GIỚI THIỆU
Theo Hướng dẫn 2024 của Hội tim mạch Châu Âu (ESC), nội dung cập nhật về tăng huyết áp nhấn mạnh mục tiêu giảm biến cố tim mạch hơn là chỉ đơn thuần giảm trị số huyết áp. Tài liệu cũng đưa ra yêu cầu tăng cường đo huyết áp theo định kỳ và thực hiện lối sống lành mạnh nhằm phòng ngừa và kiểm soát bệnh.
- Tăng huyết áp là khi HATT (huyết áp tâm thu) đo tại phòng khám ≥140 mmHg và/hoặc HATTr (huyết áp tâm trương) ≥90 mmHg.
- Huyết áp tăng là khi HATT đo tại phòng khám 120 - 139 mmHg và/hoặc HATTr 70 – 89 mmHg.
- Mục tiêu điều trị HATT 120 – 129 mmHg.
- Điều trị đạt mục tiêu với điều kiện người bệnh phải dung nạp tốt.
- Trị số mục tiêu có thể cao hơn một chút ở người: Hạ huyết áp tư thế có triệu chứng, từ 85 tuổi trở lên, suy yếu từ mức độ trung bình đến nặng, tuổi thọ dự đoán bị hạn chế.
- Nhấn mạnh vai trò của huyết áp ngoài phòng khám đạt 120 – 129 mmHg.
- Cá thể hóa chiến lược điều trị.
KHUYẾN CÁO
Đo huyết áp
Xem thêm:
Phân nhóm khuyến cáo và mức độ bằng chứng
Khi thực hành đo huyết áp, khuyến cáo sử dụng thiết bị đã được kiểm định và hiệu chuẩn, đồng thời bảo đảm thực hiện đúng quy trình đo và áp dụng phương pháp đo nhất quán cho từng bệnh nhân.
I
B
Đo huyết áp ngoài phòng khám để chẩn đoán được khuyến cáo, đặc biệt vì có thể phát hiện đồng thời tình trạng tăng huyết áp áo choàng trắng và tăng huyết áp ẩn giấu. Trong trường hợp không khả thi về vận hành trang thiết bị và/hoặc nguồn lực kinh tế để triển khai đo huyết áp ngoài phòng khám, chẩn đoán tăng huyết áp có thể dựa trên việc đo huyết áp nhiều lần tại phòng khám với kỹ thuật đo chuẩn.
I
B
Phần lớn thiết bị đo huyết áp tự động hiện chưa đủ độ tin cậy để sử dụng trong trường hợp rung nhĩ; trong tình huống này, nếu có thể, nên cân nhắc sử dụng phương pháp đo thủ công dựa trên kỹ thuật nghe thông thường.
IIa
C
Đánh giá hạ huyết áp tư thế (giảm ≥20 mmHg huyết áp tâm thu và/hoặc ≥10 mmHg huyết áp tâm trương sau 1 và/hoặc 3 phút đứng dậy) nên được cân nhắc trong chẩn đoán ban đầu đối với huyết áp tăng hoặc hạ huyết áp. Nếu sau đó xuất hiện triệu chứng gợi ý, tiếp tục cân nhắc thực hiện. Việc đánh giá hạ huyết áp tư thế cần được tiến hành sau khi bệnh nhân nằm hoặc ngồi yên trong 5 phút.
IIa
C
Định nghĩa và phân loại huyết áp tăng (elevated blood pressure) và tăng huyết áp (hypertension), đánh giá nguy cơ bệnh tim mạch
Khuyến cáo sử dụng cách tiếp cận dựa trên yếu tố nguy cơ (risk-based approach) trong điều trị huyết áp tăng. Các đối tượng có nguy cơ cao hơn xuất hiện biến cố tim mạch bao gồm: bệnh thận mạn tính (CKD) mức độ từ trung bình đến nặng; bệnh tim mạch (CVD) đã được xác định; tổn thương cơ quan đích do tăng huyết áp (HMOD); bệnh tiểu đường; hoặc tăng cholesterol máu di truyền.
I
B
Khuyến cáo đối với những người có huyết áp tăng và nguy cơ bệnh tim mạch theo thang điểm
SCORE 2 hoặc SCORE 2-OP
≥10% được xem là nguy cơ cao đối với bệnh tim mạch (phục vụ mục tiêu quản lý huyết áp tăng dựa trên yếu tố nguy cơ, không phụ thuộc tuổi tác).
I
B
Thang điểm
SCORE2-Diabetes
nên được sử dụng để đánh giá nguy cơ bệnh tim mạch ở bệnh nhân tiểu đường tuýp 2 có huyết áp tăng, đặc biệt ở nhóm tuổi dưới 60.
IIa
B
Tiền sử biến chứng trong thai kỳ (đái tháo đường thai kỳ, tăng huyết áp thai kỳ, sinh non, tiền sản giật, một hoặc nhiều lần thai chết lưu, sẩy thai tái phát) được xem là yếu tố điều chỉnh nguy cơ đặc thù theo giới cần cân nhắc nhằm phân loại nguy cơ cao hơn ở các cá nhân có huyết áp tăng và nguy cơ bệnh tim mạch trong 10 năm ở mức biên (từ 5% đến dưới 10%).
IIa
B
Chủng tộc có nguy cơ cao (ví dụ: Chủng Nam Á), tiền sử gia đình mắc bệnh tim mạch do xơ vữa động mạch khởi phát sớm, khó khăn về kinh tế xã hội, rối loạn viêm tự miễn, HIV, và bệnh tâm thần nặng là các yếu tố điều chỉnh nguy cơ chung cho cả hai giới. Các yếu tố này cần được cân nhắc để phân loại nguy cơ cao hơn ở các cá nhân có huyết áp tăng và nguy cơ bệnh tim mạch trong 10 năm ở mức biên (từ 5% đến dưới 10%).
IIa
B
Sau khi đánh giá nguy cơ bệnh tim mạch (CVD) dự đoán trong 10 năm và các yếu tố điều chỉnh nguy cơ CVD không truyền thống, nếu quyết định điều trị hạ huyết áp dựa trên đánh giá nguy cơ vẫn chưa chắc chắn đối với những người có huyết áp tăng, có thể cân nhắc đo điểm số vôi hóa động mạch vành (CAC), mảng xơ vữa động mạch cảnh hoặc đùi bằng siêu âm, các biomarker troponin tim có độ nhạy cao hoặc peptide natriuretic loại B, hoặc độ cứng động mạch bằng cách đo vận tốc sóng mạch nhằm cải thiện phân tầng nguy cơ cho bệnh nhân có nguy cơ CVD trong 10 năm ở mức biên (từ 5% đến dưới 10%) sau khi đã thực hiện quyết định chung và xem xét đến chi phí.
IIb
B
(Khuyến cáo thay đổi so với 2018)
Huyết áp được khuyến cáo phân loại thành huyết áp không tăng, huyết áp tăng và tăng huyết áp để hỗ trợ quyết định điều trị.
Huyết áp được khuyến cáo phân loại thành huyết áp không tăng, huyết áp tăng và tăng huyết áp để hỗ trợ quyết định điều trị.
I
B
(Khuyến cáo thay đổi so với 2018)
Hệ thống SCORE2 được khuyến cáo sử dụng để đánh giá nguy cơ mắc bệnh tim mạch gây tử vong và không tử vong trong 10 năm ở người từ 40–69 tuổi có huyết áp tăng nhưng chưa được coi là nguy cơ cao do bệnh thận mạn tính từ trung bình đến nặng, bệnh tim mạch đã được xác định, tổn thương cơ quan đích do tăng huyết áp (HMOD), tiểu đường, hoặc tăng cholesterol máu do di truyền.
Hệ thống SCORE2 được khuyến cáo sử dụng để đánh giá nguy cơ mắc bệnh tim mạch gây tử vong và không tử vong trong 10 năm ở người từ 40–69 tuổi có huyết áp tăng nhưng chưa được coi là nguy cơ cao do bệnh thận mạn tính từ trung bình đến nặng, bệnh tim mạch đã được xác định, tổn thương cơ quan đích do tăng huyết áp (HMOD), tiểu đường, hoặc tăng cholesterol máu do di truyền.
I
B
(Khuyến cáo thay đổi so với 2018)
Hệ thống SCORE2-OP được khuyến cáo sử dụng để đánh giá nguy cơ mắc bệnh tim mạch gây tử vong và không tử vong trong 10 năm ở người từ 70 tuổi trở lên có huyết áp tăng nhưng chưa được coi là nguy cơ cao do bệnh thận mạn tính từ trung bình đến nặng, bệnh tim mạch đã được xác định, tổn thương cơ quan đích do tăng huyết áp (HMOD), tiểu đường, hoặc tăng cholesterol máu do di truyền.
Hệ thống SCORE2-OP được khuyến cáo sử dụng để đánh giá nguy cơ mắc bệnh tim mạch gây tử vong và không tử vong trong 10 năm ở người từ 70 tuổi trở lên có huyết áp tăng nhưng chưa được coi là nguy cơ cao do bệnh thận mạn tính từ trung bình đến nặng, bệnh tim mạch đã được xác định, tổn thương cơ quan đích do tăng huyết áp (HMOD), tiểu đường, hoặc tăng cholesterol máu do di truyền.
I
B
Chẩn đoán tăng huyết áp và nguyên nhân gây tăng huyết áp
Khuyến cáo về khám sàng lọc khi có cơ hội đối với huyết áp tăng và tăng huyết áp được đề xuất như sau:
- Ít nhất 3 năm/ 1 lần với người < 40 tuổi.
- Ít nhất 1 năm/ 1 lần với người ≥40 tuổi trở.
IIa
C
Những cá nhân có huyết áp tăng nhưng chưa đạt ngưỡng nguy cơ để điều trị hạ huyết áp thì nên cân nhắc đo lại huyết áp và đánh giá nguy cơ trong vòng 1 năm.
IIa
C
Các hình thức sàng lọc khác có thể cân nhắc (như sàng lọc có hệ thống, tự sàng lọc, và sàng lọc không do bác sĩ thực hiện), tùy thuộc vào mức độ khả thi tại từng quốc gia và hệ thống y tế.
IIb
B
Đối với cá nhân có nguy cơ bệnh tim mạch tăng mà kết quả đo huyết áp tại phòng khám nằm trong khoảng 120–139/70–89 mmHg, cần thực hiện: đo huyết áp ngoài phòng khám bằng huyết áp lưu động và/hoặc đo huyết áp tại nhà; hoặc, nếu không khả thi về mặt hậu cần, tiến hành đo huyết áp tại phòng khám nhiều lần trong hơn một lần thăm khám.
I
B
Đánh giá khách quan mức độ tuân thủ điều trị (bằng quan sát trực tiếp khi điều trị hoặc gián tiếp thông qua phát hiện các loại thuốc được kê đơn trong mẫu máu hoặc nước tiểu) được khuyến cáo cân nhắc trong quá trình thăm khám lâm sàng đối với bệnh nhân tăng huyết áp kháng trị nếu có đủ nguồn lực.
IIa
B
Với bệnh nhân đã được chẩn đoán bệnh thận mạn tính từ mức độ trung bình đến nặng, khuyến cáo thực hiện ít nhất mỗi năm một lần các xét nghiệm đo creatinine huyết thanh, eGFR và tỷ lệ albumin/creatinine trong nước tiểu (ACR).
I
C
Thang điểm vôi hóa động mạch vành có thể được cân nhắc cho bệnh nhân có huyết áp tăng hoặc tăng huyết áp khi thang điểm này có khả năng thay đổi quyết định quản lý điều trị của bệnh nhân.
IIb
B
Bệnh nhân tăng huyết áp kháng trị được xem xét chuyển đến các trung tâm lâm sàng có kinh nghiệm về quản lý huyết áp để thực hiện các xét nghiệm bổ sung.
IIa
B
Khuyến cáo sàng lọc tăng huyết áp thứ phát ở những người tăng huyết áp có dấu hiệu gợi ý (triệu chứng, tiền sử bệnh lý liên quan).
I
B
Cân nhắc sàng lọc cường aldosteron nguyên phát bằng cách đo renin và aldosterone cho tất cả người lớn được chẩn đoán tăng huyết áp (Huyết Áp ≥ 140/90 mmHg).
IIa
B
(Khuyến cáo thay đổi so với 2018)
Khi huyết áp đo tại phòng khám đạt 140–159/ 90–99 mmHg, chẩn đoán tăng huyết áp nên dựa trên đo huyết áp ngoài phòng khám bằng huyết áp lưu động và/hoặc huyết áp tại nhà. Nếu các phép đo này không khả thi về mặt hậu cần hoặc kinh tế, chẩn đoán có thể dựa trên các lần đo huyết áp tại phòng khám lặp lại qua hơn một lần thăm khám.
Khi huyết áp đo tại phòng khám đạt 140–159/ 90–99 mmHg, chẩn đoán tăng huyết áp nên dựa trên đo huyết áp ngoài phòng khám bằng huyết áp lưu động và/hoặc huyết áp tại nhà. Nếu các phép đo này không khả thi về mặt hậu cần hoặc kinh tế, chẩn đoán có thể dựa trên các lần đo huyết áp tại phòng khám lặp lại qua hơn một lần thăm khám.
I
B
(Khuyến cáo thay đổi so với 2018)
Khi huyết áp sàng lọc tại phòng khám là ≥160/100 mmHg:
Khi huyết áp sàng lọc tại phòng khám là ≥160/100 mmHg:
- Khuyến cáo xác định huyết áp 160–179/100–109 mmHg càng sớm càng tốt (ví dụ: trong vòng 1 tháng), ưu tiên thông qua đo huyết áp tại nhà hoặc đo huyết áp lưu động.
- Khi huyết áp ≥180/110 mmHg, cần loại trừ tình trạng tăng huyết áp cấp cứu.
I
C
(Khuyến cáo thay đổi so với 2018)
Khuyến cáo siêu âm tim ở bệnh nhân tăng huyết áp khi có bất thường trên điện tâm đồ (ECG) hoặc có dấu hiệu/ triệu chứng gợi ý bệnh tim.
Khuyến cáo siêu âm tim ở bệnh nhân tăng huyết áp khi có bất thường trên điện tâm đồ (ECG) hoặc có dấu hiệu/ triệu chứng gợi ý bệnh tim.
I
B
(Khuyến cáo thay đổi so với 2018)
Siêu âm tim có thể được cân nhắc ở bệnh nhân có huyết áp tăng, đặc biệt khi kết quả có khả năng làm thay đổi quản lý điều trị.
Siêu âm tim có thể được cân nhắc ở bệnh nhân có huyết áp tăng, đặc biệt khi kết quả có khả năng làm thay đổi quản lý điều trị.
IIb
B
(Khuyến cáo thay đổi so với 2018)
Siêu âm động mạch cảnh hoặc động mạch đùi nhằm phát hiện mảng xơ vữa có thể được cân nhắc ở bệnh nhân có huyết áp tăng hoặc tăng huyết áp khi việc phát hiện này có khả năng thay đổi quản lý điều trị của bệnh nhân.
Siêu âm động mạch cảnh hoặc động mạch đùi nhằm phát hiện mảng xơ vữa có thể được cân nhắc ở bệnh nhân có huyết áp tăng hoặc tăng huyết áp khi việc phát hiện này có khả năng thay đổi quản lý điều trị của bệnh nhân.
IIb
B
(Khuyến cáo thay đổi so với 2018)
Đo vận tốc lan truyền sóng mạch (PWV) có thể được cân nhắc ở bệnh nhân có huyết áp tăng hoặc tăng huyết áp khi kết quả có khả năng làm thay đổi quản lý điều trị.
Đo vận tốc lan truyền sóng mạch (PWV) có thể được cân nhắc ở bệnh nhân có huyết áp tăng hoặc tăng huyết áp khi kết quả có khả năng làm thay đổi quản lý điều trị.
IIb
B
(Khuyến cáo thay đổi so với 2018)
Siêu âm động mạch cảnh hoặc động mạch đùi nhằm phát hiện mảng xơ vữa có thể được cân nhắc ở bệnh nhân có huyết áp tăng hoặc tăng huyết áp khi việc phát hiện này có khả năng làm thay đổi quản lý điều trị.
Siêu âm động mạch cảnh hoặc động mạch đùi nhằm phát hiện mảng xơ vữa có thể được cân nhắc ở bệnh nhân có huyết áp tăng hoặc tăng huyết áp khi việc phát hiện này có khả năng làm thay đổi quản lý điều trị.
IIb
B
(Khuyến cáo thay đổi so với 2018)
Đo vận tốc lan truyền sóng mạch (PWV) có thể được cân nhắc ở bệnh nhân có huyết áp tăng hoặc tăng huyết áp khi việc đánh giá này có khả năng làm thay đổi quản lý điều trị.
Đo vận tốc lan truyền sóng mạch (PWV) có thể được cân nhắc ở bệnh nhân có huyết áp tăng hoặc tăng huyết áp khi việc đánh giá này có khả năng làm thay đổi quản lý điều trị.
IIb
B
Phòng ngừa và điều trị huyết áp tăng
Cân nhắc khám sàng lọc khi có cơ hội bằng đo huyết áp tại phòng khám để theo dõi tiến triển của huyết áp trong giai đoạn cuối thời kỳ thiếu nhi và thanh thiếu niên, đặc biệt khi một hoặc cả cha mẹ mắc tăng huyết áp. Mục đích là dự đoán tốt hơn sự phát triển của tăng huyết áp ở người trưởng thành và nguy cơ bệnh tim mạch liên quan.
IIa
B
Khuyến cáo hạn chế tiêu thụ đường tự do tối đa 10% tổng năng lượng tiêu thụ, đặc biệt từ các loại đồ uống có đường. Không khuyến khích tiêu thụ đồ uống có đường (như nước ngọt và nước ép trái cây) từ khi còn nhỏ.
I
B
Đối với bệnh nhân bị tăng huyết áp không có bệnh thận mạn tính từ trung bình đến nặng và có lượng natri tiêu thụ hàng ngày cao, nên cân nhắc tăng lượng kali tiêu thụ thêm 0,5-1,0 g/ngày - ví dụ bằng cách thay thế natri bằng muối giàu kali (gồm 75% natri clorua và 25% kali clorua) hoặc thông qua chế độ ăn giàu trái cây và rau củ.
IIa
A
Đối với bệnh nhân bệnh thận mạn tính hoặc đang dùng các thuốc giữ kali như một số loại thuốc lợi tiểu, thuốc ức chế men chuyển, thuốc chẹn thụ thể angiotensin hoặc spironolacton, nên cân nhắc theo dõi nồng độ kali trong huyết thanh nếu đang tăng lượng kali trong chế độ ăn.
IIa
C
Khuyến cáo uống thuốc vào thời điểm thuận tiện nhất trong ngày đối với bệnh nhân nhằm hình thành thói quen sử dụng thuốc đều đặn, từ đó cải thiện tuân thủ điều trị.
I
B
Ở người lớn có huyết áp tăng và nguy cơ bệnh tim mạch thấp/trung bình (<10% trong 10 năm), khuyến cáo hạ huyết áp bằng biện pháp thay đổi lối sống; việc này có thể góp phần giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch.
I
B
Ở người lớn có huyết áp tăng và nguy cơ bệnh tim mạch cao, sau 3 tháng can thiệp cải thiện lối sống, khuyến cáo dùng thuốc hạ huyết áp đối với những cá nhân có huyết áp là ≥130/80 mmHg để giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch.
I
A
Khuyến cáo đối với những bệnh nhân tăng huyết áp đã chẩn đoán xác định với huyết áp ≥140/90 mmHg, bất kể nguy cơ bệnh tim mạch là gì: cần bắt đầu ngay các biện pháp thay đổi lối sống và sử dụng thuốc hạ huyết áp nhằm giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch.
I
A
Duy trì điều trị bằng thuốc hạ huyết áp suốt đời được khuyến cáo, kể cả khi vượt qua tuổi 85, nếu người bệnh dung nạp tốt.
I
A
Điều trị hạ huyết áp chỉ nên được xem xét từ mức ≥140/90 mmHg (đo tại phòng khám) ở những người đáp ứng các tiêu chí sau (do lợi ích giảm bệnh lý tim mạch trong các tình huống này chưa chắc chắn và cần theo dõi chặt chẽ khả năng dung nạp điều trị):
- Hạ huyết áp tư thế có triệu chứng trước điều trị;
- Tuổi >85;
- Suy yếu trung bình đến nặng có ý nghĩa lâm sàng và/hoặc tuổi thọ dự đoán còn ít (<3 năm).
IIa
B
Khi điều trị hạ huyết áp dung nạp kém và không thể đạt mục tiêu huyết áp tâm thu 120–129 mmHg, khuyến cáo lựa chọn mức huyết áp tâm thu “thấp nhất có thể đạt được một cách hợp lý” theo nguyên tắc ALARA.
I
A
Sau khi huyết áp được kiểm soát và ổn định dưới điều trị bằng thuốc hạ huyết áp, nên cân nhắc theo dõi huyết áp và các yếu tố nguy cơ tim mạch khác ít nhất mỗi năm một lần.
IIa
C
(Khuyến cáo thay đổi so với 2018)
Người bệnh được khuyến nghị tập thể dục aerobic với cường độ vừa phải tối thiểu 150 phút/tuần (≥30 phút, 5–7 ngày/tuần) hoặc thay thế bằng 75 phút tập aerobic cường độ cao mỗi tuần trong 3 ngày; đồng thời bổ sung các bài tập kháng lực động hoặc tĩnh với cường độ thấp hoặc vừa (2–3 lần/tuần) để giảm huyết áp và nguy cơ bệnh tim mạch.
Người bệnh được khuyến nghị tập thể dục aerobic với cường độ vừa phải tối thiểu 150 phút/tuần (≥30 phút, 5–7 ngày/tuần) hoặc thay thế bằng 75 phút tập aerobic cường độ cao mỗi tuần trong 3 ngày; đồng thời bổ sung các bài tập kháng lực động hoặc tĩnh với cường độ thấp hoặc vừa (2–3 lần/tuần) để giảm huyết áp và nguy cơ bệnh tim mạch.
I
A
(Khuyến cáo thay đổi so với 2018)
Mục tiêu duy trì chỉ số BMI ở mức ổn định và khỏe mạnh (20–25 kg/m²) cùng với số đo vòng eo (<94 cm ở nam và <80 cm ở nữ) được khuyến cáo nhằm giảm huyết áp và nguy cơ bệnh tim mạch (CVD).
Mục tiêu duy trì chỉ số BMI ở mức ổn định và khỏe mạnh (20–25 kg/m²) cùng với số đo vòng eo (<94 cm ở nam và <80 cm ở nữ) được khuyến cáo nhằm giảm huyết áp và nguy cơ bệnh tim mạch (CVD).
I
A
(Khuyến cáo thay đổi so với 2018)
Khuyến cáo áp dụng chế độ ăn uống lành mạnh và cân bằng, như chế độ ăn Địa Trung Hải hoặc DASH, để hỗ trợ giảm huyết áp và nguy cơ bệnh tim mạch.
Khuyến cáo áp dụng chế độ ăn uống lành mạnh và cân bằng, như chế độ ăn Địa Trung Hải hoặc DASH, để hỗ trợ giảm huyết áp và nguy cơ bệnh tim mạch.
I
A
(Khuyến cáo thay đổi so với 2018)
Hạn chế sử dụng rượu nhiều hơn giới hạn trên, tương đương khoảng 100 g rượu nguyên chất mỗi tuần. Lượng đồ uống cụ thể phụ thuộc vào tiêu chuẩn mỗi quốc gia, nhưng đa số các loại đồ uống chứa từ 8–14 g rượu mỗi ly. Tốt nhất là tránh uống rượu để đạt kết quả sức khỏe tối ưu.
Hạn chế sử dụng rượu nhiều hơn giới hạn trên, tương đương khoảng 100 g rượu nguyên chất mỗi tuần. Lượng đồ uống cụ thể phụ thuộc vào tiêu chuẩn mỗi quốc gia, nhưng đa số các loại đồ uống chứa từ 8–14 g rượu mỗi ly. Tốt nhất là tránh uống rượu để đạt kết quả sức khỏe tối ưu.
I
B
(Khuyến cáo thay đổi so với 2018)
Trong các thuốc hạ huyết áp, thuốc ức chế men chuyển (ACEI), thuốc chẹn thụ thể angiotensin (ARB), thuốc chẹn kênh calci dihydropyridine và thuốc lợi tiểu (thiazide và các thuốc tương tự thiazide như chlorthalidone và indapamide) cho thấy hiệu quả nhất trong giảm huyết áp và các biến cố tim mạch. Vì vậy, các nhóm thuốc này được khuyến cáo là lựa chọn điều trị khởi đầu.
Trong các thuốc hạ huyết áp, thuốc ức chế men chuyển (ACEI), thuốc chẹn thụ thể angiotensin (ARB), thuốc chẹn kênh calci dihydropyridine và thuốc lợi tiểu (thiazide và các thuốc tương tự thiazide như chlorthalidone và indapamide) cho thấy hiệu quả nhất trong giảm huyết áp và các biến cố tim mạch. Vì vậy, các nhóm thuốc này được khuyến cáo là lựa chọn điều trị khởi đầu.
I
A
(Khuyến cáo thay đổi so với 2018)
Nếu Huyết Áp không được kiểm soát bằng liệu pháp kết hợp ba loại thuốc và spironolactone không hiệu quả hoặc không được dung nạp, nên cân nhắc eplerenone thay cho spironolactone, hoặc bổ sung thuốc chẹn beta khi chưa được chỉ định. Sau đó có thể xem xét các thuốc hạ huyết áp trung ương, thuốc chẹn alpha, hydralazine, hoặc thuốc lợi tiểu giữ kali.
Nếu Huyết Áp không được kiểm soát bằng liệu pháp kết hợp ba loại thuốc và spironolactone không hiệu quả hoặc không được dung nạp, nên cân nhắc eplerenone thay cho spironolactone, hoặc bổ sung thuốc chẹn beta khi chưa được chỉ định. Sau đó có thể xem xét các thuốc hạ huyết áp trung ương, thuốc chẹn alpha, hydralazine, hoặc thuốc lợi tiểu giữ kali.
IIa
B
(Khuyến cáo thay đổi so với 2018) - huyết áp mục tiêu
Nhằm giảm nguy cơ bệnh tim mạch, khuyến cáo trị số huyết áp tâm thu đạt được điều trị ở hầu hết người lớn nên ở mức 120–129 mmHg với điều kiện điều trị được dung nạp tốt.
Nhằm giảm nguy cơ bệnh tim mạch, khuyến cáo trị số huyết áp tâm thu đạt được điều trị ở hầu hết người lớn nên ở mức 120–129 mmHg với điều kiện điều trị được dung nạp tốt.
I
A
(Khuyến cáo thay đổi so với 2018) - huyết áp mục tiêu
Trong trường hợp huyết áp tâm thu đã điều trị đạt hoặc dưới mức mục tiêu (120–129 mmHg) nhưng huyết áp tâm trương chưa đạt mục tiêu (≥80 mmHg), nên cân nhắc tăng cường điều trị hạ huyết áp để đạt huyết áp tâm trương sau điều trị ở mức 70–79 mmHg nhằm giảm nguy cơ bệnh tim mạch.
Trong trường hợp huyết áp tâm thu đã điều trị đạt hoặc dưới mức mục tiêu (120–129 mmHg) nhưng huyết áp tâm trương chưa đạt mục tiêu (≥80 mmHg), nên cân nhắc tăng cường điều trị hạ huyết áp để đạt huyết áp tâm trương sau điều trị ở mức 70–79 mmHg nhằm giảm nguy cơ bệnh tim mạch.
IIb
C
(Khuyến cáo thay đổi so với 2018) - huyết áp mục tiêu
Lợi ích của việc điều trị huyết áp tâm thu ở mức mục tiêu 120–129 mmHg có thể không áp dụng chung cho một số trường hợp cụ thể; do đó cần cân nhắc các mục tiêu huyết áp tâm thu cá nhân hóa và cao hơn mức mục tiêu (ví dụ: <140 mmHg) đối với bệnh nhân đáp ứng các tiêu chí sau:
Lợi ích của việc điều trị huyết áp tâm thu ở mức mục tiêu 120–129 mmHg có thể không áp dụng chung cho một số trường hợp cụ thể; do đó cần cân nhắc các mục tiêu huyết áp tâm thu cá nhân hóa và cao hơn mức mục tiêu (ví dụ: <140 mmHg) đối với bệnh nhân đáp ứng các tiêu chí sau:
- Hạ huyết áp tư thế có triệu chứng trước khi điều trị; Và/hoặc tuổi ≥85 năm.
IIa
C
(Khuyến cáo thay đổi so với 2018) - huyết áp mục tiêu
Lợi ích của việc điều trị huyết áp tâm thu ở mức mục tiêu 120–129 mmHg có thể không áp dụng chung cho một số trường hợp cụ thể; vì vậy cân nhắc các mục tiêu huyết áp tâm thu cá nhân hóa và cao hơn mức mục tiêu (ví dụ: <140 mmHg) đối với bệnh nhân đáp ứng các tiêu chí sau:
Lợi ích của việc điều trị huyết áp tâm thu ở mức mục tiêu 120–129 mmHg có thể không áp dụng chung cho một số trường hợp cụ thể; vì vậy cân nhắc các mục tiêu huyết áp tâm thu cá nhân hóa và cao hơn mức mục tiêu (ví dụ: <140 mmHg) đối với bệnh nhân đáp ứng các tiêu chí sau:
- Tình trạng suy yếu có ý nghĩa lâm sàng từ mức độ trung bình đến nặng ở bất kỳ độ tuổi nào; Và/hoặc tuổi thọ dự đoán còn ít (<3 năm).
IIb
C
(Khuyến cáo thay đổi so với 2018) - Cắt đốt thần kinh thận
Thực hiện tại một trung tâm quy mô trung bình đến lớn, phương pháp cắt đốt thần kinh thận qua ống thông có thể được cân nhắc để giảm huyết áp cho bệnh nhân tăng huyết áp kháng trị, không kiểm soát được huyết áp mặc dù đã sử dụng kết hợp ba loại thuốc hạ huyết áp (bao gồm thuốc lợi tiểu thiazide hoặc tương tự thiazide). Bệnh nhân mong muốn thực hiện cắt đốt thần kinh thận sau khi đã thảo luận về lợi ích và rủi ro, cũng như được đánh giá đa chuyên khoa.
Thực hiện tại một trung tâm quy mô trung bình đến lớn, phương pháp cắt đốt thần kinh thận qua ống thông có thể được cân nhắc để giảm huyết áp cho bệnh nhân tăng huyết áp kháng trị, không kiểm soát được huyết áp mặc dù đã sử dụng kết hợp ba loại thuốc hạ huyết áp (bao gồm thuốc lợi tiểu thiazide hoặc tương tự thiazide). Bệnh nhân mong muốn thực hiện cắt đốt thần kinh thận sau khi đã thảo luận về lợi ích và rủi ro, cũng như được đánh giá đa chuyên khoa.
IIb
B
(Khuyến cáo thay đổi so với 2018) - Cắt đốt thần kinh thận
Thực hiện tại một trung tâm quy mô trung bình đến lớn, phương pháp cắt đốt thần kinh thận qua ống thông có thể được cân nhắc để giảm huyết áp cho bệnh nhân có nguy cơ bệnh tim mạch cao và tăng huyết áp không kiểm soát được khi đã dùng dưới ba loại thuốc. Bệnh nhân mong muốn thực hiện cắt đốt thần kinh thận sau khi đã thảo luận về lợi ích và rủi ro, cũng như được đánh giá đa chuyên khoa.
Thực hiện tại một trung tâm quy mô trung bình đến lớn, phương pháp cắt đốt thần kinh thận qua ống thông có thể được cân nhắc để giảm huyết áp cho bệnh nhân có nguy cơ bệnh tim mạch cao và tăng huyết áp không kiểm soát được khi đã dùng dưới ba loại thuốc. Bệnh nhân mong muốn thực hiện cắt đốt thần kinh thận sau khi đã thảo luận về lợi ích và rủi ro, cũng như được đánh giá đa chuyên khoa.
IIb
A
(Khuyến cáo thay đổi so với 2018) - Cắt đốt thần kinh thận
Do thiếu các thử nghiệm lâm sàng đủ mạnh để chứng minh tính an toàn và lợi ích đối với bệnh tim mạch, cắt đốt thần kinh thận không được khuyến cáo như biện pháp hạ huyết áp hàng đầu trong điều trị tăng huyết áp.
Do thiếu các thử nghiệm lâm sàng đủ mạnh để chứng minh tính an toàn và lợi ích đối với bệnh tim mạch, cắt đốt thần kinh thận không được khuyến cáo như biện pháp hạ huyết áp hàng đầu trong điều trị tăng huyết áp.
III
C
(Khuyến cáo thay đổi so với 2018) - Cắt đốt thần kinh thận
Không khuyến cáo cắt đốt thần kinh thận để điều trị tăng huyết áp ở bệnh nhân có chức năng thận suy giảm từ trung bình đến nặng (eGFR <40 mL/phút/1,73 m²) hoặc có nguyên nhân thứ phát gây tăng huyết áp, cho đến khi có thêm bằng chứng.
Không khuyến cáo cắt đốt thần kinh thận để điều trị tăng huyết áp ở bệnh nhân có chức năng thận suy giảm từ trung bình đến nặng (eGFR <40 mL/phút/1,73 m²) hoặc có nguyên nhân thứ phát gây tăng huyết áp, cho đến khi có thêm bằng chứng.
III
C
Quản lý các nhóm bệnh nhân hoặc tình huống cụ thể - Người trẻ tuổi
Khuyến cáo thực hiện sàng lọc toàn diện các nguyên nhân chính gây tăng huyết áp thứ phát ở người lớn được chẩn đoán tăng huyết áp trước 40 tuổi. Trường hợp người trẻ tuổi bị béo phì, khuyến nghị bắt đầu bằng đánh giá hội chứng ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn.
I
B
SCORE2 chưa được xác thực cho những người dưới 40 tuổi, vì vậy nên cân nhắc sàng lọc tổn thương cơ quan đích do tăng huyết áp (HMOD) ở người trẻ tuổi có huyết áp tăng mà không có các yếu tố nguy cơ bệnh tim mạch khác để xác định những cá nhân có thể cần điều trị y tế.
IIb
B
Quản lý các nhóm bệnh nhân hoặc tình huống cụ thể - Tăng huyết áp ở phụ nữ có thai
Sau khi tham khảo ý kiến của bác sĩ sản khoa, khuyến cáo tập thể dục với cường độ thấp đến trung bình cho tất cả phụ nữ mang thai không có chống chỉ định nhằm giảm nguy cơ tăng huyết áp thai kỳ và tiền sản giật.
I
B
Cân nhắc sử dụng đo huyết áp lưu động và/hoặc đo huyết áp tại nhà để loại trừ tăng huyết áp áo choàng trắng và tăng huyết áp ẩn giấu, do các tình trạng này thường gặp hơn trong thai kỳ.
IIa
C
(Khuyến cáo thay đổi so với 2018)
Ở phụ nữ bị tăng huyết áp thai kỳ, việc bắt đầu điều trị bằng thuốc được khuyến cáo cho những người có huyết áp tâm thu đã được xác nhận là ≥140 mmHg hoặc huyết áp tâm trương ≥90 mmHg.
Ở phụ nữ bị tăng huyết áp thai kỳ, việc bắt đầu điều trị bằng thuốc được khuyến cáo cho những người có huyết áp tâm thu đã được xác nhận là ≥140 mmHg hoặc huyết áp tâm trương ≥90 mmHg.
I
B
(Khuyến cáo thay đổi so với 2018)
Ở phụ nữ mang thai bị tăng huyết áp mạn tính, khuyến cáo bắt đầu điều trị bằng thuốc cho những người có huyết áp tâm thu đo tại phòng khám là ≥140 mmHg hoặc huyết áp tâm trương ≥90 mmHg.
Ở phụ nữ mang thai bị tăng huyết áp mạn tính, khuyến cáo bắt đầu điều trị bằng thuốc cho những người có huyết áp tâm thu đo tại phòng khám là ≥140 mmHg hoặc huyết áp tâm trương ≥90 mmHg.
I
B
(Khuyến cáo thay đổi so với 2018)
Ở phụ nữ mang thai bị tăng huyết áp mạn tính và tăng huyết áp thai kỳ, khuyến cáo hạ huyết áp xuống dưới mức 140/90 mmHg nhưng không được thấp hơn 80 mmHg đối với huyết áp tâm trương.
Ở phụ nữ mang thai bị tăng huyết áp mạn tính và tăng huyết áp thai kỳ, khuyến cáo hạ huyết áp xuống dưới mức 140/90 mmHg nhưng không được thấp hơn 80 mmHg đối với huyết áp tâm trương.
I
C
(Khuyến cáo thay đổi so với 2018)
Huyết áp tâm thu ≥160 mmHg hoặc huyết áp tâm trương ≥110 mmHg trong thai kỳ có thể gợi ý tình trạng khẩn cấp; cần cân nhắc nhập viện ngay lập tức.
Huyết áp tâm thu ≥160 mmHg hoặc huyết áp tâm trương ≥110 mmHg trong thai kỳ có thể gợi ý tình trạng khẩn cấp; cần cân nhắc nhập viện ngay lập tức.
IIa
C
Quản lý các nhóm bệnh nhân hoặc tình huống cụ thể - Bệnh nhân cao tuổi và tình trạng suy yếu
Khuyến cáo điều trị huyết áp tăng và tăng huyết áp ở bệnh nhân lớn tuổi (dưới 85 tuổi), không bị suy yếu từ mức độ trung bình đến nặng, nên tuân theo các hướng dẫn tương tự đối với người trẻ tuổi, với điều kiện là việc điều trị hạ huyết áp được dung nạp tốt.
I
A
Khi khởi trị hạ huyết áp ở bệnh nhân từ 85 tuổi trở lên và/hoặc có tình trạng suy yếu từ mức độ trung bình đến nặng (ở bất kỳ độ tuổi nào), nên cân nhắc dùng thuốc chẹn kênh calci dihydropyridine tác dụng kéo dài hoặc thuốc ức chế hệ renin-angiotensin (RAS). Sau đó, nếu cần thiết, có thể thêm thuốc lợi tiểu liều thấp nếu dung nạp được. Tuy nhiên, không ưu tiên dùng thuốc chẹn beta (trừ khi có chỉ định bắt buộc) hoặc thuốc chẹn alpha.
IIa
B
Do tính an toàn và hiệu quả của điều trị huyết áp kém chắc chắn hơn ở những người suy yếu từ mức độ trung bình đến nặng, bác sĩ nên cân nhắc sàng lọc tình trạng suy yếu ở người cao tuổi bằng các công cụ lâm sàng đã được kiểm định. Các ưu tiên về sức khỏe của người bệnh suy yếu và phương pháp quyết định chung cần được cân nhắc khi xác định chiến lược điều trị và mục tiêu huyết áp.
IIa
C
Quản lý các nhóm bệnh nhân hoặc tình huống cụ thể - Tăng huyết áp và hạ huyết áp tư thế
Trước khi bắt đầu hoặc tăng liều dùng thuốc điều trị hạ huyết áp, khuyến cáo kiểm tra hạ huyết áp tư thế bằng cách cho bệnh nhân ngồi hoặc nằm trong 5 phút, sau đó đo huyết áp sau 1 và/hoặc 3 phút khi đứng dậy.
I
B
Khuyến cáo áp dụng biện pháp không dùng thuốc là biện pháp điều trị đầu tiên đối với hạ huyết áp tư thế ở những người có tăng huyết áp khi nằm. Với nhóm này, khuyến cáo điều chỉnh thay đổi các thuốc hạ huyết áp đang làm nặng tình trạng hạ huyết áp tư thế sang thuốc hạ huyết áp khác, thay vì chỉ đơn giản giảm cường độ điều trị.
I
A
Ở bệnh nhân tăng huyết áp kèm bệnh thận mạn tính và eGFR >20 mL/phút/1,73 m², khuyến cáo sử dụng thuốc ức chế SGLT2 để cải thiện kết quả điều trị do các thuốc này có đặc tính hạ huyết áp mức độ nhẹ.
I
A
Quản lý các nhóm bệnh nhân hoặc tình huống cụ thể - Các tình trạng khác
Khuyến cáo điều trị bằng thuốc cho những người bị tiền đái tháo đường hoặc béo phì khi: huyết áp đo tại phòng khám ≥140/90 mmHg; hoặc huyết áp tại phòng khám là 130–139/80-89 mmHg và bệnh nhân có nguy cơ mắc bệnh tim mạch trong 10 năm dự đoán là ≥10%; hoặc có nguy cơ cao, mặc dù đã trải qua tối đa 3 tháng điều trị bằng thay đổi lối sống.
I
A
Ở những bệnh nhân có tiền sử hẹp van động mạch chủ và/hoặc hở van động mạch chủ cần điều trị hạ huyết áp, nên cân nhắc sử dụng thuốc chẹn hệ reninangiotensin (RAS) như một phần của điều trị.
IIa
C
Ở những bệnh nhân có tiền sử hở van hai lá từ mức độ trung bình đến nặng cần điều trị hạ huyết áp, nên cân nhắc sử dụng thuốc chẹn hệ reninangiotensin (RAS) như một phần của điều trị.
IIa
C
(Khuyến cáo thay đổi so với 2018) - Đái tháo đường
Ở hầu hết người lớn có huyết áp tăng và đái tháo đường, sau tối đa 3 tháng can thiệp lối sống, việc hạ huyết áp bằng thuốc được khuyến cáo cho những người có huyết áp đo tại phòng khám ≥130/80 mmHg nhằm giảm nguy cơ bệnh tim mạch.
Ở hầu hết người lớn có huyết áp tăng và đái tháo đường, sau tối đa 3 tháng can thiệp lối sống, việc hạ huyết áp bằng thuốc được khuyến cáo cho những người có huyết áp đo tại phòng khám ≥130/80 mmHg nhằm giảm nguy cơ bệnh tim mạch.
I
A
(Khuyến cáo thay đổi so với 2018) - Đái tháo đường
Đối với người đái tháo đường đang sử dụng thuốc hạ huyết áp, mục tiêu huyết áp tâm thu được khuyến cáo là 120–129 mmHg nếu dung nạp được.
Đối với người đái tháo đường đang sử dụng thuốc hạ huyết áp, mục tiêu huyết áp tâm thu được khuyến cáo là 120–129 mmHg nếu dung nạp được.
I
A
(Khuyến cáo thay đổi so với 2018) - Bệnh thận mạn tính
Ở những bệnh nhân bệnh thận mạn tính mức độ từ trung bình đến nặng do đái tháo đường hoặc không do đái tháo đường và có huyết áp ≥130/80 mmHg, khuyến cáo thay đổi lối sống và điều trị bằng thuốc hạ huyết áp nhằm giảm nguy cơ bệnh tim mạch, với điều kiện dung nạp tốt.
Ở những bệnh nhân bệnh thận mạn tính mức độ từ trung bình đến nặng do đái tháo đường hoặc không do đái tháo đường và có huyết áp ≥130/80 mmHg, khuyến cáo thay đổi lối sống và điều trị bằng thuốc hạ huyết áp nhằm giảm nguy cơ bệnh tim mạch, với điều kiện dung nạp tốt.
I
A
(Khuyến cáo thay đổi so với 2018) - Bệnh thận mạn tính
Đối với người lớn bị bệnh thận mạn tính mức độ từ trung bình đến nặng đang dùng thuốc hạ huyết áp và có eGFR >30 mL/phút/1,73 m², khuyến cáo mục tiêu huyết áp tâm thu là 120–129 mmHg nếu dung nạp được. Mục tiêu huyết áp cá nhân hóa được khuyến cáo cho những người có eGFR thấp hơn hoặc đã ghép thận.
Đối với người lớn bị bệnh thận mạn tính mức độ từ trung bình đến nặng đang dùng thuốc hạ huyết áp và có eGFR >30 mL/phút/1,73 m², khuyến cáo mục tiêu huyết áp tâm thu là 120–129 mmHg nếu dung nạp được. Mục tiêu huyết áp cá nhân hóa được khuyến cáo cho những người có eGFR thấp hơn hoặc đã ghép thận.
I
A
(Khuyến cáo thay đổi so với 2018) - Bệnh thận mạn tính
Thuốc ức chế men chuyển ACE hoặc thuốc chẹn thụ thể angiotensin ARB có hiệu quả hơn trong giảm albumin niệu so với các thuốc hạ huyết áp khác, do đó nên cân nhắc chúng như một phần của chiến lược điều trị đối với bệnh nhân tăng huyết áp có biểu hiện albumin niệu hoặc protein niệu.
Thuốc ức chế men chuyển ACE hoặc thuốc chẹn thụ thể angiotensin ARB có hiệu quả hơn trong giảm albumin niệu so với các thuốc hạ huyết áp khác, do đó nên cân nhắc chúng như một phần của chiến lược điều trị đối với bệnh nhân tăng huyết áp có biểu hiện albumin niệu hoặc protein niệu.
IIa
B
(Khuyến cáo thay đổi so với 2018) - Suy tim
Đối với bệnh nhân suy tim phân suất tống máu giảm (HFrEF) hoặc phân suất tống máu giảm nhẹ (HfrmEF) có triệu chứng, các phương pháp điều trị có tác dụng hạ huyết áp sau đây được khuyến cáo nhằm cải thiện kết cục: thuốc ức chế men chuyển ACE (hoặc ARB nếu không dung nạp thuốc ức chế ACE) hoặc ARNi; thuốc chẹn beta; thuốc đối kháng thụ thể mineralocorticoid (MRA); và thuốc ức chế SGLT2.
Đối với bệnh nhân suy tim phân suất tống máu giảm (HFrEF) hoặc phân suất tống máu giảm nhẹ (HfrmEF) có triệu chứng, các phương pháp điều trị có tác dụng hạ huyết áp sau đây được khuyến cáo nhằm cải thiện kết cục: thuốc ức chế men chuyển ACE (hoặc ARB nếu không dung nạp thuốc ức chế ACE) hoặc ARNi; thuốc chẹn beta; thuốc đối kháng thụ thể mineralocorticoid (MRA); và thuốc ức chế SGLT2.
I
A
(Khuyến cáo thay đổi so với 2018) - Suy tim
Đối với bệnh nhân tăng huyết áp có suy tim phân suất tống máu bảo tồn (HFpEF) có triệu chứng, thuốc ức chế SGLT2 được khuyến cáo để cải thiện kết quả điều trị với tác dụng hạ huyết áp mức độ nhẹ.
Đối với bệnh nhân tăng huyết áp có suy tim phân suất tống máu bảo tồn (HFpEF) có triệu chứng, thuốc ức chế SGLT2 được khuyến cáo để cải thiện kết quả điều trị với tác dụng hạ huyết áp mức độ nhẹ.
I
A
(Khuyến cáo thay đổi so với 2018) - Suy tim
Đối với bệnh nhân suy tim phân suất tống máu bảo tồn (HFpEF) có triệu chứng và huyết áp vượt mức mục tiêu, thuốc chẹn thụ thể angiotensin ARB và/hoặc thuốc đối kháng thụ thể mineralocorticoid (MRA) có thể được cân nhắc để giảm tần suất nhập viện do suy tim và hạ huyết áp.
Đối với bệnh nhân suy tim phân suất tống máu bảo tồn (HFpEF) có triệu chứng và huyết áp vượt mức mục tiêu, thuốc chẹn thụ thể angiotensin ARB và/hoặc thuốc đối kháng thụ thể mineralocorticoid (MRA) có thể được cân nhắc để giảm tần suất nhập viện do suy tim và hạ huyết áp.
IIb
B
(Khuyến cáo thay đổi so với 2018) - Đột quỵ
Đối với bệnh nhân có huyết áp ≥130/80 mmHg và có tiền sử cơn thiếu máu não thoáng qua (TIA) hoặc đột quỵ, khuyến cáo mục tiêu huyết áp tâm thu 120–129 mmHg nhằm giảm biến cố tim mạch, với điều kiện điều trị được dung nạp tốt.
Đối với bệnh nhân có huyết áp ≥130/80 mmHg và có tiền sử cơn thiếu máu não thoáng qua (TIA) hoặc đột quỵ, khuyến cáo mục tiêu huyết áp tâm thu 120–129 mmHg nhằm giảm biến cố tim mạch, với điều kiện điều trị được dung nạp tốt.
I
A
(Khuyến cáo thay đổi so với 2018) - Nhóm chủng tộc khác nhau
Đối với bệnh nhân da đen từ khu vực châu Phi dưới Sahara, khi điều trị hạ huyết áp nên cân nhắc liệu pháp phối hợp bao gồm một thuốc chẹn kênh calci (CCB) kết hợp với một thuốc lợi tiểu thiazide hoặc một thuốc chẹn hệ renin-angiotensin (RAS).
Đối với bệnh nhân da đen từ khu vực châu Phi dưới Sahara, khi điều trị hạ huyết áp nên cân nhắc liệu pháp phối hợp bao gồm một thuốc chẹn kênh calci (CCB) kết hợp với một thuốc lợi tiểu thiazide hoặc một thuốc chẹn hệ renin-angiotensin (RAS).
IIa
B
(Khuyến cáo thay đổi so với 2018) - Tăng huyết áp kháng trị
Ở bệnh nhân tăng huyết áp kháng trị và huyết áp không được kiểm soát mặc dù đã sử dụng các liệu pháp hạ huyết áp hàng đầu, cần cân nhắc bổ sung spironolactone vào điều trị hiện tại.
Ở bệnh nhân tăng huyết áp kháng trị và huyết áp không được kiểm soát mặc dù đã sử dụng các liệu pháp hạ huyết áp hàng đầu, cần cân nhắc bổ sung spironolactone vào điều trị hiện tại.
IIa
B
(Khuyến cáo thay đổi so với 2018) - Tăng huyết áp kháng trị
Ở bệnh nhân tăng huyết áp kháng trị mà spironolactone không hiệu quả hoặc không được dung nạp, nên cân nhắc điều trị bằng eplerenone thay cho spironolactone, hoặc bổ sung thuốc chẹn beta nếu chưa được chỉ định. Sau đó cân nhắc các thuốc hạ huyết áp trung ương, thuốc chẹn alpha, hydralazine, hoặc thuốc lợi tiểu giữ kali.
Ở bệnh nhân tăng huyết áp kháng trị mà spironolactone không hiệu quả hoặc không được dung nạp, nên cân nhắc điều trị bằng eplerenone thay cho spironolactone, hoặc bổ sung thuốc chẹn beta nếu chưa được chỉ định. Sau đó cân nhắc các thuốc hạ huyết áp trung ương, thuốc chẹn alpha, hydralazine, hoặc thuốc lợi tiểu giữ kali.
IIa
B
(Khuyến cáo thay đổi so với 2018) - Tăng huyết áp kháng trị
Thực hiện tại một trung tâm quy mô trung bình đến lớn, phương pháp cắt đốt thần kinh thận qua ống thông có thể được cân nhắc nhằm giảm huyết áp cho bệnh nhân tăng huyết áp kháng trị không kiểm soát được huyết áp dù đã sử dụng kết hợp ba loại thuốc hạ huyết áp. Bệnh nhân mong muốn thực hiện cắt đốt thần kinh thận sau khi đã thảo luận về lợi ích và rủi ro, cũng như được đánh giá đa chuyên khoa.
Thực hiện tại một trung tâm quy mô trung bình đến lớn, phương pháp cắt đốt thần kinh thận qua ống thông có thể được cân nhắc nhằm giảm huyết áp cho bệnh nhân tăng huyết áp kháng trị không kiểm soát được huyết áp dù đã sử dụng kết hợp ba loại thuốc hạ huyết áp. Bệnh nhân mong muốn thực hiện cắt đốt thần kinh thận sau khi đã thảo luận về lợi ích và rủi ro, cũng như được đánh giá đa chuyên khoa.
IIb
B
Quản lý các nhóm bệnh nhân hoặc tình huống cụ thể - Bệnh mạch máu thận gây tăng huyết áp (Renovascular hypertension)
Cân nhắc tạo hình động mạch thận mà không đặt stent đối với bệnh nhân tăng huyết áp kèm hẹp động mạch thận do loạn sản cơ gây thay đổi về huyết động.
IIa
C
Tạo hình động mạch thận (Renal artery angioplasty) không được khuyến cáo cho những bệnh nhân không có hẹp động mạch thận có ý nghĩa về huyết động.
III
A
Tạo hình và đặt stent động mạch thận có thể được cân nhắc ở những bệnh nhân bị hẹp động mạch thận xơ vữa động mạch gây thay đổi đáng kể về huyết động (hẹp 70%-99%, hoặc 50%-69% với giãn sau hẹp và/hoặc chênh lệch áp lực qua hẹp đáng kể) kèm theo: suy tim tái phát, đau thắt ngực không ổn định, hoặc phù phổi cấp tính khởi phát đột ngột mặc dù đã điều trị y khoa dung nạp tối đa; tăng huyết áp kháng trị; tăng huyết áp kèm theo thận một bên nhỏ không giải thích được hoặc bệnh thận mạn tính; hẹp động mạch thận hai bên hoặc hẹp động mạch thận một bên ở thận duy nhất còn hoạt động.
IIb
C
Hạ huyết áp cấp tính và trong thời gian ngắn
Ở bệnh nhân xuất huyết não có huyết áp tâm thu ≥220 mmHg, không khuyến cáo hạ huyết áp tâm thu cấp tính quá 70 mmHg so với mức ban đầu trong vòng 1 giờ sau khi bắt đầu điều trị.
III
B
(Khuyến cáo thay đổi so với 2018)
Ở bệnh nhân xuất huyết não, cần cân nhắc hạ huyết áp ngay lập tức (trong vòng 6 giờ kể từ khi xuất hiện triệu chứng) xuống mục tiêu huyết áp tâm thu 140–160 mmHg nhằm ngăn chặn sự mở rộng của khối máu tụ và cải thiện chức năng.
Ở bệnh nhân xuất huyết não, cần cân nhắc hạ huyết áp ngay lập tức (trong vòng 6 giờ kể từ khi xuất hiện triệu chứng) xuống mục tiêu huyết áp tâm thu 140–160 mmHg nhằm ngăn chặn sự mở rộng của khối máu tụ và cải thiện chức năng.
IIa
A
(Khuyến cáo thay đổi so với 2018)
Đối với bệnh nhân đột quỵ thiếu máu não hoặc cơn thiếu máu não thoáng qua (TIA) có chỉ định hạ huyết áp, khuyến cáo bắt đầu liệu pháp hạ huyết áp trước khi xuất viện.
Đối với bệnh nhân đột quỵ thiếu máu não hoặc cơn thiếu máu não thoáng qua (TIA) có chỉ định hạ huyết áp, khuyến cáo bắt đầu liệu pháp hạ huyết áp trước khi xuất viện.
I
B
(Khuyến cáo thay đổi so với 2018)
Trong trường hợp tăng huyết áp nặng ở phụ nữ mang thai, điều trị bằng thuốc với labetalol đường tĩnh mạch, methyldopa đường uống, hoặc nifedipine đường uống được khuyến cáo. Hydralazine tiêm tĩnh mạch là lựa chọn thứ hai.
Trong trường hợp tăng huyết áp nặng ở phụ nữ mang thai, điều trị bằng thuốc với labetalol đường tĩnh mạch, methyldopa đường uống, hoặc nifedipine đường uống được khuyến cáo. Hydralazine tiêm tĩnh mạch là lựa chọn thứ hai.
I
C
Chăm sóc lấy bệnh nhân làm trung tâm trong điều trị tăng huyết áp
Khuyến cáo thảo luận về nguy cơ bệnh tim mạch và lợi ích của điều trị phù hợp với nhu cầu của bệnh nhân như một phần của quản lý tăng huyết áp.
I
C
Cân nhắc phỏng vấn giáo dục cho bệnh nhân tăng huyết áp tại bệnh viện và trung tâm y tế cộng đồng nhằm hỗ trợ kiểm soát huyết áp và tăng cường tuân thủ điều trị.
IIa
B
Giao tiếp giữa bác sĩ và bệnh nhân thông qua nền tảng web là một công cụ hiệu quả, nên được cân nhắc trong chăm sóc ban đầu; bao gồm việc báo cáo kết quả đo huyết áp tại nhà.
IIa
C
Khuyến cáo đo huyết áp tại nhà để kiểm soát huyết áp tốt hơn.
I
B
Khuyến cáo hướng dẫn bệnh nhân tự đo huyết áp đúng cách; việc này có tác động tích cực đến việc xác nhận chẩn đoán tăng huyết áp, đồng thời tăng cường chủ động và tuân thủ điều trị.
I
C
Có thể cân nhắc tăng cường tự theo dõi huyết áp bằng việc sử dụng thiết bị kết nối với ứng dụng trên điện thoại thông minh, mặc dù các bằng chứng hiện có cho thấy can thiệp này có thể không hiệu quả hơn so với tự theo dõi huyết áp theo cách thông thường.
IIb
B
Khuyến cáo áp dụng cách tiếp cận đa chuyên ngành trong quản lý bệnh nhân tăng huyết áp, bao gồm chuyển giao nhiệm vụ phù hợp và an toàn từ bác sĩ cho các chuyên gia khác, nhằm cải thiện kiểm soát huyết áp.
I
A
Tài liệu tham khảo
- 2024 ESC Guidelines for the management of elevated blood pressure and hypertension
- Table 3. New recommendations. 2024 ESC Guidelines
- Table 4. Revised recommendations. 2024 ESC Guidelines