GIỚI THIỆU
Việc chẩn đoán, điều trị và kiểm soát đau, kích động và mê sảng một cách hiệu quả trong hồi sức tích cực (ICU) là yếu tố then chốt nhằm giảm chi phí đồng thời cải thiện kết cục điều trị tại ICU. Tiếp cận đa ngành theo hướng quy trình hóa có thể hỗ trợ đáng kể bác sĩ lâm sàng trong việc nhận diện chẩn đoán, lựa chọn mục tiêu điều trị trực tiếp và góp phần hạn chế tình trạng an thần quá mức bằng các lưu đồ điều chỉnh an thần.
Trọng tâm của các nguyên tắc này là luôn giải quyết vấn đề đau song song với các nội dung khác liên quan đến an thần.
AN THẦN
Những tiến bộ quan trọng đã được ghi nhận trong việc hiểu rõ cách thức mang lại sự thoải mái về thể chất và tinh thần cho người bệnh tại ICU. Khi xây dựng chiến lược điều trị, cần đặc biệt cân nhắc hai nội dung: bảo đảm sử dụng các công cụ đánh giá có độ tin cậy để lượng giá mức độ đau, mức độ kích động và tình trạng mê sảng; đồng thời đặt ra mục tiêu điều trị riêng cho từng hạng mục tương ứng.
Trong các thang đo đánh giá mức độ an thần đang được sử dụng, Thang đo An thần - Kích động Riker (SAS) và Thang đo An thần - Kích động Richmond (RASS) được xem là các thang có giá trị và độ tin cậy cao. Các biện pháp phòng ngừa và lưu đồ chỉnh liều theo phác đồ cho can thiệp bằng thuốc giữ vai trò trung tâm trong duy trì trạng thái bình tĩnh, thoải mái và hợp tác của người bệnh trong quá trình chăm sóc, đồng thời giúp hạn chế liều thuốc và tránh tình trạng dùng quá liều.
Để giảm lo âu và tình trạng kích động, các can thiệp chủ lực bao gồm duy trì sự thoải mái, định hướng lại thường xuyên và tối ưu hóa môi trường nhằm duy trì nhịp sinh học ngủ–thức ở trạng thái gần với sinh lý. Việc xác định sớm và điều trị kịp thời các nguyên nhân tiềm tàng có thể làm gia tăng kích động như đau, thiếu oxy máu, hạ đường huyết, hạ huyết áp, sốt và hội chứng cai rượu hoặc ma túy là hết sức quan trọng. Dữ liệu từ nhiều thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng ủng hộ việc sử dụng mức độ an thần và liều thuốc an thần thấp nhất có thể cho đa số bệnh nhân ICU.
Các nghiên cứu so sánh mức an thần cho thấy an thần sâu hơn có liên quan độc lập với thời gian thở máy dài hơn, thời gian nằm ICU dài hơn và giảm khả năng sống sót. Tương tự, việc gián đoạn truyền thuốc an thần theo lịch hàng ngày cũng góp phần làm giảm lượng benzodiazepine sử dụng, giảm thời gian thở máy và giảm thời gian nằm ICU. Các kết quả này cần được diễn giải theo đúng nhóm bệnh nhân trong nghiên cứu; do đó có thể không áp dụng cho toàn bộ bệnh nhân ICU. Chẳng hạn, đối với bệnh nhân tăng áp lực nội sọ, suy hô hấp nặng, điều trị đồng thời với thuốc chẹn thần kinh cơ hoặc bỏng nặng, thường cần mức an thần sâu hơn.
Mặc dù đã có nhiều thử nghiệm so sánh các chế độ dùng thuốc an thần, hiện vẫn chưa có thuốc an thần nào được chứng minh rõ ràng là vượt trội hơn các lựa chọn khác. Các thuốc thường dùng tại ICU bao gồm benzodiazepin, propofol và dexmedetomidine (Bảng 1).
| Bảng 1. Thuốc an thần trong ICU | |||
|---|---|---|---|
| Thuốc | Liều | Thời gian kích động trở lại(sau ngừng thuốc) | Điểm chính lâm sàng |
| Midazolam |
Bolus: 1-5 mg
Truyền: 1-10 mg/giờ |
Bolus: 1-2 giờ |
|
| Lorazepam |
Bolus: 1-4 mg IV
Truyền: 1-10 mg/giờ |
Bolus: 2-6 giờ |
|
| Propofol | Truyền: 20-100 mcg/kg/phút | 10-15 phút |
- Thận trọng Hội chứng tiêm truyền liên quan đến propofol (PRIS)
- Đặc điểm của PRIS:
- Ở dạng nhũ tương lipid 10% và cung cấp 1,1 kcal/mL - Có thể gây tăng triglycerid máu |
| Dexmedetomidine | 0.1-1.5 mg/kg/giờ | 6-10 phút |
|
| Ketamine |
Bolus: 2 mg/kg IV
Truyền: 0.5-3 mg/kg/giờ |
5-10 phút |
|
Do mục tiêu là giảm thiểu độ sâu và rút ngắn khoảng thời gian an thần, các thuốc có tác dụng ngắn và không có chất chuyển hóa có hoạt tính được ưu tiên sử dụng. Trong các nghiên cứu so sánh propofol với thuốc benzodiazepin, propofol không làm giảm tỷ lệ tử vong chung nhưng ghi nhận thời gian nằm ICU giảm. Dexmedetomidine cũng có thể có một số ưu điểm so với benzodiazepin nhờ không gây ức chế hô hấp và đồng thời cung cấp đặc tính giảm đau. Khi đối chiếu với lorazepam và midazolam, dexmedetomidine cho thấy ít Mê Sảng hơn và giảm số ngày thở máy, song không ghi nhận thay đổi về thời gian nằm viện hoặc thời gian ICU. Khi so sánh propofol và dexmedetomidine, không có khác biệt về thời gian đạt mức an thần mục tiêu, thời gian thở máy hoặc thời gian nằm ICU.
Một phân tích tổng hợp so sánh kết cục lâm sàng ở nhóm bệnh nhân được an thần theo chế độ dựa trên benzodiazepine với nhóm bệnh nhân được an thần theo chế độ không sử dụng benzodiazepine cho thấy thời gian nằm viện dài hơn một chút và thời gian thở máy dài hơn ở nhóm điều trị dựa trên benzodiazepine. Nhìn chung, chế độ điều trị không chứa benzodiazepine được khuyến cáo; tuy nhiên, lựa chọn thuốc an thần cụ thể cần dựa trên chỉ định phù hợp và mục tiêu an thần, cũng như dược lý lâm sàng của từng thuốc, bao gồm khởi phát và hiệu quả, đặc điểm tác dụng phụ, và sinh lý bệnh của người bệnh như chức năng cơ quan và các bệnh kèm.
MÊ SẢNG (DELIRIUM)
Mê sảng (hay còn gọi là sảng) được xem là một biến cố thường xuyên và nghiêm trọng, có thể gặp ở người bệnh đang trong tình trạng bệnh nặng tại cơ sở hồi sức tích cực (ICU). Nhận thức là quá trình đòi hỏi trao đổi chất cao nhất của cơ thể người và dễ bị xáo trộn bởi bệnh lý hệ thống hoặc bệnh lý thần kinh, bởi thuốc hoặc bởi quy trình chăm sóc tại ICU. Ước tính tỷ lệ mê sảng trong ICU dao động từ 16% đến 89%, mặc dù chẩn đoán thường bị bỏ sót nếu không thực hiện sàng lọc tích cực tại giường. Mê sảng vẫn là chẩn đoán lâm sàng vì hiện không có chẩn đoán hình ảnh hoặc xét nghiệm sẵn có nào dùng để phát hiện mê sảng. Mê sảng liên quan đến tỷ lệ tử vong cao hơn, tăng thời gian nằm viện và thời gian điều trị tại ICU, gia tăng chi phí chăm sóc và nguy cơ khuyết tật nhận thức vĩnh viễn.
Theo định nghĩa, mê sảng là một sự thay đổi cấp tính của chức năng nhận thức toàn thể, gây ảnh hưởng đến sự chú ý, kích thích, định hướng hoặc nhận thức. Diễn biến lâm sàng thường dao động và các triệu chứng có xu hướng nặng hơn vào ban đêm. Việc hiểu rõ khả năng nhận thức nền của bệnh nhân là thiết yếu; vì mê sảng cần được phân biệt với chứng mất trí nhớ (một vấn đề mãn tính của suy giảm nhận thức) và với các cấp cứu thần kinh (thoát vị não) làm giảm mức độ tỉnh táo sâu sắc.
Các yếu tố nguy cơ gây mê sảng có thể được xem trong (Bảng 2).
Các yếu tố nguy cơ gây mê sảng có thể được xem trong (Bảng 2).
| Bảng 2. Các nguy cơ cho mê sảng trong ICU |
|---|
|
Có ba dạng mê sảng: giảm động, tăng động và hỗn hợp. Mê sảng tăng động có thể biểu hiện dưới dạng ồn ào, kích động và/hoặc gây hấn, làm thu hút sự chú ý cao độ của nhân viên y tế; các bệnh nhân thường cần phải được không chế về mặt y tế và thể chất. Mặc dù mê sảng giảm động phổ biến hơn (đặc biệt ở người cao tuổi), dạng này thường bị bỏ qua và không được chẩn đoán đúng mức. Các bệnh nhân có thể yên lặng hoặc buồn ngủ nhưng vẫn có sự bối rối rõ rệt và mất phương hướng. Mê sảng hỗn hợp xảy ra khi người bệnh dao động giữa mê sảng tăng động và mê sảng giảm động; đây là dạng phổ biến nhất. Theo dõi tất cả các dạng mê sảng cần được thực hiện thường quy tại mọi ICU; bất kể dạng nào, nguyên nhân thường giống nhau.
Người bệnh bị mê sảng giảm động ít có khả năng sống sót nhất, tuy nhiên nhóm sống sót có thể có chức năng về lâu dài tốt hơn so với người bệnh bị mê sảng kích động hoặc dạng hỗn hợp.
Người bệnh bị mê sảng giảm động ít có khả năng sống sót nhất, tuy nhiên nhóm sống sót có thể có chức năng về lâu dài tốt hơn so với người bệnh bị mê sảng kích động hoặc dạng hỗn hợp.
Khuyến cáo theo dõi mê sảng thường quy tại giường bệnh cho tất cả bệnh nhân ICU. Phương pháp đánh giá nhầm lẫn cho ICU (CAM-ICU) và Danh sách kiểm tra sàng lọc mê sảng trong hồi sức tích cực (ICDSC) là các công cụ theo dõi mê sảng hợp lệ và đáng tin cậy nhất trong ICU. Cả hai công cụ đều chứng minh các đặc tính trắc nghiệm tâm lý đáng tin cậy và được thiết kế để phát hiện tình trạng mê sảng ở cả bệnh nhân được đặt nội khí quản và không đặt nội khí quản. Đồng thời, cả hai thang đo đều cho thấy độ tin cậy cao giữa điều dưỡng và bác sĩ ICU.
CAM-ICU báo cáo đánh giá tại một mốc thời gian đơn lẻ, trong khi ICDSC báo cáo các quan sát về triệu chứng trong một khoảng thời gian. Cả hai thang đo đều không định lượng mức độ nghiêm trọng của mê sảng mà chỉ ghi nhận sự hiện diện hay vắng mặt. Ngoài ra, cả hai công cụ đều không phân biệt được mê sảng tăng động với mê sảng giảm động; do đó, khuyến cáo sử dụng kết hợp với đánh giá thuốc an thần đã được chứng thực.
Vì mê sảng là biến đổi thất thường về trạng thái tinh thần, bệnh nhân cần được khám sàng lọc nhiều lần mỗi ngày (thường là 1 lần mỗi ca).
CAM-ICU báo cáo đánh giá tại một mốc thời gian đơn lẻ, trong khi ICDSC báo cáo các quan sát về triệu chứng trong một khoảng thời gian. Cả hai thang đo đều không định lượng mức độ nghiêm trọng của mê sảng mà chỉ ghi nhận sự hiện diện hay vắng mặt. Ngoài ra, cả hai công cụ đều không phân biệt được mê sảng tăng động với mê sảng giảm động; do đó, khuyến cáo sử dụng kết hợp với đánh giá thuốc an thần đã được chứng thực.
Vì mê sảng là biến đổi thất thường về trạng thái tinh thần, bệnh nhân cần được khám sàng lọc nhiều lần mỗi ngày (thường là 1 lần mỗi ca).
Việc thăm dò tình trạng ý thức bị thay đổi trong ICU cần bắt đầu từ hiểu biết về chức năng nhận thức nền, bao gồm chứng sa sút trí tuệ đã biết và mức độ độc lập chức năng. Mê sảng theo dòng thời gian (timeline) là cần thiết để phân biệt nguyên nhân do tổn thương thần kinh nguyên phát với di chứng của thuốc, hình thái ngủ bất thường và các rối loạn chuyển hoá.
Cần coi mê sảng đồng thời là dấu hiệu của một bệnh lý đang tiến triển và là một vấn đề cần được điều trị; việc dùng thuốc an thần mà không xem xét nguyên nhân có thể dẫn đến che giấu tình trạng bệnh đang tiến triển.
Cần coi mê sảng đồng thời là dấu hiệu của một bệnh lý đang tiến triển và là một vấn đề cần được điều trị; việc dùng thuốc an thần mà không xem xét nguyên nhân có thể dẫn đến che giấu tình trạng bệnh đang tiến triển.
| Bảng 3. Cá nguyên nhân gây mê sảng | |
|---|---|
| Nhóm | Căn nguyên |
| Mạch máu |
Đột quỵ, xuất huyết, bệnh não chất trắng vùng hố sau có hồi phục, co thắt mạch, đau nửa đầu(Migraine)
|
| Độc chất |
Rượu, thuốc(ma túy) bất hợp pháp, phơi nhiễm nghề nghiệp
|
| Co giật | Cơn co giật có triệu chứng báo trước, trạng thái co giật(động kinh), trạng thái động kinh không co giật, trạng thái sau cơn co giật(sau động kinh) |
| Các cơ quan khác | Gan, ure máu, bệnh tim, bệnh phổi |
| Điện giải | Hạ đường huyết, hạ natri máu, hạ canxi máu, hạ magie máu |
| Khối u | Khối u nguyên phát, di căn, viêm màng não do ung thư, hội chứng cận ung thư |
| Nhiễm trùng | Nhiễm trùng đường tiết niệu, viêm phổi, viêm màng não/viêm não, nhiễm trùng huyết |
| Chấn thương |
Chấn thương trực tiếp, phù nề, tổn thương sợi trục lan tỏa, hội chứng sau chấn động não
|
| Bệnh tự miễn | Lupus thần kinh tâm thần, bệnh não Hashimoto, viêm mạch máu thần kinh trung ương, viêm não hệ viền(limbic) |
| Nội tiết | Suy giáp/cường giáp, trạng thái suy tuyến yên, cường cận giáp/suy cận giáp |
| Dinh dưỡng | Thiếu hụt vitamin B12, bệnh não Wernicke (thiamine), bệnh Marchiafava–Bignami |
| Hội chứng cai thuốc | Thuốc ức chế sự thèm ăn, thuốc trị ho/cảm lạnh, rượu (ngay cả khi không có cơn mê sảng), thuốc ức chế tái hấp thu serotonin có chọn lọc, nicotin, baclofen |
| Thuốc | Thuốc kháng cholinergic, thuốc an thần, thuốc chống loạn thần, thuốc chống nôn, thuốc chống co thắt, thuốc chống trầm cảm ba vòng, thuốc giãn cơ, digoxin, thuốc chống co giật, corticosteroid, lithium, benzodiazepine, opioid, barbiturate |
Danh mục các chẩn đoán góp phần gây mê sảng rất rộng (Bảng 3). Thăm khám thần kinh cẩn thận, đánh giá thuốc và thực hiện các xét nghiệm cơ bản thường giải quyết được đa số nguyên nhân. Thuốc là một trong những nguyên nhân phổ biến nhất gây mê sảng trong ICU. Ngoài các thuốc mới được bổ sung, cần xem xét các thuốc đã được ngừng sử dụng gần đây và có khả năng gây hội chứng cai thuốc, các tương tác thuốc mới hoặc sự thay đổi trong quá trình chuyển hoá của những thuốc mà trước đó bệnh nhân dung nạp tốt.
Cần đặc biệt lưu ý rằng sự khởi phát mới của rối loạn chức năng gan và/hoặc thận có thể làm thay đổi nồng độ thuốc và tác dụng của chúng; ngay cả bệnh nhân cao tuổi cũng có thể xuất hiện mê sảng ngay cả khi đang ở mức “điều trị”.
Cần đặc biệt lưu ý rằng sự khởi phát mới của rối loạn chức năng gan và/hoặc thận có thể làm thay đổi nồng độ thuốc và tác dụng của chúng; ngay cả bệnh nhân cao tuổi cũng có thể xuất hiện mê sảng ngay cả khi đang ở mức “điều trị”.
Trường hợp không tìm thấy nguyên nhân gây mê sảng, cần cân nhắc tư vấn chuyên khoa thần kinh. Một số tình trạng nặng có thể biểu hiện dấu hiệu tinh tế(khó thấy) hoặc thậm chí không có tiêu điểm rõ ràng khi thăm khám. Ví dụ, đột quỵ ở bán cầu não không thuận có thể gây mê sảng mà không kèm liệt nửa người; hoặc chứng mất ngôn ngữ lưu loát có thể bị nhầm lẫn với mê sảng. Bệnh nhân trải qua trạng thái động kinh không co giật có thể chỉ có biểu hiện mê sảng mà không có triệu chứng khác. Chọc dịch não tủy, điện não đồ, hình ảnh học của não và các thăm dò xét nghiệm cụ thể hơn thường được chỉ định trong các tình huống này.
Phòng ngừa mê sảng
Các nghiên cứu cho thấy vận động sớm ở bệnh nhân ICU có thể làm giảm tỷ lệ mắc và thời gian mê sảng, rút ngắn thời gian nằm ICU và nằm viện (LOS) và giảm chi phí nằm viện. Hiện tại không có thử nghiệm chất lượng cao chứng minh hiệu quả của các thuốc dự phòng trong việc ngăn ngừa mê sảng ở nhóm nguy cơ cao; do đó, nhìn chung không được khuyến cáo.
Điều trị mê sảng
Một tiếp cận có phương pháp và toàn diện giúp nhận diện nguyên nhân gây mê sảng ở đa số trường hợp và làm nền tảng cho điều trị. Một kỹ thuật hữu ích nhằm hạn chế đóng góp của chăm sóc ICU thường quy vào sự phát triển mê sảng là yêu cầu người nhà mang các đồ vật quen thuộc (kính, máy trợ thính, đồng hồ, lịch, ảnh của bạn bè và gia đình) đến bên giường và người thân thường xuyên định hướng lại tâm trí cho người bệnh.
Việc bố trí bệnh nhân trong phòng có ánh sáng tự nhiên giúp phục hồi chu kỳ ngủ-thức bình thường; nếu có thể, cần hạn chế tối đa kích thích vào ban đêm. Tiếp theo, cần xem xét các nguyên nhân dược lý như tương tác thuốc và hội chứng cai thuốc, đồng thời cố gắng loại bỏ các thuốc có khả năng gây kích thích (Bảng 3 và bảng 4). Các nguyên nhân thần kinh và can thiệp/biến chứng sau phẫu thuật thần kinh cũng phải được tìm kiếm và điều trị thích hợp. Cuối cùng, cần giải quyết và điều chỉnh mọi rối loạn hoặc rối loạn chức năng chuyển hoá liên quan.
Việc bố trí bệnh nhân trong phòng có ánh sáng tự nhiên giúp phục hồi chu kỳ ngủ-thức bình thường; nếu có thể, cần hạn chế tối đa kích thích vào ban đêm. Tiếp theo, cần xem xét các nguyên nhân dược lý như tương tác thuốc và hội chứng cai thuốc, đồng thời cố gắng loại bỏ các thuốc có khả năng gây kích thích (Bảng 3 và bảng 4). Các nguyên nhân thần kinh và can thiệp/biến chứng sau phẫu thuật thần kinh cũng phải được tìm kiếm và điều trị thích hợp. Cuối cùng, cần giải quyết và điều chỉnh mọi rối loạn hoặc rối loạn chức năng chuyển hoá liên quan.
| Bảng 4. Căn nguyên môi trường gây mê sảng | |
|---|---|
| Căn nguyên | Điều trị |
| Mất định hướng | Định hướng lại thường xuyên |
| Thay đổi chu kỳ giấc ngủ | Cung cấp hoạt động kích thích, tránh xa giường(ngủ) vào ban ngày, không bị gián đoạn(giấc ngủ) vào ban đêm |
| Thiếu nhận cảm | Đeo kính, máy trợ thính, răng giả |
| Giao tiếp kém | Thiết bị hỗ trợ giao tiếp |
| Ống thông(Catheter), dây an toàn(dụng cụ giữ cố định người bệnh) | Tháo ống thông, ống dẫn và dây an toàn càng sớm càng tốt |
| Mất nước | Đánh giá tình trạng mất nước và hydrat hóa(bồi phụ dịch) |
| Suy dinh dưỡng | Cho ăn bằng dinh dưỡng qua đường tĩnh mạch nếu cần thiết |
| Đau | Đánh giá và điều trị đau |
| Bất động | Loại bỏ các dây an toàn sớm, các bài tập vận động, rời khỏi giường |
| Bí tiểu | Đặt ống thông bàng quang hoặc bắt đầu đặt ống thông tiểu theo lịch trình |
| Táo bón | Thuốc sổ nếu cần thiết, bắt đầu thói quen đi tiêu |
| Sốt | Thuốc hạ sốt, theo lịch trình nếu cần thiết |
| Nhiễm trùng | Tìm kiếm và điều trị nhiễm trùng căn bản |
| Hạ O2 máu, tăng CO2 máu | Kiểm tra khí máu động mạch, thông khí hoặc cung cấp oxy khi cần thiết |
Nếu mê sảng vẫn tồn tại dù đã điều trị được các nguyên nhân có thể hoặc nếu việc điều trị (các) nguyên nhân cơ bản không khả thi, có thể chuyển sang điều trị triệu chứng bằng thuốc. Mục tiêu điều trị không nhằm làm cho bệnh nhân mất hẳn tỉnh táo mà nhằm kiểm soát đến mức không gây nguy hiểm cho bản thân bệnh nhân hoặc nhân viên y tế.
Mặc dù mê sảng giảm động thường gặp hơn, không khuyến cáo cố gắng cải thiện mức độ ý thức trong giai đoạn cấp bằng các thuốc hoạt hóa.
Mặc dù mê sảng giảm động thường gặp hơn, không khuyến cáo cố gắng cải thiện mức độ ý thức trong giai đoạn cấp bằng các thuốc hoạt hóa.
Thuốc chống loạn thần không điển hình có thể làm giảm thời gian mê sảng ở người lớn điều trị tại ICU. Trong một nghiên cứu đơn trung, mù đôi, có đối chứng với giả dược, so sánh quetiapine 50 mg hai lần mỗi ngày với giả dược; quetiapine có thể được tăng liều dựa trên số liều haloperidol đột ngột đã dùng trong 24 giờ. Kết quả cho thấy bệnh nhân dùng quetiapine có thời gian điều trị mê sảng ngắn hơn.
Người bệnh được điều trị bằng thuốc chống loạn thần cần được theo dõi chặt chẽ về sốt hoặc gồng cứng (gợi ý hội chứng ác tính do thuốc an thần kinh), các triệu chứng ngoại tháp (run, cử động rập khuôn, loạn trương lực cơ) và kéo dài khoảng QT, có thể dẫn đến rối loạn nhịp tim gây tử vong. Tất cả bệnh nhân nên được đo điện tâm đồ(ECG) nền và theo dõi hàng ngày.
Người bệnh được điều trị bằng thuốc chống loạn thần cần được theo dõi chặt chẽ về sốt hoặc gồng cứng (gợi ý hội chứng ác tính do thuốc an thần kinh), các triệu chứng ngoại tháp (run, cử động rập khuôn, loạn trương lực cơ) và kéo dài khoảng QT, có thể dẫn đến rối loạn nhịp tim gây tử vong. Tất cả bệnh nhân nên được đo điện tâm đồ(ECG) nền và theo dõi hàng ngày.
Dexmedetomidine được coi là thuốc lựa chọn ở những bệnh nhân mê sảng cần truyền tĩnh mạch liên tục thuốc an thần. Hai thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng so sánh dexmedetomidine với thuốc benzodiazepin trong tác dụng an thần cho thấy tình trạng mê sảng giảm khoảng 20% ở nhóm dùng dexmedetomidine. Hiện chưa rõ dexmedetomidine có làm giảm tỷ lệ mê sảng hay các thuốc benzodiazepin có làm tăng nguy cơ mê sảng trong nhóm đối tượng này. Hiện tại không có dữ liệu bổ sung nào ủng hộ việc khuyến cáo các thuốc an thần khác để điều trị mê sảng.
Tài liệu tham khảo
- Sedation and Delirium in the Intensive Care Unit. Theresa Human. Critical Care 2018