GIỚI THIỆU
Bệnh cầu thận màng chiếm khoảng 1/3 các trường hợp người trưởng thành có HCTH được sinh thiết thận. Phần lớn bệnh nhân khởi phát trong độ tuổi 40 - 60, nam gặp nhiều hơn nữ. Xấp xỉ 75%- 80% bệnh cầu thận màng ở người trưởng thành là nguyên phát (tự miễn), do tự kháng thể chống lại các kháng nguyên nằm trên tế bào Podocyte; phần còn lại 20 -25% là thứ phát, liên quan đến một số bệnh lý như viêm gan virus B, bệnh tự miễn, viêm tuyến giáp, bệnh ác tính và việc sử dụng một số thuốc, bao gồm NSAIDs, vàng, penicillamine và captopril.
Biểu hiện lâm sàng có thể đa dạng, như protein niệu đơn thuần, THA, HCTH hoặc thể hỗn hợp. Bệnh thường kèm biến chứng tăng đông gây tắc mạch.
NGUYÊN NHÂN
- Bệnh cầu thận màng nguyên phát là bệnh tự miễn, hình thành do tự kháng thể chống lại một số kháng nguyên trên bề mặt tế bào podocyte [thụ thể phospholipase - A2 (PLA2R), thrombospondin type-1 domain-containing 7a (THSD7A), neural epidermal growth factor-like 1 (NELL1), semaphorin 3b (SEMA3B), the serine protease hightemperature requirement a1 (HTRA1), protocadherin 7 (PCDH7)]...
-
Bệnh cầu thận màng thứ phát thường liên quan các nguyên nhân sau:
- Thuốc: NSAIDs, penicillamine, muối vàng, bucillamine, alemtuzumab, muối thủy ngân, thủy ngân, thuốc ức chế yếu tố hoại tử u TNF (etanercept, infliximab, adalimumab).
- Nhiễm trùng: nhiễm virus viêm gan B,C; giang mai; ký sinh trùng...
- Bệnh ác tính: 5 - 20 % người trưởng thành mắc bệnh cầu thận màng, đặc biệt ở người trên 65 tuổi, có khối u ác tính.
- Lupus ban đỏ hệ thống: 10 - 20 % BN viêm thận lupus có bệnh cầu thận màng, được gọi là viêm thận lupus lớp V.
- Bệnh cầu thận màng sau ghép thận có thể là tái phát (ví dụ khi kháng thể anti-PLA2R dương tính tại thời điểm ghép) hoặc xuất hiện mới.
- Bệnh cầu thận màng đồng thời với các bệnh cầu thận khác có thể gặp ở BN đái tháo đường, viêm cầu thận hình liềm, xơ hóa cầu thận ổ cục bộ, bệnh thận IgA; mối liên hệ nhân - quả hoặc đồng mắc chưa được xác định rõ ràng.
TRIỆU CHỨNG
Lâm sàng
Biểu hiện trên lâm sàng có thể gặp các dạng sau:
- Hội chứng thận hư: chiếm khoảng 80% BN mắc bệnh cầu thận màng, biểu hiện phù toàn thân tăng nhanh với mức độ nặng; có thể kèm tràn dịch đa màng hoặc phù não. Người bệnh có giảm lượng nước tiểu, thường dưới 1000ml, có thể thiểu niệu vô niệu.
- Hội chứng suy thận: biểu hiện theo các dấu hiệu lâm sàng của tình trạng nhiễm độc tăng urê.
- Thể tiềm tàng: không có triệu chứng lâm sàng; chỉ phát hiện protein niệu và hồng cầu niệu.
- Thể THA: triệu chứng chiếm ưu thế là THA; kèm protein niệu và hồng cầu niệu.
- Thể hỗn hợp: biểu hiện đồng thời của HCTH và suy thận mạn.
Cận lâm sàng
- Nước tiểu: protein niệu ở các mức độ khác nhau, từ 1-3g/24 giờ đến mức thận hư (≥ 3,5g/24 giờ, đôi khi lên tới 30 – 40g/24 giờ). HC niệu thường ít.
- Huyết học: thiếu máu ở BN thuộc thể suy thận và thể hỗn hợp.
- Sinh hoá: Khi có HCTH, protein máu toàn phần giảm xuống dưới 60g/l, albumin máu giảm xuống dưới 30g/l; lipid máu toàn phần tăng, cholesterol thường > 6,5mmol/L. Tăng urê, creatinine, acid uric máu gặp ở thể suy thận; ở thể hỗn hợp.
- Siêu âm thận: Nhu mô thận tăng âm, giảm hoặc mất ranh giới tuỷ vỏ ở thể suy thận hoặc thể hỗn hợp.
-
Sinh thiết thận:
giúp chẩn đoán xác định thể tổn thương mô bệnh học.
- Hiển vi quang học: dày lan toả màng đáy mao mạch cầu thận, các tổn thương hình gai nhú trong màng đáy dưới biểu mô tiến triển song song với mức độ hoạt động của bệnh. Ở giai đoạn muộn, các gai nhú dính với nhau phía trên các lắng đọng làm cho màng đáy có cấu trúc dày giống dây thừng.
- Hiển vi miễn dịch huỳnh quang: các lắng đọng dạng hạt mịn chứa IgG và C3 ở thành mao mạch cầu thận; đôi khi thấy lắng đọng IgM hoặc IgA, không thấy IgE.
- Hiển vi điện tử: lắng đọng đặc điện tử dưới biểu mô và trong màng đáy cầu thận. Độ dày màng đáy không đều. Tế bào podocyte xẹp.
CHẨN ĐOÁN
Chẩn đoán xác định
- Chẩn đoán xác định dựa trên hình ảnh mô bệnh học quan sát được trên tiêu bản sinh thiết thận.
- Có thể sử dụng dấu ấn kháng thể kháng PLA2R trong máu hoặc trên mô thận để xác định bệnh cầu thận màng nguyên phát.
Chẩn đoán phân biệt
- Cần phân biệt với các týp tổn thương mô bệnh học khác có biểu hiện lâm sàng tương tự, như bệnh cầu thận thay đổi tối thiểu, xơ cầu thận ổ cục bộ, VCT màng tăng sinh, bệnh thận IgA, bệnh thận đái tháo đường, viêm thận lupus.
ĐIỀU TRỊ
Nguyên tắc chung
- Điều trị nguyên nhân gây bệnh cầu thận màng thứ phát.
- Điều trị theo cơ chế bệnh sinh đối với bệnh cầu thận màng nguyên phát (thuốc ƯCMD).
- Áp dụng các biện pháp điều trị hỗ trợ cho tất cả BN mắc bệnh cầu thận màng.
- Theo dõi BN dài hạn và thực hiện dự phòng bệnh tái phát.
Điều trị cụ thể
Các biện pháp điều trị hỗ trợ
Các biện pháp sau được áp dụng cho tất cả BN mắc bệnh cầu thận màng, bao gồm:
- Kiểm soát HA và giảm protein niệu thông qua chế độ ăn giảm muối và protein, phối hợp thuốc ức chế RAAS và thuốc ức chế SGLT2 (Dapagliflozin, Empagliflozin).
- Điều trị rối loạn lipid máu.
- Thuốc chống đông máu (với 1 số trường hợp nhất định).
- Điều trị phù và bảo đảm cung cấp đủ dinh dưỡng.
Điều trị bệnh cầu thận màng
- Bệnh cầu thận màng nguyên phát
- Cân nhắc điều trị ƯCMD cho các BN có ít nhất 1 yếu tố nguy cơ tổn thương thận tiến triển dẫn đến mất chức năng thận, hoặc có các biến chứng nguy hiểm của HCTH (như TTTC, nhiễm trùng, huyết khối tắc mạch).
- BN có nguy cơ cao mất dần chức năng thận khi có MLCT <60ml/phút và/hoặc protein niệu >8g/ngày từ 6 tháng trở lên; hoặc khi MLCT bình thường nhưng protein niệu >3,5g/ngày và không giảm từ 50% trở lên sau 6 tháng điều trị bảo tồn với ƯCMC/ƯCTT, kèm theo ít nhất 1 trong số các yếu tố: 1) Albumin máu <25g/L; 2) Kháng thể kháng PLA2-R >50RU/ml; 3) α1-microglobulin nước tiểu >40 µg/phút; 4) IgG nước tiểu >1 µg/phút; 5) β2-microglobulin nước tiểu >250mg/ngày; 6) Chỉ số chọn lọc (độ thanh thải IgG/độ thanh albumin) >0,2. Khuyến cáo điều trị bằng Rituximab hoặc Cyclophosphamid xen kẽ với glucocorticoid hàng tháng trong vòng 6 tháng; hoặc CNI trong 6 tháng trở lên tùy theo nguy cơ được đánh giá. Có thể điều chỉnh phác đồ dựa vào kết quả theo dõi nồng độ kháng thể kháng PLA2R.
- Không khởi trị ƯCMD cho BN có MLCT < 30 ml/p và kích thước thận trên siêu âm nhỏ hơn 8 cm, hoặc đang có nhiễm khuẩn nặng. Không dùng glucocorticoids hoặc Mycophenolat mofetil đơn độc.
-
Khởi trị bằng glucocorticoids truyền tĩnh mạch và uống phối hợp thuốc alkyl hóa:
- Tháng 1, 3, 5: Methyprednisolon 1g/ngày TM 3 ngày liên tiếp, Prednisolon 0,5mg/kg/ngày uống 27 ngày tiếp theo.
- Tháng 2, 4, 6: có thể dùng Cyclophosphamid 2mg/kg/ngày, uống 30 ngày.
- Liều các thuốc alkyl hóa cần được điều chỉnh theo tuổi và mức lọc cầu thận.
- Cần sinh thiết thận lại nếu sau 6 tháng BN không đáp ứng hoặc nếu chức năng thận giảm nhanh (creatinin tăng gấp đôi sau 1 - 2 tháng).
- BN không đáp ứng với điều trị ban đầu có thể chuyển sang Cyclosporine 3 - 5 mg/kg/ngày hoặc tacrolimus 0,05 - 0,1 mg/kg/ngày x 4 - 8 tuần, sau đó giảm 1/2 liều và duy trì tối thiểu 12 tháng. Định lượng nồng độ thuốc định kỳ hoặc khi có giảm chức năng thận không rõ nguyên nhân để tránh độc thận do thuốc.
- BN bị tái phát có thể dùng lại phác đồ trước đó đã cho đáp ứng tốt, với phác đồ khởi đầu chỉ dùng lại một lần.
- Trường hợp có biểu hiện hỗn hợp trên lâm sàng: có thể áp dụng chiến lược điều trị như đối với BN có HCTH, kèm điều trị triệu chứng THA, thiếu máu, chế độ ăn giảm protein có bổ sung viên Keto analog và bảo vệ thận tránh tổn thương.
- Bệnh cầu thận màng thứ phát
- Cần điều trị hoặc ngừng các nguyên nhân gây bệnh cầu thận màng thứ phát tùy theo từng trường hợp.
TIẾN TRIỂN VÀ BIẾN CHỨNG
- Ở BN mắc bệnh cầu thận màng nguyên phát, bệnh có thể tự thoái lui hoặc thoái lui do điều trị, thường có tiên lượng lâu dài tốt. Khi không được điều trị, khoảng 5 - 30% BN tự thuyên giảm hoàn toàn sau 5 năm; khoảng 25 - 40% BN tự thuyên giảm một phần (protein niệu ≤ 2,0 g/ngày) sau 5 năm. BN HCTH không được điều trị sẽ tiến triển đến bệnh thận giai đoạn cuối với tỷ lệ 14% sau 5 năm, 35% sau 10 năm, và 41% sau 15 năm.
- BN được điều trị bằng Cyclophosphamid và glucocorticoids đạt thuyên giảm hoàn toàn protein niệu ở 30 - 40%; thuyên giảm 1 phần ở 30 - 50%, và bệnh thận tiến triển chỉ khoảng 10%. BN có đáp ứng với điều trị dù chỉ 1 phần cũng có tiên lượng tốt hơn BN không đáp ứng hoặc có bệnh tiến triển.
QUẢN LÝ VÀ PHÒNG BỆNH
Quản lý bệnh (tái khám)
- Cần theo dõi chặt chẽ đáp ứng điều trị ở tất cả BN mắc bệnh cầu thận màng đang điều trị.
- Theo dõi nồng độ cyclosporin hoặc tacrolimus và chức năng thận mỗi 1 - 2 tháng một lần.
- Cân nhắc sinh thiết thận lại khi bệnh kháng trị.
Phòng bệnh
- Không có biện pháp dự phòng hiệu quả cho bệnh cầu thận màng nguyên phát.
- Dự phòng bệnh cầu thận màng thứ phát bằng cách tránh hoặc hạn chế dùng các thuốc NSAIDs, muối thủy ngân, muối vàng…, điều trị nhiễm trùng (viêm gan virus B, C, HIV, giang mai….), tầm soát và điều trị các bệnh ác tính.
Tài liệu tham khảo
- Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh thận mạn và một số bệnh lý thận. Số 2388/QĐ-BYT. 12/08/2024. Bộ Y Tế