GIỚI THIỆU
- Nêu các yếu tố quyết định cân bằng oxy
- Nhận biết rối loạn vận chuyển oxy
- Đánh giá cân bằng oxy
- Thảo luận về theo dõi huyết động và đáp ứng thể tích
- Giải thích việc sử dụng tình trạng axit–bazơ trong việc theo dõi bệnh nhân nặng
- Thảo luận về rối loạn cân bằng toan–kiềm
- Mô tả tiến trình bệnh gây nhiễm toan chuyển hóa
- Những thiết bị theo dõi nào nên được thực hiện?
- Những xét nghiệm máu nào nên được thực hiện để xác định xem cân bằng oxy có đầy đủ hay không?
CÁC NGUYÊN TẮC CỦA VẬN CHUYỂN OXY
Các cơ quan cần oxy để tạo năng lượng và duy trì chức năng hoạt động bình thường. Bên cạnh nhu cầu nội tại của mô, việc cung cấp oxy còn phụ thuộc vào “lực đẩy” do hệ thống tim mạch tạo ra. Cung cấp oxy được hiểu là lượng oxy được đưa đến các mô; tiêu thụ oxy là lượng oxy cần thiết để đáp ứng nhu cầu trao đổi chất của cơ thể.
Ở mức cơ sở, cơ thể cung cấp lượng oxy cao hơn khoảng 4–5 lần so với nhu cầu của các cơ quan. Phần cung cấp dư này tạo nên dự trữ oxy, có ý nghĩa khi tiêu thụ tăng mạnh, chẳng hạn trong bối cảnh thoát khỏi mối đe dọa ( Hình 1 ). Ở bệnh nhân nặng, các rối loạn sinh lý có thể làm giảm tuyệt đối lượng oxy được cung cấp hoặc làm tăng nhu cầu oxy của mô, từ đó có thể vượt quá giới hạn an toàn của hệ thống.
Hơn nữa, cung cấp oxy đầy đủ không đồng nghĩa với việc mô sử dụng oxy theo cách tối ưu. Ví dụ, nhiễm trùng huyết có thể làm giảm khả năng sử dụng oxy hiệu quả của ty thể ở cấp độ mô. Trong thực hành hồi sức, các can thiệp nhằm cải thiện cung cấp oxy thường thực hiện được dễ dàng hơn so với việc tác động trực tiếp lên tiêu thụ oxy.
Cung cấp oxy phụ thuộc vào nồng độ oxy trong máu động mạch và khả năng vận chuyển oxy của cơ thể, phản ánh qua cung lượng tim.
Cung cấp Oxy(DO 2 ) = Cung lượng tim(CO) x Hàm lượng oxy động mạch(CaO 2 )
Đường cong phân ly oxyhemoglobin mô tả mối liên quan giữa PO 2 và độ bão hòa oxyhemoglobin. Độ bão hòa gần tối đa của hemoglobin đạt được ở mức PO 2 là 60 mmHg (8,0 kPa). Khi PO 2 vượt quá điểm này, độ bão hòa oxyhemoglobin chỉ tăng thêm một cách khiêm tốn; ngược lại, cần lưu ý rằng độ bão hòa oxyhemoglobin giảm nhanh xảy ra khi PO 2 giảm xuống dưới 60 mmHg (8,0 kPa).
Hàm lượng oxy trong máu động mạch
Hàm lượng oxy động mạch (CaO 2 ) được định nghĩa là tổng lượng oxy liên kết với hemoglobin và lượng oxy hòa tan trong huyết tương máu động mạch. Các thành phần của hàm lượng oxy động mạch liên quan với nhau theo công thức:
CaO 2 (mL O 2 /dL) = [Hb(g/dL) x 1.24 x SaO 2 (%)] + [0.0031 x PaO 2 (mmHg)]
Các yếu tố chính chi phối cung cấp oxy gồm huyết sắc tố(Hb), SaO 2 và cung lượng tim(CO).
SaO 2 là độ bão hòa oxyhemoglobin động mạch, còn PaO 2 là áp suất riêng phần của oxy hòa tan trong máu động mạch. Mỗi gam huyết sắc tố(Hb) bão hòa hoàn toàn vận chuyển 1,34–1,39 mL oxy, tùy thuộc vào ái lực của hemoglobin với oxy. Hemoglobin là thành phần đóng góp chủ yếu cho việc cung cấp oxy đến nhu cầu của mô; quá trình giải phóng oxy liên kết xảy ra dựa trên sự hấp thu oxy hòa tan của tế bào khi máu đi qua các mao mạch. Khả năng tăng giải phóng oxy của Hb khi nguồn cung không đủ hoặc nhu cầu tế bào tăng lên là một trong những cơ chế bù trừ quan trọng nhằm duy trì chức năng tế bào. Đường cong phân ly oxyhemoglobin thể hiện quan hệ giữa độ bão hòa hemoglobin và áp suất riêng phần của oxy (PaO 2 ) ( Hình 1 ).
Khi PaO 2 giảm xuống khoảng 40 mm Hg (5,3 kappa) trong mao mạch, độ bão hòa oxyhemoglobin giảm còn 75% và mức này phản ánh lượng oxy được giải phóng tới các mô. Trong bối cảnh stress sinh lý, độ bão hòa oxyhemoglobin tại cấp độ mô có thể giảm xuống <20%, phản ánh việc giải phóng thêm oxy tới các mô. Nhiễm toan, sốt và tăng sản xuất CO 2 làm đường cong dịch chuyển sang phải, thể hiện ái lực của oxy với hemoglobin giảm và lượng oxy cung cấp cho mô tăng lên. Ngược lại, nhiệt độ thấp hơn, pH cao hơn và CO 2 thấp hơn làm đường cong dịch chuyển sang trái, tăng ái lực của oxy với hemoglobin. Nói cách khác, chuyển sang bên phải sẽ dẫn đến lượng oxy cung cấp cho các mô nhiều hơn.
Các tế bào hồng cầu đã được lưu trữ sẽ nhanh chóng mất 2,3-diphosphoglycerate (2,3 DPG). Hệ quả là vận chuyển oxy tới các mô bị suy giảm.
CaO 2 được sử dụng để phản ánh lượng oxy sẵn có trong tuần hoàn động mạch; giá trị này không nhất thiết đồng nghĩa với lượng oxy thực sự được cung cấp hoặc tiêu thụ bởi từng mô cụ thể.
Hàm lượng oxy trong động mạch có thể được ước tính dựa trên đo trực tiếp nồng độ hemoglobin và độ bão hòa oxyhemoglobin động mạch trên các mẫu máu không liên tục (tại thời điểm bất kỳ), vì phần oxy hòa tan (0,0031 × PaO 2 ) đóng góp tối thiểu vào tổng hàm lượng oxy. Mặc dù Hb không được theo dõi liên tục, độ bão hòa oxyhemoglobin có thể theo dõi liên tục gián tiếp thông qua đo độ bão hòa oxy xung mạch (SpO 2 ) để đánh giá liên tục các yếu tố quyết định hàm lượng oxy động mạch.
Cung lượng tim
Ngoài việc tối ưu hóa hàm lượng oxy trong máu động mạch, cần duy trì cung lượng tim(CO) thích hợp để bảo đảm cung cấp oxy đến các mô. Bên cạnh các công cụ theo dõi, việc đánh giá bệnh nhân hồi sức tích cực phải bắt đầu bằng khám lâm sàng kỹ lưỡng ( Bảng 1 ).
Cung lượng tim (tính bằng mL/phút hoặc L/phút) là tích số của nhịp tim(HR) và thể tích nhát bóp(SV) ( Hình 2 ).
| Bảng 1. Đánh giá lâm sàng các yếu tố quyết định cung lượng tim | |
|---|---|
| Biến số | Phương pháp đánh giá |
| Tần số và nhịp tim |
|
| Tiền tải tim phải |
|
| Tiền tải tim trái |
|
| Hậu tải(tim trái) |
Nhiệt độ và độ ẩm của da
|
| Sự co bóp |
|
Thể tích nhát bóp(SV) là lượng máu được tim trái bơm ra trong mỗi nhịp đập và được xác định bằng chênh lệch giữa thể tích cuối tâm trương và thể tích cuối tâm thu của tâm thất. Các biến chi phối thể tích nhát bóp gồm tiền tải, hậu tải và chức năng co bóp. Cơ chế bù trừ đầu tiên thường để gia tăng lượng oxy cung cấp là tăng nhịp tim. Những bệnh nhân không thể tăng nhịp tim (ví dụ, sử dụng thuốc chẹn beta hoặc tạo nhịp tim cố định) sẽ có khả năng bù trừ bị hạn chế.
Nhịp tim nhanh kéo dài cần được xem là một cơ chế bù trừ khả thi nhằm tăng lượng oxy cung cấp.
Mặc dù nhịp tim(HR) có thể được đo và đánh giá tương đối thuận lợi, nhưng việc đánh giá thể tích nhát bóp(SV) cần các phương pháp không xâm lấn, xâm lấn tối thiểu hoặc xâm lấn đặc biệt. Lựa chọn đo cung lượng tim(CO) thông qua các chỉ số/biến suy ra từ thể tích nhát bóp phụ thuộc vào trình độ đào tạo, chuyên môn và nguồn lực hiện có.
Ống thông động mạch phổi(PAC) được sử dụng như một phương pháp xâm lấn để đo cung lượng tim không liên tục(ngắt quãng) hoặc liên tục nhưng đòi hỏi chuyên môn Hồi sức tích cực. Các phương pháp thăm dò huyết động xâm lấn tối thiểu đo cung lượng tim bằng phân tích dạng sóng động mạch( PiCCO ) hoặc bằng lưu lượng máu qua động mạch chủ. Các thiết bị phân tích dạng sóng động mạch nhằm xác định áp lực mạch(PP), thể tích nhát bóp và cung lượng tim cần catheter động mạch, và một số thiết bị còn yêu cầu đặt thêm catheter tĩnh mạch trung tâm. Siêu âm Doppler qua thực quản ước tính cung lượng tim từ việc đo lưu lượng máu trong động mạch chủ. Máy theo dõi huyết động không xâm lấn sử dụng nguyên tắc trở kháng sinh học hoặc phản ứng sinh học để xác định thể tích nhát bóp và cung lượng tim.
Bác sĩ lâm sàng cần nhận thức đầy đủ các hạn chế ảnh hưởng đến độ chính xác của từng phương pháp đo và việc diễn giải bất kỳ kỹ thuật nào được lựa chọn. Khi cung lượng tim không được đo trực tiếp, có thể thực hiện đánh giá gián tiếp các biến số liên quan đến việc xác định cung lượng tim trên lâm sàng ( Bảng 2 ) và việc hiểu các nguyên tắc huyết động có thể hỗ trợ đáng kể.
| Bảng 2. Các thiết bị đo cung lượng tim(CO) hoặc thể tích nhát bóp(SV) | |||
|---|---|---|---|
| Cấp độ | Thiết bị | Lợi ích | Nguy cơ/lo ngại |
| Xâm lấn | Catheter động mạch phổi (PAC) | Đáng tin cậy nhất | Nhiễm trùng, chảy máu, thuyên tắc phổi, vỡ động mạch phổi, tràn khí màng phổi, rối loạn nhịp tim |
| Xâm lấn tối thiểu | Thiết bị được vận hành theo đường động mạch | Ít xâm lấn nhất. Ngoài cung lượng tim và thể tích nhát bóp, còn hiển thị sự biến đổi thể tích nhát bóp(SVV %)/sự biến đổi áp lực mạch(PPV %). | Sự chính xác. Sự hiệu chuẩn. Các thuật toán được cấp bằng sáng chế không xác định. Tốn kém. |
| Doppler qua thực quản | Đánh giá chính xác tốc độ/thời gian lưu lượng máu qua động mạch chủ để theo dõi thể tích nhát bóp và cung lượng tim | Tốn kém. Yêu cầu đào tạo để đặt vào và diễn giải. Nguy cơ chảy máu và thủng thực quản. | |
| Không xâm lấn | Trở kháng sinh học(bioimpedance), phản ứng sinh học(bioreactance) (chính xác hơn) | Không xâm lấn | Ít chính xác hơn, tốt hơn với xu hướng |
Sức co bóp
Sức co bóp của tim là khả năng các sợi cơ tim co lại trong thời kỳ tâm thu. Nó phụ thuộc nhiều vào tiền tải và hậu tải nên khó đo lường như một biến độc lập. Các yếu tố toàn thân có thể ảnh hưởng đến khả năng co bóp cơ tim ở bệnh nhân hồi sức tích cực gồm hoạt hóa giao cảm nội sinh, nhiễm toan, thiếu máu cục bộ, các chất trung gian gây viêm và các chất hoạt mạch. Sự gia tăng sức co bóp làm thể tích nhát bóp(SV) lớn hơn. Siêu âm tim đo phân suất tống máu(EF) cung cấp một số thông tin cho bác sĩ lâm sàng về khả năng co bóp của tim.
Tiền tải
Tiền tải là đo lường hoặc ước tính thể tích thất ở cuối tâm trương (thể tích cuối tâm trương - EDV) và được xác định bởi lượng máu hồi lưu tĩnh mạch cùng với độ giãn nở của thất. Độ căng/độ giãn (khả năng giãn nở) của thất và thể tích truyền tải (hồi lưu tĩnh mạch) có thể chấp nhận là cơ sở của đường cong Frank-Starling. Thông thường, EDV lớn hơn dẫn đến tăng độ căng cơ tim, từ đó tăng thể tích nhát bóp(SV) và kéo theo cung lượng tim(CO) tốt hơn. Tuy nhiên, đường cong thực tế có hình chuông; khi có quá nhiều dịch, tiền tải tăng quá mức có thể gây căng quá mức của thất, dẫn đến giảm thể tích nhát bóp(SV) do mất khả năng co bóp hiệu quả ( Hình 3 ).
Do khó đo thể tích trực tiếp, tiền tải thường được ước tính từ áp lực cuối tâm trương thất thông qua áp lực nhĩ phản ánh trong các áp lực nhĩ. Áp lực nhĩ được ước tính bằng cách đo áp lực trong tĩnh mạch trung tâm hoặc áp lực động mạch phổi. Vì vậy, tiền tải thất phải được ước tính bằng cách đo áp lực tĩnh mạch trung tâm(CVP) và tiền tải thất trái bằng cách đo áp lực động mạch phổi bít (PAOP). Các áp lực này phản ánh gián tiếp thể tích cuối tâm trương và khả năng giãn nở thành thất. Sử dụng siêu âm tại giường để đánh giá kích thước và mức độ biến đổi của tĩnh mạch chủ dưới theo nhịp thở có thể hỗ trợ đánh giá tiền tải thất phải. Tuy nhiên, phương pháp này không nên dùng độc lập vì không đủ nhạy hoặc đặc hiệu để dự đoán khả năng đáp ứng thể tích(khả năng đáp ứng với truyền dịch).
Khi thể tích cuối tâm trương của thất (tiền tải) tăng lên, thể tích nhát bóp(SV) thường tăng theo tỷ lệ thuận.
Mối quan hệ giữa áp lực đo được và thể tích trong buồng thất phụ thuộc vào độ giãn nở hoặc khả năng co giãn của thất. Trong thiếu máu cơ tim cục bộ, nhiễm trùng huyết, rối loạn chức năng van tim và thậm chí nhịp tim nhanh, thất có thể kém đàn hồi hơn và có thể không thư giãn hoàn toàn trong thời kỳ tâm trương. Rối loạn chức năng tâm trương làm giảm thể tích thất ở cuối tâm trương nhưng có thể đi kèm áp lực đổ đầy cao hơn; do đó, bác sĩ lâm sàng có thể diễn giải sai các phép đo áp lực để suy ra lượng thể tích đã được nạp đủ. Những thay đổi về áp lực trong lồng ngực (ví dụ tràn khí màng phổi áp lực, thông khí áp lực dương) cũng có thể ảnh hưởng đến áp lực đổ đầy.
Áp lực và thể tích mang tính không tuyến tính; vì vậy không nên dùng CVP và PAOP một mình để xác định trạng thái thể tích. Xu hướng có lợi thế hơn so với chỉ dựa vào các giá trị đơn lẻ.
Hậu tải
Hậu tải là sức căng của thành cơ tim cần thiết để vượt qua sức cản hoặc áp lực tải, tức là yếu tố cản trở việc tống máu từ thất ở thì tâm thu. Hậu tải càng cao thì tâm thất cần phát triển sức căng nhiều hơn, công thực hiện tăng và sự co bóp có thể trở nên kém hiệu quả hơn. Hậu tải thường được ước tính từ huyết áp động mạch trung bình toàn thân (thất trái) và áp lực động mạch phổi trung bình (thất phải) bằng tính toán sức cản mạch phổi(PVR) và sức cản mạch hệ thống(SVR).
- PVR =[(MAP - PAOP) / CO] x 80
- PVR bình thường: 100 - 200 dynes/sec/cm -5
- SVR = [(MAP - CVP) / CO] x 80
- SVR bình thường: 700 - 1.500 (hoặc 800 - 1.200 quy ước trên thiết bị PICCO hoặc 900 - 1.200 quy ước trong việc diễn giải PAC ) dynes/sec/cm -5
ĐÁNH GIÁ CÂN BẰNG OXY
- SvO2 bình thường > 65%
- ScvO2 bình thường > 70%
Giá trị ScvO2 thấp gợi ý tình trạng mất cân bằng trong cung cấp và nhu cầu oxy. Mất cân bằng này có thể xuất phát từ giảm cung lượng tim, nồng độ hemoglobin, độ bão hòa oxy trong máu động mạch (SaO2) hoặc tăng tiêu thụ oxy của mô. Trên một bệnh nhân, có thể đồng thời tồn tại nhiều bất thường góp phần gây mất cân bằng oxy. Mặc dù ScvO2 vẫn có thể nằm trong giới hạn bình thường, tình trạng thiếu oxy mô vẫn có thể xảy ra trong các bối cảnh như nhiễm trùng huyết nặng và một số ngộ độc nhất định (ví dụ: xyanua). Vì vậy, trong trường hợp ScvO2 bình thường, cần đánh giá thêm nồng độ lactate và chức năng cơ quan để xác định cân bằng oxy ở bệnh nhân hồi sức tích cực.
Cân bằng oxy phụ thuộc vào lượng oxy cung cấp cho các mô và nhu cầu trao đổi chất của chính các mô đó. Việc ước tính lượng oxy mà các mô sử dụng có thể dựa trên các giá trị oxyhemoglobin tĩnh mạch trung tâm (ScvO2) và độ bão hòa oxyhemoglobin tĩnh mạch trộn (SvO2).
Nồng độ lactate tăng cao có tương quan với tiên lượng xấu hơn ở các bệnh nhân bệnh nặng ( Hình 6 ).
THEO DÕI XÁC ĐỊNH CÂN BẰNG OXY
- Những yếu tố nào có thể làm suy giảm cung cấp oxy?
- Những chiến lược theo dõi nào sẽ được sử dụng để đánh giá tình trạng của bệnh nhân này?
Xu hướng của các thông số được đo thường có giá trị hơn các giá trị đơn lẻ trong quá trình đánh giá.
Theo dõi độ bão hòa Oxy hemoglobin (SpO2)
Các nguyên tắc
Vấn đề lâm sàng
Đo SpO2 có thể bị ảnh hưởng bởi sự căng phồng của vòng đo huyết áp trên cùng một chi, vì điều này có thể làm mất dạng sóng mạch mà cảm biến ghi nhận.
| Bảng 3. Các yếu tố ảnh hưởng đến độ chính xác của đo nồng độ oxy xung mạch | ||
|---|---|---|
| Yếu tố giải phẫu hoặc sinh lý | Yếu tố bên ngoài | |
|
|
|
Theo dõi huyết áp
- Huyết áp(BP) = cung lượng tim(CO) × sức cản mạch máu hệ thống(SVR)
- Huyết áp có thể được theo dõi xâm lấn bằng ống thông động mạch (Art-line) hoặc không xâm lấn bằng vòng bít (kinh điển).
Thiết bị không xâm lấn tự động
- Thiết bị đo huyết áp tự động thường được dùng để đo huyết áp không liên tục (ngắt quãng). Các thiết bị này áp dụng một trong nhiều phương pháp để xác định huyết áp tâm thu và tâm trương, trong đó phổ biến nhất là phương pháp đo dao động.
- Huyết áp tâm thu, huyết áp tâm trương và huyết áp động mạch trung bình(MAP) được ước tính dựa trên sự xuất hiện, biến mất và biên độ của sóng dao động.
- Ở người lớn, cánh tay là vị trí ưa thích để đo; các vị trí thay thế gồm bắp chân, cẳng tay hoặc đùi, tuy nhiên các vị trí sau kém thoải mái hơn đối với bệnh nhân. Không đặt vòng bít ở chi đang sử dụng để truyền tĩnh mạch hoặc tại vùng có nguy cơ tổn thương tuần hoàn.
- Việc lựa chọn kích thước vòng bít phù hợp là yếu tố bắt buộc để đo chính xác: vòng bít quá lớn sẽ làm đánh giá thấp huyết áp thực, còn vòng bít quá nhỏ sẽ làm đánh giá quá cao huyết áp thực.
- Đo huyết áp không đồng nghĩa với đánh giá bảo đảm tưới máu mô đầy đủ. Trong các tình huống thường gặp ở hồi sức tích cực như sốc, co mạch, thở máy và rối loạn nhịp tim, độ chính xác của thiết bị đo huyết áp tự động kém hơn. Run rẩy, co cơ và chuyển động của chi có thể làm xuất hiện sai lệch kết quả đo.
- Theo dõi huyết áp bằng ống thông động mạch (Art-line) được ưu tiên hơn so với sử dụng thiết bị đo huyết áp tự động ở các bệnh nhân có huyết động không ổn định.
Huyết áp động mạch xâm lấn
Động mạch mu bàn chân ít tin cậy hơn trong theo dõi áp lực ở người lớn do kích thước mạch nhỏ và khoảng cách tới tim.
Áp lực mạch[Pulse Pressure(PP)] = huyết áp tâm thu(SBP) - huyết áp tâm trương(DBP)
Bình thường: từ 30 đến 40 mmHg
Hạ huyết áp không phải lúc nào cũng tương ứng với sự hiện diện của sốc hoặc giảm tưới máu mô.
Với áp lực dương được tạo ra trong thì hít vào, mức giảm SBP lớn hơn mức giảm DBP, dẫn đến giảm PP.
| Bảng 4. Các biến chứng có thể xảy ra của ống thông động mạch |
|---|
|
Theo dõi áp lực đổ đầy thất phải và ScvO2
| Bảng 5. Chỉ định chung đối với đặt ống thông tĩnh mạch trung tâm |
|---|
|
Mẫu chu kỳ điển hình cho dạng sóng áp lực tĩnh mạch liên tục (CVP) cho thấy hít vào (I) và thở ra (E). A, Biến đổi hô hấp trong quá trình thở tự nhiên: CVP giảm trong thì hít vào tự phát khi áp lực trong khoang màng phổi giảm. B, Biến đổi hô hấp trong quá trình thở máy áp lực dương: CVP tăng trong quá trình cung cấp nhịp thở cơ học khi áp lực dương được truyền từ đường thở vào khoang màng phổi và các mạch máu lớn. Mũi tên dọc biểu thị điểm cuối thì thở ra trong quá trình thở máy tự nhiên và thở máy.
Đo áp lực đổ đầy thất trái
Đo cung lượng tim
CÁC ĐIỀU TRỊ ĐỐI VỚI CÂN BẰNG OXY ÂM
| Bảng 6. Rối loạn/yếu tố có thể ảnh hưởng đến việc cung cấp oxy | ||
|---|---|---|
| Phổi (giảm oxy máu) | Tim | Khác |
|
|
|
Cung lượng tim
Đáp ứng dịch/thể tích (tiền tải)
- Thể tích nhát bóp (SV) tăng 10%–15%
- Biến đổi thể tích nhát bóp (SVV)/biến đổi áp lực mạch (PPV) ≥12%
- Cung lượng tim (CO) tăng 10%–15%
Huyết áp động mạch trung bình (hậu tải)
Sự co bóp cơ tim
Huyết sắc tố (Hemoglobin - Hb)
Oxy hóa
RỐI LOẠN AXIT-BAZƠ
Đánh giá các rối loạn Acid-base
- Xác định tình trạng axit-bazơ tổng thể bằng cách đo độ pH. Có nhiễm toan hay kiềm máu không?
- Nếu có bất thường, xác định rối loạn chính thuộc về chuyển hóa (thay đổi [HCO3]) hay hô hấp (thay đổi áp suất riêng phần carbon dioxide động mạch [PaCO2]).
- Nếu rối loạn là hô hấp, xác định đó là cấp tính hay mãn tính.
- Nếu rối loạn là chuyển hóa, xác định mức độ bù trừ hô hấp có đủ hay không.
- Luôn tính khoảng trống anion (AG); nếu cần, hiệu chỉnh albumin.
- Nếu khoảng trống anion (AG) xuất hiện bất thường, xác định có rối loạn chuyển hóa nào khác đi kèm hay không.
Toan chuyển hóa
- Công thức Winter/PaCO2 dự đoán = 1,5 × [HCO3] + 8 ± 2; hoặc Δ PaCO2 = 1,2 × Δ [HCO3]
- AG = Na+ – (Cl- + HCO3-)
| Bảng 7. MUDPILES từ viết tắt đối với nhiễm toan chuyển hóa khoảng trống anion(AG) tăng | |
|---|---|
| M | M ethanol |
| U | U rê |
| D | Đái tháo đường nhiễm toan ceton(D KA - Diabetic ketoacidosis) |
| P | P ropofol. P ropylene glycol. P aracetamol (acetaminophen). |
| I | Sắt(I ron) I soniazid. |
| L | L actate |
| E | E thanol. E thanol glycol. |
| S | Nhiễm toan ceton đói(S tarvation ketoacidosis). S alicylat. |
Thở nhanh là dấu hiệu sớm của bệnh nặng. Tần số hô hấp tăng lên có thể là cơ chế bù trừ cho nhiễm toan chuyển hóa.
| Bảng 8. HARD UP Từ viết tắt của nhiễm toan chuyển hóa khoảng trống anion(AG) bình thường | |
|---|---|
| H | Tăng clo máu(H yperchloremia) |
| A | A cetazolamide |
| R | Nhiễm toan ống thận(R enal tubular acidosis) |
| D | Tiêu chảy(D iarrhea) |
| U | Mở thông niệu quản(U reteroenterostomy) |
| P | Cắt tụy-ruột(P ancreatico-enterostomy) |
Kiềm chuyển hóa
Toan hô hấp
Kiềm hô hấp
Rối loạn toan kiềm phối hợp
| Bảng 9. Các công thức Axit-Bazơ | ||
|---|---|---|
| Nhiễm toan hô hấp | ||
| Cấp | pH giảm xuống = | 0.08 × [(PaCO2 - 40) ÷ 10] |
| HCO3 tăng lên = | (∆PaCO2 ± 3) ÷ 10 | |
| Mãn | pH giảm xuống = | 0.03 × [(PaCO2 - 40) ÷ 10] |
| HCO3 tăng lên = | 3.5 x [(∆PaCO2) ÷ 10] | |
| Nhiễm kiềm hô hấp | ||
| Cấp | pH tăng lên = | 0.08 × [(40 - PaCO2) ÷ 10] |
| HCO3 giảm xuống = | 2 x [∆PaCO2) ÷ 10] | |
| Mãn | pH tăng lên = | 0.03 × [(40 - PaCO2) ÷ 10] |
| HCO3 giảm xuống = | (5 đến 7) x [(∆PaCO2) ÷ 10] |
|
| Nhiễm toan chuyển hóa | ||
| Anion Gap(AG) = | Na - (Cl - HCO3) | |
| PaCO2 dự đoán = | 1.5 × [HCO3 + 8)] ± 2; hoặc ∆PaCO2 dự đoán = 1.2 × ∆HCO3 |
|
| Nhiễm kiềm chuyển hóa | ||
| PaCO2 tăng lên = | (0.6 đến 0.7) x ∆HCO3 | |
NHỮNG ĐIỂM CHÍNH
Theo dõi tình trạng cân bằng oxy và toan kiềm
- Cung cấp oxy phụ thuộc vào cung lượng tim (lưu lượng máu) và hàm lượng oxy trong máu động mạch [huyết sắc tố(Hb) và độ bão hòa oxy].
- Hemoglobin(Hb) là yếu tố chính đóng góp vào cung cấp oxy cho nhu cầu của mô.
- Các phép đo áp lực đổ đầy thất có thể không phản ánh đầy đủ thể tích tiền tải.
- Các phương pháp theo dõi cân bằng oxy toàn thể có thể hữu ích ở bệnh nhân nặng, bao gồm độ bão hòa oxyhemoglobin tĩnh mạch trung tâm (ScvO2) và nồng độ lactate.
- Giá trị ScvO2 thấp gợi ý mất cân bằng oxy có thể do giảm cung lượng tim, giảm nồng độ hemoglobin(Hb), giảm độ bão hòa oxyhemoglobin động mạch(SaO2) hoặc tăng tiêu thụ oxy của mô.
- Máy đo nồng độ oxy xung mạch(SpO2) ước tính độ bão hòa oxyhemoglobin động mạch, tuy nhiên không phản ánh mức độ cung cấp oxy đầy đủ.
- Theo dõi huyết áp qua ống thông động mạch(Art-line) được ưu tiên hơn so với sử dụng thiết bị đo huyết áp tự động(có vòng bít) ở bệnh nhân không ổn định.
- Xác định huyết áp tâm thu(SBP), áp lực mạch(PP) hoặc biến đổi thể tích nhát bóp(SVV), cùng với khả năng đáp ứng truyền dịch dựa trên các thiết bị theo dõi chuyên biệt, có thể hỗ trợ tối ưu hóa cung lượng tim và cung cấp oxy.
- Đánh giá tình trạng axit-bazơ có thể định hướng các chẩn đoán và/hoặc can thiệp điều trị cụ thể.
Tài liệu tham khảo
- Monitoring Oxygen Balance and Acid-Base Status. Fundamental Critical Care Support 2021
- Systemic Vascular Resistance. Nursing Center
- Pulmonary Vascular Resistance. NursingCenter