GIỚI THIỆU
Người bệnh mắc bệnh thần kinh cơ hoặc biến dạng thành ngực chiếm tỷ lệ nhỏ trong nhóm cần hỗ trợ thông khí, tuy nhiên lại là một nhóm có tỷ lệ lớn trong số các trường hợp phải duy trì hỗ trợ thông khí kéo dài. Đặc điểm chung của các bệnh nhân này là phổi thường còn chức năng bình thường nhưng không tạo được nỗ lực cơ hô hấp đủ để đảm bảo thông khí. Suy hô hấp có thể xuất phát từ rối loạn thần kinh trung ương hoặc rối loạn thần kinh ngoại biên.
| Bệnh của thần kinh trung ương liên quan đến rối loạn chức năng hô hấp | |||
|---|---|---|---|
| Võ não | Thân não | Hạch nền | Tủy sống |
| Đột quỵ, U não, Thoái hóa não, Co giật | Nhồi máu, U não, Thuốc, Xuất huyết, Liệt hành tủy tiến triển, Teo đa hệ thống, Sốt bại liệt, Bệnh não thiếu Oxy, Viêm não, Đa xơ cứng, Giảm thông khí phế nang nguyên phát | Bệnh Parkinson, Múa vờn, Loạn vận động | Chấn thương, Nhồi máu hoặc xuất huyết, Bệnh hủy Myeline, Chèn ép tủy sống, Bệnh rỗng tủy sống, Uốn ván, Ngộ độc strychnine, U tủy sống, Bệnh thần kinh vận động, Áp xe ngoài màng cứng |
Benditt JO. The neuromuscular respiratory system: physiology, pathophysiology, and a respiratory care approach to patients. Respir Care. 2006; 51 (8):829-837.
| Bệnh của thần kinh ngoại biên liên quan đến rối loạn chức năng hô hấp | ||
|---|---|---|
| Thần kinh vận động | Kết nối thần kinh cơ | Bệnh cơ |
| Bệnh thần kinh vận động(teo cơ xơ cứng cột bên, teo cơ cột sống). Hội chứng Guilain Barre. Bệnh thần kinh do bệnh nặng. Viêm mạch máu. Các độc tố (vd: Lithium, Asen, vàng). Chuyển hóa (Bệnh tiểu đường, Porphyria, Tăng Ure máu). Lymphoma. Bạch cầu. | Thuốc (kháng sinh, ức chế thần kinh cơ, anticholinesterase, corticosteroid, tê, quinidin, Lithium, chống thấp khớp). Chất độc (Botulism, nọc rắn, bọ cạp, ngộ độc sò, ngộ độc cua). Bệnh nhược cơ. Hội chứng nhược cơ. Lambert-Eaton | Loạn trương lực cơ. Bệnh teo cơ. Viêm đa cơ và viêm da cơ. Bệnh cơ dày Filament. Bệnh ứ đọng Glycogen (bệnh Pompe, bệnh MacArdle, bệnh Tarui). Hạ kali máu nặng. Hạ đường huyết. Bệnh cơ ty lạp thể. Bệnh cơ thể Nemaline. Thiếu aicd Maltase |
Benditt JO. The neuromuscular respiratory system: physiology, pathophysiology, and a respiratory care approach to patients. Respir Care. 2006; 51 (8):829-837.
Ba thành phần chính của suy hô hấp do thần kinh cơ bao gồm: (1) không có khả năng thông khí, (2) không có khả năng ho, và (3) nguy cơ hít phải. Suy hô hấp này được chia thành 2 nhóm: nhóm khởi phát nhanh (vài ngày đến vài tuần) và nhóm tiến triển (không hồi phục).
Khởi phát nhanh
- Hai bệnh chính trong nhóm khởi phát nhanh là nhược cơ và Guilain-Barre'. Ngoài ra, nhóm này còn bao gồm các bệnh nhân bị liệt cơ kéo dài do sử dụng thuốc ức chế thần kinh cơ (khi điều trị tại ICU) và bệnh nhân bị chấn thương tủy sống cao. Nhìn chung, nhóm bệnh nhân này thường không có bệnh phổi và tình trạng yếu thần kinh cơ có thể đòi hỏi điều trị hỗ trợ thông khí trong giai đoạn trước khi về trạng thái ổn định (khi thở tự nhiên trở nên khả thi). Đối với bệnh nhân bị tổn thương tủy sống, có thể cần hỗ trợ thông khí dài hạn.
Khởi phát từ từ
- Ở nhóm khởi phát từ từ, bệnh nhân có thể bao gồm người bị loạn dưỡng cơ, xơ cứng teo cơ một bên, biến dạng lồng ngực (vẹo cột sống, gù hoặc gù vẹo cột sống nặng), hoặc hội chứng sau sốt bại liệt. Các trường hợp này thường phát triển tình trạng yếu cơ dần theo thời gian, một số tiến triển qua nhiều năm. Một số người cần hỗ trợ thông khí định kỳ do nhiễm trùng phổi cấp tính, trong khi các người khác cần hỗ trợ thông khí mạn tính do suy giảm chức năng thần kinh cơ tiến triển. Đây là những bệnh nhân phù hợp để lựa chọn NIV. Ở giai đoạn đầu, có thể chỉ cần hỗ trợ về đêm; khi bệnh tiến triển, cần dùng NIV cả vào ban ngày và hỗ trợ thông khí xâm lấn.
THÔNG KHÍ CƠ HỌC
Chỉ định
- Yếu cơ hô hấp tiến triển.
Thông khí không xâm lấn NIV
- NIV là phương thức có giá trị ở những bệnh nhân không có tổn thương chức năng phổi.
- Tiêu chuẩn thường được sử dụng để chỉ định NIV ở bệnh nhân có bệnh thần kinh cơ tiến triển gồm: PaCO2 > 45 mmHg khi tỉnh, SpO2 ≤ 88% khi ngủ trong ≥ 5 phút, PImax > -60 cmH2O hoặc FVC (dung tích sống gắng sức) < 50% dự đoán.
- Có thể cung cấp NIV qua đường mũi hoặc đường miệng hoặc phối hợp cả hai.
- Thiết lập thường dùng Pin 8-15 cmH2O, một số bệnh nhân cần mức cao hơn. PEEP 3-4 cmH2O là đủ, trừ khi có ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn. Tần số cài đặt dự phòng 10-12 nhịp/phút.
Cài đặt thông khí xâm lấn
| Cài đặt máy thở ban đầu cho bệnh nhân mắc bệnh thần kinh cơ | |
|---|---|
| A. Bệnh nhân có thể tích phổi bình thường | |
| Cài đặt | Khuyến cáo |
| Chế độ | CMV (hỗ trợ/kiểm soát) |
| Tần số (f) | 15-20 lần/phút |
| Kiểm soát | Thể tích hoặc áp lực |
| Thể tích khí lưu thông (vt) | Thường 6-9 mL/kg PBW (< 10 mL/kg PBW) |
| Áp lực cao nguyên (Pplat) | ≤ 28 cmH2O |
| Áp lực đẩy (∆P) | < 15 cmH2O |
| Thời gian hít vào (Ti) | 1 giây |
| PEEP | 5 cmH2O |
| FiO2 | ≥ 21%, hiệu chỉnh để PaO2 55-80 mmHg hoặc SpO2 88-95% |
| Dạng sóng lưu lượng | Kiểu hình chữ nhật hoặc giảm dần |
| Khoảng chết cơ học | Có thể cần thiết để ngăn ngừa giảm CO2 máu |
| B. Bệnh nhân bị giảm thể tích phổi | |
| Cài đặt | Khuyến cáo |
| Chế độ | CMV (hỗ trợ/kiểm soát) |
| Tần số (f) | > 15 lần/phút |
| Kiểm soát | Thể tích hoặc áp lực |
| Thể tích khí lưu thông (vt) | Thường ≤ 8 mL/kg PBW |
| Áp lực cao nguyên (Pplat) | ≤ 28 cmH2O |
| Áp lực đẩy (∆P) | < 15 cmH2O |
| Thời gian hít vào (Ti) | ≤ 1 giây |
| PEEP | 5 cmH2O |
| FiO2 | ≤ 50%, hiệu chỉnh để PaO2 55-80 mmHg hoặc SpO2 88-95% |
Điều chỉnh các thông số
Theo dõi
| Theo dõi tình trạng thở máy ở bệnh nhân có bệnh lý thần kinh cơ hoặc biến dạng lồng ngực |
|---|
| Thể tích khí lưu thông (Vt) tự nhiên và tần số thở (f) |
| Dung tích sống (VC) và áp lực hít vào tối đa (PImax) |
| Khí máu động mạch định kỳ |
Quyết định hỗ trợ thông khí khi: VC < 10 mL/kg PBW và/hoặc PImax > -10 cmH2O.
Quyết định ngưng thở máy hỗ trợ khi VC > 15 mL/kg PBW, PImx < - 30 cmH2O mà không bị giảm sau thời gian thở tự nhiên kéo dài (> 1 giờ).
Khi máu động mạch định kỳ là cần thiết, tuy nhiên thực hiện thường xuyên là không cần thiết vì không có bệnh phổi nội tại.
Quyết định ngưng thở máy hỗ trợ khi VC > 15 mL/kg PBW, PImx < - 30 cmH2O mà không bị giảm sau thời gian thở tự nhiên kéo dài (> 1 giờ).
Khi máu động mạch định kỳ là cần thiết, tuy nhiên thực hiện thường xuyên là không cần thiết vì không có bệnh phổi nội tại.
Cai thở máy
- Bệnh nhân bị bệnh cấp tính có thể ngừng thở máy khi tình trạng khiếm khuyết thần kinh có thể đảo ngược và không còn chỉ định.
- Một số bệnh không thể hồi phục (Vd: chấn thương tủy sống cao, xơ cứng teo cơ giai đoạn cuối..) cần xem xét thở máy dài hạn và có thể cần phẫu thuật mở khí quản.
- Mục tiêu đầu tiên là giúp bệnh nhân độc lập với máy thở trong thời gian thức bằng cách cung cấp hỗ trợ thông khí vào ban đêm; độc lập hoàn toàn với máy thở là mục tiêu thứ yếu. Do bản chất bệnh có thể mất vài tuần mới có thể ngừng thở máy, việc chăm sóc cần tập trung tránh mỏi cơ hô hấp trong các thử nghiệm thở tự nhiên.
MÁY BƠM HÚT CƠ HỌC, DUNG TÍCH BƠM PHỒNG PHỔI TỐI ĐA VÀ HỖ TRỢ HO
- Bệnh nhân mắc các bệnh thần kinh cơ và biến dạng thành ngực kèm khó khăn thông khí là nhóm có thể cân nhắc máy bơm hút cơ học (MIE) hoặc thiết bị hỗ trợ ho. Cơ chế thực hiện của MIE là bơm phồng lồng ngực bằng áp lực hít vào 25 - 35 cmH2O trong khoảng 1 - 2 giây, sau đó cho thở ra với áp lực -40 cmH2O trong khoảng 1 - 2 giây. Thời gian thực hiện gồm 5 - 6 nhịp thở, sau đó nghỉ ngơi và lặp lại cho đến khi dịch tiết được thải trừ hiệu quả.
- Liệu pháp bơm phồng tối đa hay dung tích bơm phồng tối đa (MIC) được thực hiện bằng cách yêu cầu hít sâu, sau đó giữ lại, và tiếp tục hít vào, giữ lại..cho đến khi đạt thể tích tối đa mà nắp thanh môn vẫn đóng kín. Không khí có thể được cung cấp từ một máy thở thể tích bằng tay hoặc di động. Thông thường phương pháp này được thực hiện khi VC < 2 lít. Có thể kết hợp với ho (ho được hỗ trợ bằng tay bao gồm ép bụng và hoặc nén ngực) nhằm cải thiện thanh thải chất bài tiết.
Tài liệu tham khảo
- Thở máy cho bệnh nhân măc bệnh thần kinh cơ. Các nguyên lý cơ bản của thông khí cơ học. ROBERT M.KACMAREK. Bs. Đặng Thanh Tuấn (dịch)