GIỚI THIỆU
- Đái tháo đường nhiễm toan ketone, nhiễm toan lactic và tình trạng tăng đường huyết kèm tăng áp lực thẩm thấu là các biến chứng cấp tính có nguy cơ đe dọa tính mạng ở người bệnh.
- Tỷ lệ người bệnh đái tháo đường nhập viện vì nhiễm toan ketone cao hơn, tuy nhiên tỷ lệ tử vong lại thấp hơn (bằng 1/10) so với người bệnh đái tháo đường có tăng áp lực thẩm thấu.
- Cơ chế bệnh sinh của đái tháo đường nhiễm toan ketone và đái tháo đường tăng áp lực thẩm thấu đều xuất phát từ hậu quả của thiếu insulin (tuyệt đối hoặc tương đối) và tình trạng tăng các hormone đối nghịch (như glucagon, cortisol, GH, catecholamine…). Các yếu tố thúc đẩy thường gặp bao gồm không tuân thủ điều trị insulin, nhiễm trùng, nhồi máu cơ tim, tai biến mạch não hoặc do sử dụng các thuốc như corticoid, lợi tiểu…
- Nhiễm toan lactic là tình trạng toan chuyển hóa kèm tăng khoảng trống anion do lactate máu > 5 mmol/L. Ở người bệnh đái tháo đường, nhiễm toan lactic chủ yếu liên quan đến điều trị thuốc nhóm biaguanide. Dù hiếm gặp, nhiễm toan lactic do metformin có tỷ lệ tử vong rất cao, có thể đến 45-50%.
CHẨN ĐOÁN
Lâm sàng
- ĐTĐ nhiễm toan ketone thường diễn tiến nhanh trong vòng vài giờ. Biểu hiện hay gặp gồm tiểu nhiều, khát nước, và thở sâu do tăng thông khí bù trừ (thở kiểu Kussmault). Hơi thở có thể mang mùi ketone (tương tự mùi thuốc tẩy móng tay). Một số người bệnh, đặc biệt là trẻ em, có đau bụng, nôn và buồn nôn.
- Các triệu chứng của tăng đường huyết có tăng áp lực thẩm thấu thường khởi phát âm thầm, kéo dài trong vài ngày. Biểu hiện thường gặp là mất nước nặng, rối loạn ý thức và các dấu hiệu thần kinh khu trú như liệt nửa người, co giật… Các biểu hiện thần kinh thường xuất hiện khi áp lực thẩm thấu > 320 mOsmol/kg.
- Khám lâm sàng: tình trạng mất nước và giảm thể tích tuần hoàn, biểu hiện như giảm nếp véo da, khô miệng, tĩnh mạch cổ xẹp, nhịp tim nhanh; trong trường hợp nặng có tụt huyết áp.
- Các triệu chứng của nhiễm toan lactic gồm yếu mệt nhiều, buồn nôn, nôn và đau bụng. Dấu hiệu thực thể bao gồm thở nhanh (Kussmaul), rối loạn ý thức, mất nước trung bình, đái ít, giảm nhiệt độ, giảm huyết áp và shock.
Cận lâm sàng
Các xét nghiệm cần thực hiện ban đầu bao gồm sinh hóa máu (glucose, điện giải đồ, ure và creatinin máu), công thức máu, ketone niệu và/hoặc ketone máu, khí máu động mạch và điện tâm đồ. Tùy theo đặc điểm của người bệnh có thể cần thêm: cấy nước tiểu/máu/đờm, amylase máu, chụp XQ phổi, HbA1C. Một số đặc điểm xét nghiệm thường gặp:
- Đường huyết tăng ở người bệnh có tăng áp lực thẩm thấu thường cao hơn so với người bệnh nhiễm toan ketone. Người bệnh đái tháo đường nhiễm toan ketone do thuốc ức chế SGLT-2 có thể có đường huyết bình thường.
- Phát hiện ketone niệu (acid acetoacetic) bằng test nitroprusside. Ketone máu có thể tăng; tuy nhiên đo trực tiếp acid beta-hydroxybutyrate có giá trị hơn.
- Na máu: đa số người bệnh tăng đường huyết cấp cứu có giảm Na máu nhẹ (do mất nước qua nước tiểu). Ngược lại, xét nghiệm có thể ghi nhận Na máu bình thường hoặc thậm chí tăng. Một số người bệnh có giảm Na máu giả do glucose huyết cao.
Na máu “hiệu chỉnh” = Na đo được + 1,6 x [(Glcuose máu – 5,6)÷ 5,6]
Với Glucose sử dụng đơn vị mmol/L.
Hoặc tính Na máu “hiệu chỉnh” = Na đo được + 0.016 x [Glcuose máu – 100]
Với Glucose sử dụng đơn vị mg/dL.
Xem thêm: Công cụ tính toán Natri hiệu chỉnh và áp lực thẩm thấu hiệu dụng áp dụng cho DKA và HHS
- Kali máu: người bệnh tăng đường huyết cấp cứu thường có mất kali. Tuy nhiên đa số người bệnh có kali máu bình thường, và có thể tăng ở 1/3 số người bệnh.
- Creatinin máu: phần lớn người bệnh có tăng cấp tính ure và creatinin máu, nhất là khi có tăng áp lực thẩm thấu, phản ánh giảm mức lọc cầu thận do giảm thể tích tuần hoàn.
- Amylase máu có thể tăng ở người bệnh nhiễm toan ketone mà không có viêm tụy.
- Nhiều người bệnh tăng đường huyết cấp cứu có tăng bạch cầu đa nhân trung tính liên quan với mức độ nhiễm toan. Nhưng nếu bạch cầu tăng > 25.000/microL thì phải tìm nguyên nhân nhiễm trùng.
- Xét nghiệm lactate máu khi nghi ngờ nhiễm toan lactic.
Tính khoảng trống anion (Anion Gap)
Bình thường = 3 - 10
Công thức = Na máu – (Clo máu + Bicarbonate).
Sử dụng đơn vị mmol/L
Xem thêm: Công cụ tính toán Tính khoảng trống Anion Gap (AG)
Bệnh nhân nhiễm toan ketone thường có khoảng trống anion > 12
Áp lực thẩm thấu máu
Bình thường từ: 275 – 295 mOsmol/kg
Ở người bệnh đái tháo đường có tăng áp lực thẩm thấu, áp lực thẩm thấu hiệu dụng thường > 320 mosmol/kg. Có thể ước tính áp lực thẩm thấu hiệu dụng bằng công thức sau, sử dụng Na đo được chứ không phải Na “hiệu chỉnh”:
Áp lực thẩm thấu hiệu dụng = [2 x Na (mmol/L)] + [Glucose (mg/dL) ÷ 18]
hoặc
Áp lực thẩm thấu hiệu dụng = [2 x Na (mmol/L)] + Glucose (mmol/L)
Xem thêm: Công cụ tính toán Natri hiệu chỉnh và áp lực thẩm thấu hiệu dụng áp dụng cho DKA và HHS
Chẩn đoán đái tháo đường có nhiễm toan Ketone và tăng áp lực thẩm thấu
| Xét nghiệm | ĐTĐ có nhiễm toan Ketone | Tăng đường huyết có tăng ALTT | ||
|---|---|---|---|---|
| Nhẹ | Vừa | Nặng | ||
| Đường huyết (mg/dL) | > 250 | > 250 | > 250 | > 600 |
| Đường huyết (mmol/L) | ≥ 14,0 | ≥ 14,0 | ≥ 14,0 | ≥ 33,3 |
| pH máu động mạch | 7,25 - 7,30 | 7,0 - 7,24 | < 7,0 | > 7,3 |
| Bicarbonate(HCO3-) | 15 - 18 | 10 - 15 | < 10 | > 18 |
| Ketone niệu | (+) | (+) | (+) | (+) nhẹ |
| Ketone máu (Test Nitroprusside) | (+) | (+) | (+) | Rất nhẹ |
| ALTT hiệu dụng | Thay đổi | Thay đổi | Thay đổi | > 320 |
| Khoảng trống anion | > 10 | > 12 | > 12 | Thay đổi |
| Thay đổi ý thức | Tỉnh | Tỉnh / chậm | Sững sờ / hôn mê | Sững sờ / hôn mê |
Chẩn đoán xác định
Đái tháo đường có nhiễm toan ketone
- Tăng đường huyết, thường ở mức 350 – 500mg/dL (19,5 – 28,0 mmol/L); một số trường hợp đường huyết chỉ tăng nhẹ.
- Toan chuyển hóa kèm tăng khoảng trống anion (AG).
- Tăng ketone máu.
Tăng đường huyết có tăng áp lực thẩm thấu
- Tăng đường huyết nhiều, thường trên 600mg/dL (33,3 mmol/L).
- Tăng áp lực thẩm thấu > 320 mosmol/kg.
- pH > 7,30; bicarbonate máu > 20 mEq/L; ketone máu có thể tăng nhẹ.
Đái tháo đường có nhiễm toan lactic
- Lactate máu ≥ 5 mmol/L (4mEq/L), ngay cả khi không có biểu hiện nhiễm toan rõ ràng.
- Khí máu: pH < 7,35; bicarbonate < 10 mmol/L.
- Khoảng trống anion (AG) > 16 mEq/L.
- Nồng độ metformin trong máu có thể cao.
ĐIỀU TRỊ
Nguyên tắc điều trị
- Điều trị đái tháo đường nhiễm toan ketone và tăng đường huyết có tăng áp lực thẩm thấu được tiến hành tương đồng, theo thứ tự gồm: bù dịch, điều chỉnh rối loạn điện giải và insulin.
- Nên sơ đồ hóa phác đồ điều trị và theo dõi diễn tiến điều trị theo từng người bệnh.
- Phát hiện sớm và điều trị đồng thời nguyên nhân gây mất bù cấp.
- Giải thích cho người bệnh và người nhà về phác đồ điều trị và tiên lượng (nếu có thể).
Sơ đồ tiếp cận
Nhiễm toan Ketone
Chú thích:
Tiêu chí chẩn đoán đái tháo đường nhiễm toan Ketone (DKA): Glucose huyết thanh > 250 mg/dL (14.0 mmol/L), pH động mạch < 7.3, HCO3 huyết hanh < 18 mmol/L, và Ketone máu/niệu tăng ít nhất ở mức trung bình. [1]
Sau khi hỏi bệnh sử và khám lâm sàng, lấy glucose mao mạch và ketone máu hoặc nước tiểu. Bắt đầu truyền 1 lít NaCl 0.9% mỗi 1 giờ, đồng thời lấy khí máu động mạch, công thức máu, tổng phân tích nước tiểu, glucose máu, BUN, điện giải đồ, bộ sinh hóa và nồng độ creatinin STAT (xét nghiệm nhanh tại giường). Đo ECG, chụp X-quang phổi và lấy bệnh phẩm để cấy vi khuẩn nếu cần. [2]
Na+ máu nên được hiệu chỉnh trong tăng đường máu (Natri máu hiệu chỉnh xem ở phần cận lâm sàng ở trên). [3]
Một phác đồ truyền insulin Regular IV liên tục thay thế là 0.14 UI/kg/giờ, ở liều này Bolus insulin IV ban đầu là không cần thiết. [4]
Tình trạng nhiễm toan Ketone được giải quyết khi khoảng trống Anion (AG) < 12 mmol/L và bệnh nhân ăn được. [5]
Đây là gợi ý lâm sàng của Uptodate. Bộ Y Tế Việt Nam hướng dẫn tiếp tục truyền thêm 01 giờ sau khi bắt dầu insulin nhanh tiêm dưới da. Xem thêm phần chuyển sang insulin tiêm dưới da mục theo dõi bên dưới. [6]
100 mmol NaHCO3 = 100 mEq NaHCO3. Dung dịch truyền tĩnh mạch NaHCO3 4.2% 250 ml chứa 125 mmol NaHCO3. Xem xét truyền 100ml/giờ x 2 giờ để đạt được mức 100 mmol NaHCO3.
Tăng áp lực thẩm thấu
Chú thích:
Tiêu chí chẩn đoán tăng áp lực thẩm thấu (HHS): Glucose máu > 600 mg/dL, pH động mạch > 7.3, HCO3 máu > 15 mmol/L, và Keton máu/niệu tối thiểu. [1]
Sau khi hỏi bệnh sử và khám lâm sàng, lấy glucose mao mạch và ketone máu hoặc nước tiểu (phương pháp nitroprusside). Bắt đầu truyền 1 lít NaCl 0.9% mỗi 1 giờ, và lấy khí máu động mạch, công thức máu, tổng phân tích nước tiểu, glucose máu, BUN, điện giải đồ, bộ sinh hóa và nồng độ creatinin STAT (xét nghiệm nhanh tại giường). Đo ECG, chụp X-quang phổi và bệnh phẩm cho cấy vi khuẩn nếu cần. [2]
Na+ máu nên được hiệu chỉnh trong tăng đường máu (Natri máu hiệu chỉnh xem ở phần cận lâm sàng ở trên). [3]
Một phác đồ truyền insulin Regular IV liên tục thay thế là 0.14 UI/kg/giờ, ở liều này Bolus insulin IV ban đầu là không cần thiết. [4]
Đây là gợi ý lâm sàng của Uptodate. Bộ Y Tế Việt Nam hướng dẫn tiếp tục truyền thêm 01 giờ sau khi bắt dầu insulin nhanh tiêm dưới da.
DKA và HHS theo ADA 2024
Bù dịch
Bù dịch nhằm điều chỉnh đồng thời tình trạng giảm khối lượng tuần hoàn và tăng áp lực thẩm thấu, đồng thời giúp làm giảm đường huyết.
- Nên khởi đầu bằng muối đẳng trương (NaCl 0,9%). Nếu bệnh nhân có nhiễm toan ketone đẳng đường huyết cần truyền thêm đồng thời cả glucose và insulin.
- Tốc độ truyền tối ưu phụ thuộc tình trạng lâm sàng:
- Có shock giảm thể tích: truyền càng nhanh càng tốt, tốt nhất qua catheter tĩnh mạch trung tâm.
- Có giảm thể tích tuần hoàn nhưng không có shock: truyền với tốc độ 15-20mL/kg/h trong những giờ đầu tiên, tối đa là < 50mL/kg trong giờ đầu tiên.
- Không có giảm thể tích tuần hoàn: truyền chậm hơn, tùy theo tình trạng lâm sàng.
- Sau 2-3 giờ, điều chỉnh tốc độ truyền dịch theo tình trạng mất nước, điện giải đồ và thể tích nước tiểu. Loại dịch truyền phụ thuộc nồng độ Na “hiệu chỉnh”:
- Nếu < 135 mmol/L: tiếp tục truyền NaCl 0,9% với tốc độ 250 - 500mL/h.
- Nếu ≥ 135 mmol/L: chuyển sang truyền NaCl 0,45% với tốc độ 250 - 500mL/h.
- Thời gian truyền dịch nhược trương phụ thuộc Na và Kali máu.
- Khi đường huyết xuống 250mg/dL (14,0 mmol/L) ở bệnh nhân tăng áp lực thẩm thấu hoặc 200mg/dL (11,0 mmol/L) ở bệnh nhân nhiễm toan ketone thì cần truyền thêm glucose 5%.
- Đánh giá bù đủ dịch dựa trên theo dõi huyết động và xét nghiệm; mục tiêu là điều chỉnh lượng dịch thiếu ước tính trong vòng 24h.
Bù Kali
Tùy theo nồng độ kali máu ban đầu, thực hiện bù kali theo các mức sau:
- Kali máu < 3,3 mmol/L: Truyền tĩnh mạch kali chloride (KCl) 20-40 mmol/h; thường pha 20-40mmol trong 1L muối NaCl. Thực hiện xét nghiệm kali máu hàng giờ.
- Kali máu từ 3,3 – 5,3 mmol/L: Pha truyền KCl 20-30 mmol trong 1L muối NaCl và duy trì cho đến khi nồng độ kali máu lên đến 4-5 mmol/L.
- Kali máu > 5,3 mmol/L: Tạm thời chưa bù kali.
- Bù kali cần được tiến hành thận trọng khi có giảm chức năng thận và nước tiểu ít < 50mL/h.
Insulin
Ưu tiên sử dụng insulin regular.
- Nên chỉ định insulin regular tĩnh mạch cho tất cả bệnh nhân đái tháo đường có nhiễm toan ketone hoặc tăng áp lực thẩm thấu mức độ vừa đến nặng, với kali máu ≥ 3,3 mmol/L. Nếu kali máu < 3,3 mmol/L, cần bù dịch và bù kali trước khi bắt đầu điều trị insulin.
- Khởi đầu: tiêm tĩnh mạch 1 mũi insulin regular 0,1 UI/kg, sau đó truyền tĩnh mạch liên tục insulin regular 0,1UI/kg/h. Nếu đường huyết giảm < 50mg/dL trong giờ đầu thì có thể tăng (gấp đôi) liều mỗi giờ cho đến khi đường huyết giảm đến mức mục tiêu này.
- Khi đường huyết giảm xuống 200mg/dL (11 mmol/L) ở bệnh nhân nhiễm toan ketone hoặc 250 mg/dl (14 mmol/l) ở bệnh nhân tăng áp lực thẩm thấu, chuyển sang truyền glucose 5% + NaCl 0,9% và đồng thời giảm tốc độ truyền insulin xuống 0,02 - 0,05 UI/kg/h. Mục tiêu duy trì glucose máu 150-200 mg/dL (8.3-11.1 mmol/L) ở bệnh nhân nhiễm toan ketone và 250-300 mg/dL (13.9-16.7 mmol/L) ở bệnh nhân tăng áp lực thẩm thấu nhằm tránh phù não.
- Một số bệnh nhân đái tháo đường nhiễm toan ketone nhẹ (không có biến chứng) có thể điều trị insulin dưới da.
Bicarbonate
- Có thể cân nhắc truyền bicarbonate cho bệnh nhân có pH ≤ 6,9 và có giảm co bóp cơ tim.
- Pha 100 mEq NaHCO3/400mL muối NaCl 0,9% và truyền trong 2 giờ.
- Nếu kali máu < 5,3 mmol/L thì pha thêm 20 mEq KCl.
- Ngừng điều trị khi pH tăng lên > 7,0.
Điều trị nhiễm toan lactic
- Điều trị các bệnh lý nguyên nhân và các bệnh lý đi kèm, đồng thời cải thiện cung cấp oxy cho các mô.
- Làm giảm đường huyết bằng truyền insulin regular tĩnh mạch.
- Truyền tĩnh mạch bicarbonate cho bệnh nhân nhiễm toan lactic nặng (pH < 7,1; bicarbonate ≤ 6 mEq/L) hoặc nhiễm toan nhẹ hơn (pH = 7,1 – 7,2) nhưng có tổn thương thận cấp (nhằm tránh phải lọc máu và ngăn tử vong).
- Theo dõi nồng độ lactate máu mỗi 2-6 giờ. Nếu lactate tăng kéo dài là tiên lượng xấu.
Điều trị các bệnh đi kèm hoặc các nguyên nhân thúc đẩy
- Viêm phổi, nhồi máu cơ tim, tai biến mạch não…
- Và ngừng thuốc ức chế SGLT-2 (nếu có dùng).
THEO DÕI
Theo dõi chung
Xét nghiệm đường huyết mao mạch hàng giờ cho đến khi ổn định; điện giải đồ, ure, creatinin và khí máu thực hiện mỗi 2-4 giờ tùy theo diễn tiến lâm sàng.
Tăng đường huyết cấp cứu được coi là khỏi nếu bệnh nhân tỉnh, ăn được và:
- Hết nhiễm toan ketone: đường huyết < 200mg/dL (11 mmol/L) và có ít nhất 2/3 tiêu chuẩn: pH > 7,3, khoảng trống anion < 12 và bicarbonate ≥ 15.
- Hết tăng áp lực thẩm thấu: áp lực thẩm thấu máu giảm xuống dưới 315 mOsmol/kg.
Chuyển tiêm insulin dưới da
- Chỉ định: Bệnh nhân đái tháo đường nhiễm toan ketone khi đã hết nhiễm toan và có thể ăn được. Đối với bệnh nhân đái tháo đường tăng áp lực thẩm thấu, có thể giảm liều insulin tĩnh mạch và chuyển tiêm insulin dưới da khi đường huyết xuống dưới 250/dL (14 mmol/l).
- Cách tính liều insulin tiêm dưới da: Liều tiêm dưới da = 70% của tổng liều insulin truyền tĩnh mạch trong 24 giờ (lấy tổng liều insulin trong 6 giờ gần nhất nhân với 4). Nên tiêm theo phác đồ nhiều mũi (basal – bolus), trong đó insulin nền chiếm khoảng 40-50% tổng liều.
- Thời điểm thuận tiện nhất: Thời điểm thuận tiện nhất để chuyển sang tiêm insulin nhanh dưới da là trước bữa ăn. Mũi insulin nền (NPH, glargine, detemir hoặc degludec) có thể (1) cùng với mũi tiêm insulin nhanh đầu tiên, hoặc (2) sớm hơn (ví dụ từ tối hôm trước) khi giảm liều insulin tĩnh mạch. Vẫn cần tiếp tục insulin truyền tĩnh mạch thêm 1 giờ sau khi tiêm mũi insulin nhanh vì nếu ngừng insulin ngay có thể gây thiếu insulin cấp tính, dẫn đến tăng đường huyết và/hoặc nhiễm toan ketone trở lại.
Các biến chứng của điều trị
Phù não
- Phù não xảy ra chủ yếu ở bệnh nhân đái tháo đường nhiễm toan ketone trẻ em. Triệu chứng thường xuất hiện trong 12-24 giờ đầu điều trị. Biểu hiện lâm sàng sớm nhất là đau đầu, sau đó là rối loạn ý thức, nôn và các triệu chứng thần kinh như co giật, đái ỉa không tự chủ, giãn đồng tử, nhịp chậm và ngừng thở. Tỷ lệ tử vong là 20-40%.
- Điều trị: Truyền nhanh mannitol 0,25-1g/kg trong 30 phút hoặc NaCl 3% tốc độ 5-10 ml/kg/30 phút, đặc biệt khi không thấy đáp ứng ban đầu với mannitol. Nâng cao đầu giường 30-45 độ. Xem thêm: Tăng áp lực nội sọ
- Dự phòng: Bằng cách bù dịch từ từ; đồng thời nên truyền thêm glucose cùng với NaCL khi đường huyết giảm. Ở bệnh nhân có tăng áp lực thẩm thấu, duy trì đường huyết ở mức 250mg/dl (14 mmol/l) cho đến khi áp lực thẩm thấu máu về bình thường và bệnh nhân tỉnh.
Các biến chứng khác
- Rối loạn điện giải
- Hạ đường huyết
- Phù phổi do truyền dịch nhiều và nhanh (không do tim): do giảm áp lực keo dẫn đến tăng lượng nước trong phổi và giảm giãn nở phổi. Bệnh nhân DKA có chênh áp Oxy phế nang-động mạch mở rộng và hoặc ran phổi có thể nguy cơ cao phát triển phù phổi.
Tài liệu tham khảo
- Diabetic ketoacidosis and hyperosmolar hyperglycemic state in adults: Treatment. Uptodate. Topic 1795 Version 44.0
- Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị đái tháo đường típ 2. Quyết định số 5481/QĐ-BYT ngày 30/12/2020. Bộ Y Tế
- Standards of Care 2020. ADA
- Sodium Correction Calculator. OMNI calculator
- Hyperglycemic Crises in Adults With Diabetes: A Consensus Report. ADA 2024