương tự hạ canxi máu: rối loạn nhịp thất, khoảng QT kéo dài, co giật, dị cảm và chuột rút cơ. Tăng phosphat máu được điều trị bằng chất kết dính canxi qua đường tĩnh mạch và phốt pho qua đường ruột. Có thể cần lọc máu khi có suy thận.

Magie (Magnesium)

Magiê rất quan trọng cho cơ thể để truyền năng lượng và ổn định điện. Nguyên nhân gây hạ magie máu (magie < 1,8 mg/dL [< 0,75 mmol/L]) được liệt kê trong Bảng 9.
Bảng 9. Nguyên nhân gây Hạ Magie máu
Mất qua thận Mất qua tiêu hóa
  • Rối loạn chức năng ống thận
  • Lợi tiểu
  • Hạ Kali máu
  • Thuốc (ví dụ: aminoglycosides, amphotericin)
  • Kém hấp thu
  • Tiêu chảy
  • Hút dịch dạ dày qua sonde mũi dạ dày
Dịch chuyển vào trong tế bào Giảm lượng đưa vào
  • Cho ăn lại
  • Phục hồi sau hạ thân nhiệt
  • Suy dinh dưỡng
  • Nghiện rượu
  • Dinh dưỡng ngoài đường ruột (tiêm truyền)
Biểu hiện lâm sàng của hạ magie máu chồng lấp với hạ kali máu và hạ canxi máu, bao gồm bất thường tim mạch (kéo dài khoảng QT, rối loạn nhịp tim, co thắt mạch, thiếu máu cơ tim cục bộ), bất thường thần kinh cơ (ví dụ yếu cơ, run rẩy, co giật, cơn tetany, ngủ gà, hôn mê) và bất thường điện giải (ví dụ hạ kali máu, hạ canxi máu).
Điều trị hạ magie máu gồm giải quyết bệnh căn bản, ngừng các thuốc có vấn đề, điều chỉnh các bất thường điện giải đồng thời và bổ sung magie. Để điều trị cấp cứu (tức rối loạn nhịp tim), truyền 1 đến 2 g magie sulfat qua đường tĩnh mạch trong 5 đến 10 phút. Có thể kéo dài thời gian dùng thuốc (10–60 phút) trong các tình huống kém khẩn cấp hơn. Tùy tình trạng lâm sàng, liều magie sulfat qua tĩnh mạch tiếp theo dao động từ 1 đến 2 g cứ sau 4 đến 6 giờ. Khi nồng độ trong huyết thanh ổn định, liều duy trì qua đường tĩnh mạch là 0,1 đến 0,2 mmol/kg mỗi ngày (1 g magie sulfat = 8 mmol). Magie duy trì có thể dùng qua đường ruột (uống). Nên giảm liều nếu có suy thận. Theo dõi nồng độ magie trong quá trình bổ sung. Phản xạ gân sâu có thể được dùng để đánh giá tình trạng tăng magie máu khi bù (tức giảm liều khi nồng độ huyết thanh 4–5 mg/dL [1,65–2,06 mmol/L]). Xem thêm: Hạ Magie máu.
Tăng magie máu không phổ biến ở bệnh nhân nặng nhưng có thể gặp ở bệnh nhân suy thận hoặc do dịch chuyển magie từ dịch nội bào bởi tổn thương mô mềm như tổn thương do tỳ đè, chấn thương do bỏng và tiêu cơ vân. Có thể xuất hiện giảm phản xạ, li bì và ngưng thở. Điều trị gồm cho canxi qua đường tĩnh mạch, dùng thuốc lợi tiểu và lọc máu trong trường hợp nặng. Xem thêm: Tăng Magie máu.

RỐI LOẠN CHUYỂN HÓA

Một bệnh nhân nữ 54 tuổi vào khoa Nội chung (ngày thứ 3) vì viêm mô tế bào chi dưới trái. Tiền sử gồm đái tháo đường type 2 và viêm khớp dạng thấp; các thuốc đang dùng tại nhà gồm metformin, methotrexate và prednisone. Trong lần nhập viện này, bệnh nhân được bắt đầu kháng sinh và insulin glargine; methotrexate và prednisone được tạm ngừng để hỗ trợ liền vết nhiễm trùng. Đội cấp cứu được gọi do phát hiện tình trạng tinh thần(ý thức) thay đổi, nhịp thở 22 nhịp/phút, nhịp tim 140 nhịp/phút, huyết áp 84/42 mm Hg và nhiệt độ 37,2°C (98,9°F). Công thức máu và bộ xét nghiệm chuyển hóa cơ bản không ghi nhận bất thường đáng chú ý. Bệnh nhân được truyền 2-L dung dịch Ringer lactate và bắt đầu norepinephrine 10 µg/phút nhưng vẫn duy trì hạ huyết áp.
  • Rối loạn chuyển hóa nào có thể góp phần gây hạ huyết áp mới khởi phát ở bệnh nhân này?
  • Cần xem xét những can thiệp nào?
  • Những xét nghiệm nào có thể xác nhận chẩn đoán?

Suy thượng thận cấp (Acute Adrenal Insufficiency)

Suy thượng thận cấp ở bệnh nhân nặng, còn được gọi là suy giảm corticosteroid liên quan đến bệnh nặng (CIRCI, critical illness-related corticosteroid insufficiency), có thể là hậu quả của bệnh mạn tính đã tồn tại trước đó hoặc tình trạng chưa được chẩn đoán ở tuyến thượng thận hoặc trục vùng dưới đồi–tuyến yên; đồng thời có thể xuất hiện do các tình huống cấp tính tác động đến các cơ quan nội tiết này ( Bảng 10 ). Ở bệnh nhân có bệnh mạn tính, suy thượng thận cấp có thể khởi phát do nhiễm trùng hoặc các yếu tố gây căng thẳng(stressors) khác. Ngoài ra, suy giảm chức năng trong bối cảnh bệnh nặng có thể liên quan đến thiếu hụt tương đối hoặc tuyệt đối sản xuất glucocorticoid; tình trạng này thường hồi phục sau khi khỏi bệnh. Suy thượng thận tương đối xảy ra khi cortisol bình thường hoặc cao nhưng giảm mức độ đáp ứng tương ứng với mức độ nặng của bệnh.
Bảng 10. Căn nguyên của suy thượng thận
Tình trạng mãn tính
- Tuyến thượng thận
  • Sự phá hủy do tự miễn
  • Bệnh u hạt (bệnh lao)
  • Nhiễm HIV
  • Nhiễm trùng khác (vi rút cự bào[cytomegalovirus], nấm)
  • Bệnh ác tính nguyên phát hoặc di căn
  • Ảnh hưởng của thuốc (ví dụ, ketoconazole)
  • Chấn thương đầu
- Trục dưới đồi - tuyến yên
  • Cai liệu pháp glucocorticoid ngoại sinh
  • Suy tuyến yên (khối u, nhồi máu, xạ trị)
  • Bệnh Sarcoid (Sarcoidosis), bệnh mô bào (Histiocytosis)
  • Chấn thương đầu
Tình trạng cấp tính
- Bệnh nặng (ảnh hưởng đến tuyến thượng thận và trục dưới đồi - tuyến yên)
  • Giảm tưới máu
  • Tác động của Cytokine (thay đổi chuyển hóa Cortisol, ái lực với thụ thể)
- Xuất huyết tuyến thượng thận cấp
  • Viêm não mô cầu (Menigococemia)
  • Đông máu nội mạch lan toản (DIC)
  • Thuốc chống đông (ví dụ: Warfarin, Heparin)
- Ảnh hưởng của thuốc
  • Tăng chuyển hóa cortisol (phenytoin, phenobarbital, rifampin)
  • Can thiệp vào quá trình tổng hợp glucocorticoid (ketoconazol, etomidate)
Việc thiếu các dấu hiệu và triệu chứng đặc hiệu của suy thượng thận cấp tính khiến việc nhận biết sớm thường gặp nhiều khó khăn ở người bệnh nặng. Những biểu hiện lâm sàng phù hợp với suy thượng thận cấp tính bao gồm suy nhược, buồn nôn và nôn, đau bụng, nhịp tim nhanh và hạ huyết áp tư thế đứng. Manh mối chẩn đoán là hạ huyết áp kháng trị với hồi sức dịch. Kết quả xét nghiệm gợi ý có thể gồm tăng bạch cầu ái toan, hạ natri máu, tăng kali máu, nhiễm toan và hạ đường huyết. Xuất huyết tuyến thượng thận cấp có thể biểu hiện bằng đau bụng, đau hông sườn hoặc đau lưng. Các biểu hiện lâm sàng và xét nghiệm chồng lấp đáng kể với các bệnh lý nặng thường gặp khác, chẳng hạn nhiễm trùng huyết.
Bất thường điện giải ít gặp hơn ở bệnh nhân suy thượng thận cấp tính so với suy thượng thận mạn tính.
Manh mối quan trọng về khả năng suy thượng thận ở bệnh nhân nặng là tình trạng phụ thuộc thuốc vận mạch, không đáp ứng với việc truyền dịch thích hợp, sốt không rõ nguyên nhân(nguồn lây nhiễm không rõ ràng) và sự không tương xứng giữa mức độ nghiêm trọng dự kiến của bệnh với tình trạng thực tế của bệnh nhân.
Giá trị của một xét nghiệm đơn lẻ nhằm đánh giá chức năng trục hạ đồi–tuyến yên–tuyến thượng thận bị giới hạn. Có thể dùng cortisol ngẫu nhiên < 10 µg/dL hoặc thực hiện nghiệm pháp kích thích để chẩn đoán CIRCI. Với nghiệm pháp kích thích cosyntropin(hóa chất nhân tạo có tác dụng giống như hormone ACTH), bác sĩ lâm sàng có thể sử dụng mức thay đổi(∆) nồng độ cortisol < 9 µg/dL ở 60 phút sau khi dùng liều cosyntropin 250 µg để gợi ý suy tuyến thượng thận. Các khuyến cáo hiện nay yêu cầu sử dụng ít hơn 400 mg hydrocortisone mỗi ngày trong 3 ngày trở lên. Cải thiện huyết động sau khi dùng hydrocortisone trước đây là một chỉ số sinh lý quan trọng, tuy nhiên hiện nay xét nghiệm được ưu tiên hơn. Mặc dù liệu pháp corticosteroid thường được ngừng bằng cách giảm liều trong khoảng thời gian 3–5 ngày, nhưng hiện không có khuyến cáo cụ thể về việc cai thuốc; nhiều thử nghiệm không cai thuốc.
Hydrocortisone đồng thời cung cấp một số tác dụng Mineralocorticoid.
Xem thêm: Suy thượng thận trong hồi sức tích cực

Hội chứng tăng đường huyết

Các trường hợp khẩn cấp về bệnh đái tháo đường

Các biến chứng chuyển hóa nghiêm trọng của bệnh đái tháo đường xuất phát từ tình trạng thiếu insulin tương đối hoặc tuyệt đối kèm theo tăng sản xuất các hormone chống lại cơ chế điều hòa như glucagon, catecholamine, cortisol, epinephrine và các chất trung gian khác. Các hội chứng tăng đường huyết đe dọa tính mạng bao gồm nhiễm toan đái tháo đường ( DKA ) và tình trạng tăng đường huyết tăng áp lực thẩm thấu ( HHS ). Các hội chứng này khác nhau về mức độ mất nước và mức độ nhiễm toan (ketone) nhưng có nhiều biểu hiện lâm sàng và biện pháp can thiệp tương tự nhau. Ngoài ra, bệnh nhân có thể đồng thời có các thành phần của cả hai hội chứng. Bảng 11 liệt kê các đặc điểm có thể phân biệt giữa các hội chứng, song có thể có khác biệt đáng kể. Dù DKA và HHS có thể là biểu hiện ban đầu của bệnh đái tháo đường, các yếu tố thúc đẩy thường gặp nhất là nhiễm trùng và không tuân thủ dùng thuốc. Các yếu tố thúc đẩy khác bao gồm sử dụng corticosteroid, nhồi máu cơ tim, đột quỵ, lạm dụng rượu, viêm tụy, chấn thương và mang thai.

HHS tiến triển trong nhiều ngày đến nhiều tuần và dẫn đến tình trạng mất nước nhiều hơn DKA, trong khi DKA thường tiến triển trong < 24 giờ.

Bảng 11. Đặc điểm của hội chứng tăng đường huyết
Chỉ số DKA HHS
Glucose >250 mg/dL >600 mg/dL
pH động mạch/tĩnh mạch <7.3 >7.3
Anion gap Tăng Thay đổi
Ketone huyết thanh/niệu Dương tính Âm tính hoặc ít(small)
Áp lực thẩm thấu huyết thanh Bình thường Tăng
Biểu hiện lâm sàng chủ yếu do tăng đường huyết ở cả hai hội chứng và do sản xuất ketone quá mức trong DKA. Tăng đường huyết gây tăng áp lực thẩm thấu, lợi tiểu thẩm thấu, mất dịch và điện giải, mất nước và giảm thể tích. Ketone, đặc biệt là beta-hydroxybutyrate và acetate, là tác nhân gây nhiễm toan chuyển hóa và có thể được đánh giá gián tiếp qua khoảng trống anion (AG). Lâm sàng của cả hai hội chứng tăng đường huyết có thể bao gồm suy nhược, mất nước, đa niệu, khát nước, nhịp tim nhanh, hạ huyết áp, chán ăn, buồn nôn/nôn và tắc ruột. Đau bụng, thở nhanh(kiểu thở Kussmaul) và hơi thở có mùi trái cây là dấu hiệu điển hình của DKA; trong khi tình trạng ý thức thay đổi (từ li bì đến hôn mê) và rối loạn nhịp tim thường gặp hơn trong HHS. Thăm dò xét nghiệm có thể cho thấy tăng đường huyết, tăng độ thẩm thấu huyết thanh (phổ biến hơn ở HHS), glucose niệu, nhiễm toan chuyển hóa với(tăng) khoảng trống anion (DKA), tăng kali máu (khi có toan máu) hoặc hạ kali máu và giảm phosphat máu (sau khi bắt đầu điều trị bằng insulin), nhiễm toan lactic, tăng bạch cầu và tăng nitơ máu. Nồng độ natri huyết thanh có thể giảm do sự dịch chuyển nước vào khoang ngoại bào; nồng độ natri huyết thanh tăng cao gợi ý tình trạng mất nước nghiêm trọng.

Nên sử dụng nồng độ Natri huyết thanh hiệu chỉnh [natri đo được + 0,016 × (glucose huyết thanh-100)] để đánh giá mức độ nghiêm trọng của mất nước.

Xem thêm: Natri hiệu chỉnh và áp lực thẩm thấu hiệu dụng trong tăng đường huyết

Đánh giá nhanh ban đầu ở bệnh nhân có khả năng tình trạng tăng đường huyết cần bao gồm: xác định tình trạng tinh thần, đánh giá mức độ mất nước (dấu hiệu sinh tồn, thay đổi tư thế[hạ huyết áp tư thế đứng], lượng nước tiểu) và xem xét có hay không nhiễm trùng. Các thăm dò nên gồm công thức máu toàn phần, chất điện giải, chức năng thận, glucose (huyết tương hoặc đầu ngón tay), ketone trong nước tiểu hoặc huyết thanh, và khí máu động mạch (có thể dùng pH tĩnh mạch thay thế). Cần làm điện tâm đồ để đánh giá thiếu máu cục bộ và các thay đổi do rối loạn điện giải. Nếu nghi ngờ nhiễm trùng, chỉ định nuôi cấy vi sinh phù hợp.
Mục tiêu điều trị hội chứng tăng đường huyết là khôi phục cân bằng nước và điện giải, cung cấp insulin và xác định các yếu tố thúc đẩy. Quản lý ban đầu DKA và HHS được tóm lược trong Bảng 12. Mức độ thiếu hụt thể tích tương quan với mức độ nặng của tăng đường huyết và thường lớn hơn trong HHS. Lượng nước tiểu nên được duy trì 1 đến 3 mL/kg/giờ nhằm đảm bảo tưới máu mô và thanh thải glucose.
Bảng 12. Quản lý ban đầu hội chứng tăng đường huyết
Dịch truyền
  1. Đánh giá mức độ nghiêm trọng của tình trạng mất nước.
  2. Tiến hành hồi sức bằng dịch tinh thể, ban đầu bằng nước muối sinh lý khoảng 15-20 mL/kg/giờ trong giờ đầu tiên khi không có rối loạn chức năng tim nhằm phục hồi ổn định huyết động và tưới máu thận. Tốc độ truyền dịch tiếp theo cần được định hướng dựa trên ước lượng lượng nước mất và lượng nước tiểu; thông thường 250-500 mL/h thường là đủ.
  3. Sau khi ổn định huyết động, cân nhắc truyền dịch có ít clorua (ví dụ nước muối 0,45%) để tránh hoặc giảm thiểu sự phát triển của nhiễm toan chuyển hóa tăng clo máu. Natri huyết thanh hiệu chỉnh cũng nên được sử dụng để hỗ trợ lựa chọn dịch.
  4. Thêm glucose vào dịch truyền khi glucose đạt 250-300 mg/dL (13,9-16,7 mmol/L) trong DKA. Dùng dextrose 10% nếu cần để duy trì glucose >150 mg/dL (>8,3 mmol/L). Trong HHS, thêm glucose vào dịch truyền khi glucose đạt 300 mg/dL (16,7 mmol/L) để duy trì nồng độ glucose trong khoảng 250-300 mg/dL (13,9-16,7 mmol/L).
Insulin
  1. Dùng liều nạp insulin regular(thường) dưới dạng bolus tĩnh mạch (0,1-0,15 đơn vị/kg), sau đó truyền tĩnh mạch liên tục với tốc độ 0,1 đơn vị/kg/giờ. Nếu kali < 3,3 mmol/L, không dùng(giữ lại) insulin cho đến khi kali được bù lại.
  2. Nếu glucose không giảm 50 mg/dL (2,8 mmol/L) trong giờ đầu tiên, cần cân nhắc tăng tốc độ truyền insulin hoặc bổ sung liều insulin bolus (10 đơn vị insulin regular mỗi giờ).
  3. Trong DKA, tiếp tục truyền insulin hoặc giảm 50% khi glucose đạt 300 mg/dL (16,7 mmol/L). Duy trì glucose 150 đến 200 mg/dL (8,3 và 11,1 mmol/L) cho đến khi giải quyết được nhiễm toan và ketone.
  4. Trong HHS, giảm truyền insulin khi glucose đạt 300 mg/dL (16,7 mmol/L) để duy trì glucose ở mức 250–300 mg/dL (13,9-16,7 mmol/L) cho đến khi độ thẩm thấu huyết tương ≤315 mOsm /kg và bệnh nhân tỉnh táo.
Điện giải
  1. Nếu kali huyết thanh <3,3 mEq/L (mmol/L), ngừng insulin và truyền kali, 40 mEq/h (mmol/h) dưới dạng kali clorua hoặc kali photphat (hoặc kết hợp), cho đến khi kali >3,3 mEq/L ( mmol/L) nhằm tránh rối loạn nhịp tim hoặc yếu cơ nghiêm trọng.
  2. Nếu kali huyết thanh >3,3 mmol/L (mmol/L) nhưng <5 mEq/L (mmol/L) và lượng nước tiểu đủ, truyền kali 20–30 mEq (mmol) trong mỗi lít dịch để duy trì kali ở mức 4–5 m Eq/L (mmol/L).
  3. Nếu kali huyết thanh >5 mEq/L (mmol/L), không bổ sung kali vào dịch truyền cho đến khi <5 mEq/L (mmol/L).
  4. Cân nhắc bổ sung phosphate bằng kali phosphate nếu phosphate huyết thanh thấp (<1 mg/dL, 0,32 mmol/L) hoặc có triệu chứng nghiêm trọng.
Đường truyền tĩnh mạch thường quy để sử dụng insulin được xem là đáng tin cậy nhất và dễ chuẩn độ nhất. Do thời gian bán hủy ngắn của insulin qua đường tĩnh mạch, cần truyền liên tục đồng thời theo dõi định kỳ nồng độ glucose và điện giải. Liều insulin nhỏ hơn có thể đủ trong HHS. Trong trường hợp DKA, nên tiếp tục truyền insulin liên tục cho đến khi loại bỏ beta-hydroxybutyrate và axeton, đánh giá bằng bình thường hóa khoảng trống anion hoặc bình thường hóa nồng độ beta-hydroxybutyrate. Việc bình thường hóa khoảng trống anion thường xảy ra nhiều giờ sau khi nồng độ glucose huyết thanh đã trở về bình thường.
Có thể bắt đầu dịch truyền có chứa glucose sớm hơn so với khuyến cáo nếu không thể theo dõi đường huyết thường xuyên. Khi glucose và/hoặc độ thẩm thấu huyết thanh được kiểm soát, tình trạng nhiễm toan đã hết và bệnh nhân ổn định, có thể chuyển sang tiêm insulin dưới da; Có thể bắt đầu sử dụng thang trượt insulin cho chế phẩm Regular và loại tác dụng dài hơn, vốn sẽ chồng chéo trong vòng 1 đến 2 giờ trước khi ngừng truyền insulin.

Cần lưu ý rằng liệu pháp bicarbonate bổ sung cùng với insulin sẽ làm giảm hơn(giảm thêm) nồng độ kali huyết thanh.

Insulin và điều chỉnh tình trạng nhiễm toan làm dịch chuyển kali vào trong tế bào và có thể gây giảm nhanh nồng độ kali huyết thanh. Có thể cân nhắc bổ sung kali đường uống nếu không có triệu chứng buồn nôn và nôn. Cần theo dõi nồng độ kali và các điện giải khác thường xuyên (đặc biệt là trong 6 giờ đầu) cho đến khi đạt mức ổn định và khi nhiễm toan được giải quyết.

Nồng độ glucose nên được theo dõi mỗi 1–2 giờ./

Nhiễm toan thường được dung nạp tốt trong DKA và liệu pháp bicarbonate còn gây tranh cãi. Không ghi nhận lợi ích khi sử dụng bicarbonate cho bệnh nhân DKA có pH từ 6,9 đến 7,1, nếu dịch truyền và insulin giúp cải thiện nhanh chóng pH. Có thể xem xét bicarbonate nếu pH động mạch < 6,9 (cho 100 mmol bicarbonate trong 1 giờ để đạt pH > 7). Không cố gắng bình thường hóa pH máu bằng bicarbonate, vì tình trạng nhiễm toan sẽ tự cải thiện khi ketone được chuyển hóa.


Xem thêm: Bệnh tiểu đường nhiễm toan Ketone (DKA) và tình trạng tăng đường huyết tăng áp lực thẩm thấu (HHS)

Tăng đường huyết ở bệnh nhân nặng

Tăng đường huyết thường gặp ở bệnh nhân đái tháo đường và không đái tháo đường mắc bệnh nặng; nguyên nhân có thể liên quan đến hormone stress, các chất trung gian gây viêm, liệu pháp glucocorticoid, cung cấp calo dinh dưỡng quá mức, giảm hoạt động và các cơ chế khác. Tăng đường huyết đáng kể gắn với khả năng lành vết thương kém, suy giảm chức năng miễn dịch, tăng viêm, rối loạn chức năng nội mô và các tác động bất lợi khác, từ đó làm tăng bệnh tật và tử vong. Các nghiên cứu ban đầu về kiểm soát đường huyết chặt chẽ (80–110 mg/dL, 4,4–6,1 mmol/L) cho thấy lợi ích ở nhóm bệnh nhân phẫu thuật, nhưng mục tiêu này khó đạt được trong các nghiên cứu tiếp theo sau đó mà không làm tăng nguy cơ hạ đường huyết nặng. Hơn nữa, ở nhiều thử nghiệm tiếp theo ghi nhận tỷ lệ tử vong giảm không nhất quán khi kiểm soát glucose tích cực. Một số nghiên cứu gần đây về kiểm soát đường huyết chặt chẽ thực sự cho thấy tỷ lệ tử vong tăng lên, liên quan đến tỷ lệ hạ đường huyết cao hơn.
Ở bệnh nhân nặng, nên khởi trị insulin khi tăng đường huyết dai dẳng (mức đường huyết > 150 mg/dL). Sau khi đã bắt đầu, nồng độ glucose máu mục tiêu được khuyến cáo là 140–180 mg/dL (7,8–10 mmol/L) nhằm tránh hạ đường huyết. Truyền insulin qua đường tĩnh mạch là phương pháp ưu tiên để đạt được và duy trì kiểm soát. Trong quá trình điều trị insulin tĩnh mạch, theo dõi đường huyết thường xuyên là cần thiết để giảm thiểu nguy cơ hạ đường huyết (đường huyết < 70 mg/dL) và đạt được mục tiêu kiểm soát tối ưu.
Bệnh nhân có rối loạn chức năng thận cần tốc độ truyền insulin thấp hơn.
Khả năng cung cấp hỗ trợ và theo dõi đầy đủ của điều dưỡng có thể ảnh hưởng đến mục tiêu đường huyết đã chọn. Các phương pháp lấy mẫu máu và đo đường huyết khác nhau có thể cho kết quả không tương đồng; vì vậy cần tuân thủ quy trình lấy mẫu máu, truyền insulin và mục tiêu quản lý glucose của tổ chức để đảm bảo tính nhất quán và giảm thiểu nguy cơ hạ đường huyết.
Xem thêm: Kiểm soát đường huyết trogn HSCCCông cụ tính liều insulin truyền liên tục Glucose Control in the ICU.

NHỮNG ĐIỂM CHÍNH

  • Khi xuất hiện rối loạn nhịp tim đe dọa tính mạng hoặc liệt cơ liên quan đến hạ kali máu, chỉ định truyền kali clorid với tốc độ 20 mmol/giờ qua ống thông tĩnh mạch trung tâm(CVC).
  • Nếu có các bất thường trên điện tâm đồ gợi ý tăng kali máu, thực hiện can thiệp cấp cứu bằng canxi clorua hoặc canxi gluconate đường tĩnh mạch trong 5 đến 10 phút; sau đó xem xét chuyển kali vào nội bào bằng Dextrose 50% và insulin regular(thường) qua đường tĩnh mạch, đồng thời cân nhắc thuốc chủ vận β dạng hít và/hoặc natri bicarbonate.
  • Trường hợp hạ natri máu kèm triệu chứng với thể tích tuần hoàn bình thường, giới hạn mức tăng natri huyết thanh ở mức 6 đến 8 mmol/L trong 24 giờ đầu. Điều chỉnh natri huyết thanh quá nhanh có thể gây tổn thương hệ thần kinh trung ương(CNS).
  • Bệnh nhân tăng natri máu có huyết động không ổn định cần được truyền nước muối sinh lý bình thường(NaCl 0.9%) cho đến khi thể tích nội mạch được hiệu chỉnh. Sau đó, bù lượng nước thiếu hụt bằng Dextrose 5% trong nước, NaCl 0,45% hoặc NaCl 0,2% với Dextrose 5%. Bù bổ sung nước qua đường ruột là một chiến lược hiệu quả ở những bệnh nhân ổn định.
  • Điều trị cấp cứu bằng glucocorticoid được chỉ định ở bệnh nhân có thiếu hụt corticosteroid liên quan đến bệnh nặng (CIRCI), được xác định qua xét nghiệm nồng độ cortisol huyết tương ngẫu nhiên(< 10 µg/dL) hoặc qua xét nghiệm kích thích cosyntropin với ∆ < 9 µg/dL.
  • Mục tiêu đường huyết 140-180 mg/dL phù hợp với đa số bệnh nhân nhập viện, nhằm đạt lợi ích lâm sàng đồng thời giảm nguy cơ hạ đường huyết.
  • Mục tiêu điều trị hội chứng tăng đường huyết là khôi phục cân bằng nước và điện giải, cung cấp insulin và xác định các yếu tố thúc đẩy.
  • Trong đái tháo đường nhiễm toan ketone, tiếp tục truyền insulin liên tục cho đến khi tình trạng nhiễm toan và ketone được giải quyết. Đồng thời truyền dịch chứa glucose để dự phòng hạ đường huyết trong quá trình truyền insulin.
  • Trong hội chứng tăng thẩm thấu tăng đường huyết(HHS), duy trì nồng độ glucose ở mức 250 đến 300 mg/dL (13,9-16,7 mmol/L) cho đến khi độ thẩm thấu huyết tương < 315 mOsm/kg và bệnh nhân tỉnh táo.
  • Nên bổ sung kali vào liệu pháp truyền dịch đối với hội chứng tăng đường huyết ngay khi kali huyết thanh được xác định là < 5 mmol/L và lượng nước tiểu đủ.
  • Tuân thủ quy trình lấy mẫu máu, truyền insulin và theo dõi nồng độ glucose mục tiêu để tránh làm gia tăng đường huyết và giảm thiểu tình trạng hạ đường huyết ở bệnh nhân nặng.

Tài liệu tham khảo

  1. FCCS 2016
  2. Management of Life-Threatening Electrolyte and Metabolic Disturbances. FCCS 2021