Các bệnh do Coronavirus mới: COVID-19, MERS, SARS

Post key: 5cbbfd0e-3df6-5bfc-9549-ef27c452e406
Slug: cac-benh-do-coronavirus-moi-covid-19-mers-sars
Excerpt: COVID-19, MERS và SARS là các bệnh hô hấp do coronavirus gây ra với triệu chứng khởi đầu thường gặp như sốt/ớn lạnh, mệt mỏi, ho và khó thở. Bài viết tóm tắt các dấu hiệu khi tiếp cận ban đầu, bệnh sử, chẩn đoán phân biệt và thăm dò (RT-PCR, hình ảnh phổi, xét nghiệm viêm/đông máu và cơ tim). Đồng thời nêu chiến lược điều trị theo mức độ nặng (chăm sóc hỗ trợ cho ca nhẹ; dexamethasone và remdesivir cho ca nặng/nguy kịch; cân nhắc can thiệp hô hấp, phòng ngừa huyết khối; MERS/SARS chủ yếu điều trị hỗ trợ), các lưu ý kiểm soát lây nhiễm, thủ thuật tạo khí dung và hướng dẫn theo dõi sau nhiễm, dự phòng bằng tiêm vắc xin.
Recognized tags: chan-doan, dieu-tri, thu-thuat, xet-nghiem, hinh-anh, du-phong, kiem-soat-nhiem-khuan

GIỚI THIỆU

Triệu chứng nổi bật: sốt hoặc ớn lạnh, mệt mỏi, ho, khó thở

Chú thích:
  • COVID-19: CORONAVIRUS DISEASE 2019 (Bệnh do vi rút Corona 2019)
  • MERS : MIDDLE EASTERN RESPIRATORY SYNDROME (Hội chứng hô hấp Trung Đông)
  • SARS : SEVERE ACUTE RESPIRATORY SYNDROME (Hội chứng hô hấp cấp nặng)
Dịch bệnh COVID-19 hiện nay đã được kiểm soát trên toàn thế giới. Vì vậy, nội dung này (được dịch thuật và viết từ 2020) chỉ có giá trị tham khảo. Các hướng dẫn chi tiết tại Việt Nam được trình bày tại: SARS-CoV-2 (COVID-19)

CÁC DẤU HIỆU↑

Dấu hiệu cần nhận diện khi tiếp cận ban đầu
Thứ tự Mô tả
A (đường thở) Đánh giá đường thở
B (hô hấp) ↑ Tần số thở, tăng công thở
C (tuần hoàn) ↑ nhịp tim
D (khiếm khuyết thần kinh) Ý thức thay đổi (V,P,U,D)*
E (bộ lộ thăm khám) Sốt
L PC (xét nghiệm tại giường) Công thức máu, ↓số lượng tế bào lympho, ↑ men gan, ↑D-dimer, ↑troponin
U PC (siêu âm tại giường) B line
* A (tỉnh táo), V (đáp ứng với lời nói), P (đáp ứng với kích thích đau), U (bất tỉnh), D (mê sảng)

BỆNH SỬ

  • Đau cơ, nhức đầu, mới mất vị giác hoặc khứu giác, đau họng, nghẹt mũi hoặc sổ mũi, buồn nôn hoặc nôn, tiêu chảy, lú lẫn

CHẨN ĐOÁN PHÂN BIỆT

  • Viêm phổi do vi khuẩn, cúm, nhiễm RSV, parainfluenza, rhovirus, metapneumovirus, brucellosis, các loại virus Corona khác

THĂM DÒ

  • Thực hiện RT-PCR phết mũi họng và hầu họng; đồng thời đánh giá hình ảnh phổi (mờ đục vùng khí, thường chiếm ưu thế ở cả hai bên, ngoại vi và vùng dưới). Có thể tiến hành thêm xét nghiệm huyết thanh học.
  • Cân nhắc các xét nghiệm D-dimer, CRP, LDH, troponin, ferritin và CPK để xác định nguy cơ tiến triển thành bệnh nặng.

CÁC BIỆN PHÁP CAN THIỆP ĐIỀU TRỊ

Bệnh do vi-rút Corona 2019 (Covid-19)

  1. Cách tiếp cận tối ưu cần dựa trên mức độ không chắc chắn; do đó các biện pháp can thiệp được khuyến cáo có sự khác nhau tùy theo mức độ nghiêm trọng của tình trạng.
  2. Trường hợp không nặng (Nhiễm trùng không có triệu chứng hoặc có triệu chứng tiền triệu, bệnh nhẹ hoặc trung bình): Người không có triệu chứng hoặc có triệu chứng khác ngoài khó thở, đồng thời hình ảnh học (Xquang/CT) ngực bình thường hoặc có viêm phổi nhưng SpO2 ≥ 94% khi thở khí phòng.
    • Tiến hành chăm sóc hỗ trợ và theo dõi sát để phát hiện sớm diễn tiến nặng.
  3. Trường hợp nặng hoặc nguy kịch: Người có SpO 2 < 94% khi thở khí phòng, kèm PaO 2 /FiO 2 < 300 mmHg, nhịp thở > 30/phút hoặc thâm nhiễm > 50% trên hình ảnh học của phổi; hoặc có suy hô hấp, sốc nhiễm trùng, suy đa cơ quan.
    • Dexamethasone 6 mg/ngày (hoặc liều tương đương của các glucocorticoid khác nếu không sẵn dexamethasone) trong 10 ngày hoặc cho đến khi xuất viện.
    • Sử dụng Remdesivir với liệu trình 5 hoặc 10 ngày tùy theo mức độ nghiêm trọng của bệnh.
    • Các lựa chọn điều trị cụ thể khác như dùng huyết tương người khỏi bệnh [có chứa kháng thể] (convalescent plasma) hoặc tocilizumab chỉ được khuyến nghị trong bối cảnh thử nghiệm lâm sàng.
  4. Điều trị suy hô hấp:
    • Cân nhắc các biện pháp hỗ trợ hô hấp không xâm lấn như điều trị oxy lưu lượng cao (HFO) hoặc thở máy không xâm lấn (NIV) ở bệnh nhân suy hô hấp cấp và có nhu cầu oxy cao.
    • Người bệnh đang được hỗ trợ bằng các biện pháp không xâm lấn cần được theo dõi sát để phát hiện sớm tình trạng mất bù. Đặt nội khí quản cấp cứu có thể làm tăng nguy cơ phơi nhiễm cho nhân viên y tế; do đó, ưu tiên đặt nội khí quản trước khi mất bù cấp tính phát triển.
    • Khuyến cáo thông khí thể tích khí lưu thông thấp (4 đến 8 mL/kg trọng lượng cơ thể dự đoán), nhắm mục tiêu áp lực cao nguyên ≤ 30 cmH 2 O. Tư thế nằm sấp nên được xem xét đối với bệnh nhân đáp ứng kém với thông khí thể tích khí lưu thông thấp.
  5. Có thể xem xét điều trị theo kinh nghiệm đối với bệnh cúm hoặc viêm phổi do vi khuẩn đồng thời ở các bệnh nhân được chọn.
  6. Bệnh nhân bị bệnh nặng (hồi sức tích cực) có nguy cơ đặc biệt cao xuất hiện biến chứng huyết khối tắc mạch. Cần cân nhắc điều trị dự phòng bằng thuốc chống đông.

MERS và SARS

  • Hiện chưa có biện pháp điều trị đặc hiệu bằng thuốc. Một số thuốc đang trong giai đoạn thử nghiệm phát triển và nằm ngoài phạm vi của hướng dẫn này; vì vậy không khuyến nghị sử dụng rộng rãi ngoài các phác đồ nghiên cứu.
  • Glucocorticoids: không khuyến cáo sử dụng thường quy do lo ngại về sự phát tán virus kéo dài.
  • Chăm sóc hỗ trợ chung.
  • Thông khí cơ học bảo vệ phổi và cân bằng dịch âm tính có thể được dung nạp đối với ARDS. Tham khảo các hướng dẫn quản lý của WHO.

THỦ THUẬT

  • Khi nhập viện, bệnh nhân cần được cách ly tiếp xúc và cách ly qua không khí theo đúng hướng dẫn của CDC.
  • Nên bảo đảm có bảo vệ mắt.
  • Đối với mọi quy trình tạo hạt khí dung (aerosol) (ví dụ đặt nội khí quản, nội soi phế quản, hồi sức tim phổi), ngoài các thiết bị bảo hộ cá nhân khác, nhân viên y tế nên sử dụng mặt nạ phòng độc vừa vặn thay vì mặt nạ phẫu thuật.

HỘI CHẨN

  • Kiểm soát nhiễm trùng và sức khỏe cộng đồng (chuyên khoa Truyền Nhiễm)

ĐIỀU TRỊ TIẾP THEO

Theo dõi tiếp theo

Đối với COVID-19:
  1. Đối với người bệnh có triệu chứng, có thể ngừng các biện pháp cách ly khi thỏa mãn:
    • Ít nhất 10 ngày kể từ khi bắt đầu có triệu chứng
    • Ít nhất 24 giờ kể từ khi hết sốt
    • Và tất cả các triệu chứng khác đã được cải thiện.
  2. Người bệnh không có bất kỳ triệu chứng nào có thể ngừng biện pháp phòng ngừa cách ly sau 10 ngày kể từ xét nghiệm PCR SARS-CoV-2 dương tính lần đầu.
Cơ quan y tế công cộng cần theo dõi người bệnh để thiết lập các mối liên hệ tiềm năng và xác định ai (nếu có) cần sàng lọc bổ sung.

Dự phòng

  • Tiêm vắc xin phòng bệnh

THẬN TRỌNG

  • Phơi nhiễm và nhiễm trùng của nhân viên y tế là một biến chứng tiềm ẩn khi điều trị bệnh nhân nhiễm virus Corona.
  • Khuyến khích triển khai rộng rãi các biện pháp đeo khẩu trang, giãn cách xã hội và vệ sinh tay.

Tài liệu tham khảo

  1. Novel Coronavirus Diseases: COVID-19, MERS, SARS.