FCCS: Hội chứng vành cấp

Post key: 609f1e8b-8ad3-5723-b4ca-6559e90d220a
Slug: fccs-hoi-chung-vanh-cap
Excerpt: Hội chứng vành cấp (ACS) gồm STEMI và NSTE-ACS, cần chẩn đoán–quản lý cấp cứu dựa trên triệu chứng, điện tâm đồ (ECG) và dấu ấn sinh học (troponin). Bài viết nhấn mạnh: đánh giá nhanh bệnh nhân đau ngực để loại trừ tình trạng đe dọa tính mạng khác, lấy ECG 12 chuyển đạo trong vòng 10 phút và sử dụng các thang điểm/đánh giá nguy cơ cho NSTE-ACS. Trong NSTE-ACS: xác định chẩn đoán (đặc biệt qua troponin), phân tầng nguy cơ và lựa chọn chiến lược điều trị nội khoa hoặc xâm lấn sớm; các trụ cột điều trị gồm liệu pháp chống kết tập tiểu cầu (thường là aspirin phối hợp thuốc ức chế P2Y12), chống đông và cân nhắc tái tưới máu khi nguy cơ cao. Trong STEMI: ưu tiên tái tưới máu càng sớm càng tốt (không trì hoãn thông tim chờ troponin). PCI thì đầu (đặt stent phủ thuốc) được ưu tiên nếu thực hiện nhanh; nếu không khả thi sẽ cân nhắc tiêu sợi huyết theo thời gian khuyến cáo. Trình bày các thuốc, mục tiêu thời gian (cửa-bóng), các chỉ định/ chống chỉ định tiêu sợi huyết, thuốc chống đông và điều trị hỗ trợ (ví dụ nitroglycerin tiêm tĩnh mạch khi đau ngực còn diễn tiến, thuốc chẹn beta chọn lọc). Bài viết cũng bao gồm xử trí biến chứng (suy tim/sốc tim, loạn nhịp…), tái nhồi máu và các cân nhắc đặc biệt (MI chu phẫu, bệnh kèm theo, kiểm soát thân nhiệt sau ngừng tim). Tài liệu tham khảo: Acute Coronary Syndromes. Fundamental Critical Care Support 2021.
Recognized tags: cap-cuu, icu, chan-doan, dieu-tri

GIỚI THIỆU

Mục tiêu:
  1. Xác định các bệnh nhân có hội chứng vành cấp thông qua đặc điểm lâm sàng và biểu hiện điện tâm đồ đa dạng.
  2. Trình bày các quy trình chẩn đoán và quản lý cấp cứu hội chứng vành cấp không ST chênh lên (NSTE-ACS) và nhồi máu cơ tim ST chênh lên (STEMI).
  3. Xác định các chỉ định can thiệp tái tưới máu phù hợp đối với bệnh nhân STEMI và đối với bệnh nhân NSTE-ACS nguy cơ cao.
  4. Nhận diện các biến chứng của nhồi máu cơ tim và nêu hướng xử trí thích hợp.

CA LÂM SÀNG

Một người đàn ông 58 tuổi, có tiền sử đái tháo đường týp 2 và tăng lipid máu kéo dài, khởi phát đột ngột cơn đau ngực dữ dội trong lúc đang cắt cỏ. Kèm theo cơn đau là các triệu chứng như khó thở, buồn nôn và vã mồ hôi.
Khi nhập khoa cấp cứu, các thông số sinh tồn của bệnh nhân như sau: huyết áp 148/84 mm Hg, nhịp tim 94 nhịp/phút, nhịp thở 26 nhịp/phút và độ bão hòa oxy đo bằng phương pháp đo oxy xung mạch (SpO2) là 97% khi thở khí phòng. Khám thực thể chỉ ghi nhận khó thở và vã mồ hôi nhẹ.
  1. Những đặc điểm nào khiến hội chứng vành cấp có khả năng xảy ra cao hơn?
  2. Cần thu thập những thông tin gì để xác định bệnh nhân có hội chứng mạch vành cấp hay không?
  3. Các biện pháp quản lý/can thiệp ngay lập tức được khuyến cáo là gì?

TỔNG QUAN

Hội chứng vành cấp (ACS) bao gồm một nhóm các tình trạng lâm sàng đặc trưng bởi thiếu máu cơ tim cục bộ cấp tính do giảm lưu lượng máu đến cơ tim. Trên thực hành lâm sàng, điểm phân biệt chủ yếu dựa vào điện tâm đồ (ECG) giữa nhồi máu cơ tim ST chênh lên (STEMI), nhóm bệnh nhân cần được xem xét tái thông mạch máu ngay tức thì, và nhóm còn lại (hội chứng vành cấp không ST chênh lên [nste-acs]).
ACS chiếm gần 2 triệu ca nhập viện hằng năm ở Hoa Kỳ; nếu tính cả các bệnh nhân tử vong trước khi đến bệnh viện, tỷ lệ tử vong có thể lên tới 25%.
ACS chia sẻ các cơ chế bệnh sinh tương tự và phản ánh những giai đoạn khác nhau trên cùng một tiến trình chung. Thường gặp nhất là quá trình vỡ mảng xơ vữa động mạch, dẫn tới chuỗi viêm phức tạp, kích hoạt tiểu cầu và kết tập, hình thành huyết khối và các hiện tượng thuyên tắc vi mạch vào mạch máu xa, gây giảm cung cấp oxy cho cơ tim. Xói mòn mảng xơ vữa có thể đóng vai trò ở một số bệnh nhân mắc NSTE-ACS.
Các diễn tiến có thể xảy ra gồm: (1) hình thành huyết khối gây tắc mạch hoàn toàn dẫn đến nhồi máu cơ tim ST chênh lên; (2) ly giải huyết khối và quá trình làm lành vết nứt kèm ổn định về biểu hiện lâm sàng; và (3) tắc mạch gần hoàn toàn có thể dẫn tới NSTE-ACS hoặc đau thắt ngực không ổn định (UA).
Phân biệt giữa NSTE-ACS và đau thắt ngực không ổn định dựa trên bằng chứng sinh hóa của tổn thương cơ tim, biểu hiện bằng tăng troponin tim. Tổn thương có nguy cơ cao hơn và thường là chỉ định tái thông mạch vành. Những bệnh nhân không tăng troponin được xếp vào nhóm đau thắt ngực không ổn định. Phân loại của ACS được trình bày trong Hình 1.
Hình 1: Phân loại hội chứng vành cấp
Hãy nhận biết những thay đổi trong việc quản lý ACS khi có bằng chứng mới!
Điều quan trọng cần lưu ý là nhiều tình trạng khác cũng có thể làm tăng troponin tim. Định nghĩa tổng quan về nhồi máu cơ tim phân biệt giữa tăng troponin do vỡ hoặc xói mòn mảng xơ vữa (nhồi máu cơ tim type 1) và tăng troponin do mất cân bằng giữa cung và cầu cơ tim (nhồi máu cơ tim type 2), vốn được xử trí theo hướng khác biệt, bằng cách giải quyết sự xấu đi của huyết động nền. Các tình trạng viêm, nhiễm trùng, suy thận và các yếu tố khác có thể gây tăng nồng độ troponin không liên quan đến thiếu máu cơ tim cục bộ.
Cách tiếp cận theo nhóm đa chuyên ngành là yếu tố then chốt trong nhận biết và quản lý bệnh nhân ACS!
Bệnh nhân có biểu hiện khó chịu ở ngực cần được đánh giá nhanh chóng đối với các tình trạng có thể đe dọa tính mạng, không chỉ ACS mà còn các bệnh lý khác như thuyên tắc phổi (PE) và bóc tách động mạch chủ; các tình trạng này cần được điều trị kịp thời ngay khi được chẩn đoán. Điện tâm đồ nên được lấy và diễn giải trong vòng 10 phút sau khi xuất hiện triệu chứng. Kết quả tốt nhất đạt được khi áp dụng cách tiếp cận có tổ chức để phân loại và chẩn đoán trong trường hợp nghi ngờ ACS.
Các bệnh viện nên thành lập các nhóm đa chuyên ngành (bao gồm bác sĩ chăm sóc chính, bác sĩ cấp cứu, bác sĩ tim mạch, điều dưỡng và các thành viên liên quan khác) nhằm xây dựng các phác đồ dựa trên bằng chứng để phân loại và quản lý bệnh nhân có triệu chứng gợi ý ACS. Các phác đồ này phải được cập nhật định kỳ dựa trên bằng chứng hiện tại tốt nhất.
Hậu quả của ACS thường rất nghiêm trọng, do đó điều trị được chỉ định ngay cả khi chẩn đoán chỉ là giả định!
Bệnh nhân mắc bệnh nặng khác hoặc chấn thương đi kèm có nguy cơ gia tăng đối với ACS và thường có các biểu hiện không điển hình. Chẩn đoán xác định ACS có thể không khả thi ngay trong đánh giá ban đầu và cần theo dõi sát liên tục, theo dõi điện tâm đồ và/hoặc thực hiện các xét nghiệm kiểm tra. Khám thực thể ban đầu nên bao gồm đánh giá các dấu hiệu sinh tồn và tình trạng chung, xem xét căng tĩnh mạch cổ, nghe phổi và tim, đánh giá mạch ngoại vi, phát hiện các khiếm khuyết thần kinh và đánh giá bằng chứng của giảm tưới máu hệ thống.

HỘI CHỨNG VÀNH CẤP KHÔNG ST CHÊNH LÊN

Khi đoạn ST chênh lên không xuất hiện trên điện tâm đồ (ecg) hiện tại, các biểu hiện gợi ý hội chứng vành cấp (ACS) cần được đánh giá dựa trên: nhận định các yếu tố nguy cơ bệnh động mạch vành (Bảng 1), khai thác tiền sử và các triệu chứng đang có, khám thực thể, điện tâm đồ và dấu ấn sinh học. Có thể rút ngắn lộ trình chẩn đoán và tăng độ chính xác của phán đoán lâm sàng nhờ sử dụng các điểm số rủi ro đã được xác thực; đồng thời đánh giá tiên lượng có thể được hưởng lợi từ cách tiếp cận này.
Bảng 1: Các yếu tố nguy cơ đối với bệnh động mạch vành
Tiền sử gia đình có nhồi máu cơ tim
Tăng huyết áp
Tiền sử hút thuốc lá
Tăng lipid máu
Tăng lên theo tuổi
Tình trạng sau mãn kinh
Béo phì
Bệnh đái tháo đường
Bệnh mạch máu khác
Lối sống ít vận động
Sử dụng Cocaine/amphetamine
Nếu bệnh nhân có đau ngực kiểu thiếu máu cục bộ và điện tâm đồ không cho thấy đoạn ST chênh lên, chẩn đoán được xem là NSTE-ACS. Đồng thời cần cân nhắc các nguyên nhân khác gây đau ngực kéo dài (Bảng 2). Tổn thương cơ tim được đánh giá thông qua các dấu ấn sinh hóa của tổn thương tim.
Bảng 2: Chẩn đoán phân biệt của đau ngực kéo dài
Thiếu máu cơ tim cục bộ cấp tính
Bóc tách động mạch chủ/ phình động mạch chủ
Viêm cơ tim
Viêm màng ngoài tim
Đau liên quan đến bệnh cơ tim phì đại hoặc các rối loạn thực quản và dạ dày ruột
Bệnh phổi chẳng hạn như tràn khí màng phổi, thuyên tắc phổi, và viêm màng phổi
Hội chứng tăng thông khí
Hẹp động mạch chủ
Các bệnh về cơ xương hoặc thành ngực, đau sụn sườn
Đau do tâm lý
Dữ liệu được lấy từ: the Agency for Healthcare Research and Quality. Braunwald E, Mark DB, Jones RH, et al. Unstable angina: diagnosis and management. AHCPR Publication 94-0602. Rockville, MD: Agency for Health Care Policy and Research and National Heart, Lung, and Blood Institute; 1994.

Chẩn đoán

Các yếu tố quan trọng nhất làm tăng khả năng thiếu máu cục bộ cơ tim gồm: đặc điểm của cơn đau, tiền sử bệnh động mạch vành trước đó, tuổi và số lượng các yếu tố nguy cơ. Khám thực thể có thể hoàn toàn bình thường, dù đôi khi có thể nghe thấy tiếng tim thứ tư (T4) trong các cơn đau. Điện tâm đồ 12 chuyển đạo có giá trị hữu ích nhất khi cho thấy đoạn ST chênh xuống ( Hình 2 ) trong các cơn đau thắt ngực; đặc biệt nếu các biến đổi đó có tính chất động và giảm bớt bởi nitrat. Tuy nhiên, điện tâm đồ vẫn có thể bình thường, hoặc có thể chỉ ghi nhận sóng T đảo ngược hoặc sóng T cao nhọn không đủ tính chất chẩn đoán.
Đoạn ST chênh xuống là đặc trưng của hội chứng mạch vành cấp không ST chênh lên.
Một số bệnh nhân có thể không có các biểu hiện kinh điển của ACS. Bệnh nhân đái tháo đường có thể không cảm thấy khó chịu ở ngực mà biểu hiện bằng khó thở hoặc các triệu chứng không điển hình khác. Bệnh nhân cao tuổi bị ACS có thể chỉ biểu hiện lơ mơ, cáu gắt hoặc thay đổi trạng thái tinh thần.
Một số phụ nữ có thể không biểu hiện đè ép ngực trái điển hình hoặc đau ngực kiểu bóp nghẹt; thay vào đó có thể gặp các triệu chứng không đặc hiệu thường được mô tả là khó chịu nhiều hơn là đau. Ở phụ nữ cũng ghi nhận tỷ lệ cao hơn các đặc điểm kèm theo như buồn nôn, khó thở, đánh trống ngực, đau hàm và cổ, cũng như đau lưng. Dù vậy, đau ngực vẫn là triệu chứng chủ yếu được báo cáo ở nhóm bệnh nhân được chẩn đoán xác định ACS; tần suất ở phụ nữ ngang bằng với nam giới.
Nếu có sẵn thiết bị và chuyên môn, siêu âm tim qua thành ngực giúp đánh giá tại giường các bất thường về vận động thành tim như một dấu hiệu của thiếu máu cục bộ hiện tại hoặc trong quá khứ, đồng thời phát hiện và theo dõi các bất thường mới. Siêu âm tim cũng cho phép ước tính chức năng thất trái (LV) và xác định rối loạn chức năng van tim và/hoặc dịch màng ngoài tim.
Chẩn đoán phân biệt đau ngực rất rộng, bao gồm bóc tách hoặc phình động mạch chủ, viêm cơ tim, viêm màng ngoài tim, hẹp động mạch chủ, thuyên tắc phổi, tràn khí màng phổi, rối loạn thực quản và dạ dày-ruột, viêm phổi, đau màng phổi, bệnh cơ xương hoặc thành ngực, tăng thông khí và các nguyên nhân khác. Các xét nghiệm bổ sung, chẳng hạn như huyết sắc tố (Hb)/hematocrit (HCT), điện giải đồ, chức năng tuyến giáp và độ bão hòa oxy động mạch, có thể có ích trong việc xác định các yếu tố thúc đẩy thiếu máu cục bộ do nhu cầu hoặc ACS, hoặc xác định các chẩn đoán thay thế. Các xét nghiệm hình ảnh khác có thể được chỉ định khi phù hợp với biểu hiện lâm sàng.

Khó thở mới khởi phát và/hoặc blốc nhánh trái mới nên được xem là bằng chứng có thể có của ACS, đặc biệt ở phụ nữ và bệnh nhân đái tháo đường, nhóm mà có thể có các biểu hiện không điển hình!

Một số điểm số phân tầng rủi ro đã được phát triển và xác nhận nhằm hỗ trợ dự đoán nguy cơ tử vong và biến cố thiếu máu cục bộ trong NSTE-ACS. Điểm GRACE 2.0 (Đăng ký toàn cầu về các biến cố tim cấp tính)thang điểm rủi ro TIMI (Thrombolysis in Myocardial Infarction) có thể được xác định nhanh ngay tại giường bệnh. Những bệnh nhân nguy cơ cao được xem là có nguy cơ tử vong cao hơn 6% trong vòng 6 tháng; nhóm nguy cơ trung bình có tỷ lệ tử vong trong 6 tháng từ 3% đến 6%. Đánh giá rủi ro có ý nghĩa đối với vị trí chăm sóc, lựa chọn liệu pháp y tế và việc sử dụng các can thiệp tái tưới máu.

Quản lý

Hai mục tiêu ưu tiên ban đầu là: đảo ngược tình trạng thiếu máu cục bộ cơ tim và xác nhận chẩn đoán NSTE-ACS. Bệnh nhân NSTE-ACS cần được chuyển vào đơn vị theo dõi tim và nằm trên giường hoặc ghế nghỉ ngơi ( Hình 3 ). Dữ liệu mới cho thấy việc sử dụng oxy bổ sung thường quy ở bệnh nhân tim khi mức oxy hóa bình thường có thể gây tác dụng không mong muốn; do đó, bệnh nhân có thiếu oxy (độ bão hòa oxy đo bằng oxy xung mạch < 90% khi thở khí phòng), suy hô hấp, suy tim hoặc sốc cần được cung cấp oxy bằng mũi gọng kính. Nếu các yếu tố thúc đẩy có thể nhận diện và đảo ngược được, chẳng hạn như sốt, thiếu máu, thiếu oxy, nhiễm trùng, tăng huyết áp, lo lắng, cường giáp, rối loạn nhịp tim hoặc sử dụng thuốc cường giao cảm (ví dụ như cocain, amphetamine), thì cần điều trị tích cực các nguyên nhân này. Các nội dung điều trị tiếp theo bao gồm: điều trị chống thiếu máu cục bộ, điều trị chống kết tập tiểu cầu/huyết khối, phân tầng nguy cơ đang diễn ra, và cân nhắc các thủ thuật tái tưới máu xâm lấn.
Đánh giá và điều trị hội chứng vành cấp(ACS)
Can thiệp ban đầu có thể thực hiện bởi dịch vụ cấp cứu y tế hoặc tại khoa cấp cứu
Thuốc ức chế Phosphodiesterase-4: sildanefil, vardenafil, tadalafil
Các từ viết tắt:
ABC: đường thở, hô hấp, tuần tuần; ACE: thuốc ức chế men chuyển Angiotensin; ARB: chẹn thụ thể angiotensin; ECG: điện tim; LBBB: Block nhánh trái; LMWH: Heparin trọng lượng phân tử thấp; NSTE-ACS: hội chứng vành cấp không ST chênh lên; STEMI: nhồi máu cơ tim ST chênh lên; UFH: Heparin không phân đoạn.

Liệu pháp chống thiếu máu cục bộ

Kiểm soát tức thời cơn đau do thiếu máu cục bộ thường dựa trên phối hợp nitrat, chẹn beta và opiate. Các thuốc giảm đau thắt ngực hiệu quả trong việc ổn định bệnh nhân đau thắt ngực không ổn định được nêu trong Bảng 4 . Mục tiêu điều trị là giảm thiếu máu cục bộ mà không gây hạ huyết áp hoặc nhịp tim nhanh phản xạ. Bệnh nhân còn khó chịu do thiếu máu cục bộ đang diễn ra cần nhận tối đa ba liều nitroglycerin ngậm hoặc xịt dưới lưỡi. Không dùng nitrat khi huyết áp tâm thu đo được < 90 mm Hg hoặc ≥ 30 mm Hg dưới mức huyết áp nền của bệnh nhân. Các chống chỉ định khác gồm nhịp tim < 50 nhịp/phút, nhịp tim nhanh > 100 nhịp/phút mà không có triệu chứng suy tim, và nghi ngờ nhồi máu thất phải hoặc hẹp động mạch chủ nặng. Nitrat cũng chống chỉ định ở bệnh nhân đã dùng thuốc ức chế phosphodiesterase để điều trị rối loạn cương dương trong 24 giờ trước đó (48 giờ đối với tadalafil).

Bảng 4: Liệu pháp chống thiếu máu cục bộ
Thuốc Liều uống Liều xịt Liều tĩnh mạch
Nitroglycerin 0.4 mg viên ngậm dưới lưỡi, tối đa 3 liều; chống chỉ định khi huyết áp tâm thu < 90 mmHg 0.4 mg mỗ 5 phút, tối đa 3 liều; chống chỉ định khi huyết áp tâm thu < 90 mmHg Tốc độ truyền ban đầu 10 µg/phút; tăng 10 µg/phút mỗi 3-5 phút nếu cần để kiểm soát đau; ngừng tăng liều đối với giảm huyết áp đáng kể hoặc liều đạt tới 200 µg/phút
Morphine sulfate 1-5 mg mỗi 5-30 phút nếu cần đối với đau
Metoprolol 50-200 mg mỗi 24 giờ 5 mg mỗi 5 phút đến tổng liều 15 mg
Carvedilol 6.25 mg mỗi 12 giờ, chuẩn liều đến tối đa 25 mg mỗi 12 giờ
Propranolol 20-80 mg mỗi 6-8 giờ; 40-100 mg mỗi 12 giờ 0.5-1 mg liều đơn; 5 mg mỗi 15 phút, đến tổng liều 15 mg
Diltiazem 30-60 mg mỗi 6-8 giờ
Nếu nitroglycerin ngậm dưới lưỡi hoặc xịt không làm giảm đau, cần xem xét nhu cầu sử dụng nitroglycerin đường tĩnh mạch trong trường hợp thiếu máu cục bộ dai dẳng. Giảm huyết áp với nitroglycerin chủ yếu do tăng dung tích tĩnh mạch (giãn mạch), và thường có thể được xử trí bằng truyền dịch tinh thể IV cẩn thận. Tuy nhiên, nếu huyết áp tâm thu giảm xuống dưới 110 mm Hg ở bệnh nhân có huyết áp bình thường, không nên tăng liều nitroglycerin. Khả năng thích ứng các tác động lên huyết động của nitroglycerin trở nên quan trọng sau 24 giờ truyền liên tục; do đó cần nỗ lực chuyển sang chế độ liều khác. Liều nitrat IV cần được giảm dần và ngừng khi biểu hiện thiếu máu cục bộ đã được giải quyết trong 12 đến 24 giờ.

Hạ huyết áp rõ rệt khi sử dụng nitroglycerin cần làm đưa lên nghi ngờ nhồi máu thất phải!

Morphine sulfate là lựa chọn giảm đau hợp lý để kiểm soát cơn đau kháng trị trong giai đoạn giảm đau ban đầu. Trong thời gian nằm viện, nên ngừng sử dụng các thuốc chống viêm không steroid khác ngoài aspirin.
Bằng chứng hiện tại không ủng hộ việc sử dụng thuốc chẹn bêta đường tĩnh mạch một cách thường quy trong quản lý ban đầu cho bệnh nhân nghi ngờ NSTE-ACS; tuy nhiên có thể cân nhắc ở những bệnh nhân có đau ngực trực tiếp diễn, đặc biệt khi kèm theo tăng huyết áp hoặc nhịp tim nhanh. Liều IV nên được tiếp nối bằng đường uống. Thuốc chẹn beta đường tĩnh mạch chống chỉ định ở bệnh nhân bị sốc, nhịp tim < 50 nhịp/phút, suy tim mất bù, block tim tiến triển (Block AV typ II độ 2 hoặc độ 3), hạ huyết áp hoặc bệnh co thắt phế quản hoạt động. Cần thận trọng khi sử dụng thuốc chẹn beta ở bệnh nhân có yếu tố nguy cơ sốc (tuổi > 70, nhịp tim > 110 lần/phút, huyết áp tâm thu < 120 mm Hg, hoặc đến khám muộn).

Aspirin cải thiện khả năng sống còn và giảm tỷ lệ mắc nhồi máu cơ tim!

Thuốc chẹn beta đường uống nên được bắt đầu trong vòng 24 giờ đầu ở bệnh nhân khi có thể; nên cố gắng khởi trị ngay cả ở những bệnh nhân có chống chỉ định ban đầu với việc sử dụng chúng.

Tránh dùng diltiazem trong trường hợp giảm chức năng thất trái!

Thuốc chẹn kênh canxi non-dihydropyridin (ví dụ diltiazem, verapamil) không làm giảm nguy cơ tử vong trong nhồi máu cơ tim (MI). Trong trường hợp không có chống chỉ định (chẳng hạn như rối loạn chức năng LV đáng kể), các thuốc này chỉ nên được xem xét nếu bệnh nhân không thể dung nạp thuốc chẹn beta hoặc không kiểm soát được triệu chứng bằng nitroglycerin phối hợp thuốc chẹn beta.

Liệu pháp chống kết tập tiểu cầu

Sử dụng các thuốc chống kết tập tiểu cầu và chống đông ( Bảng 5 ) là rất quan trọng trong NSTE-ACS, do sự phối hợp hoạt hóa/kết tập tiểu cầu và hệ thống đông máu tạo huyết khối giàu tiểu cầu. Liệu pháp kháng kết tập tiểu cầu kép được chỉ định cho bệnh nhân trải qua tái thông mạch vành bằng can thiệp mạch vành qua da (PCI). Cường độ điều trị với các thuốc này thường cần được điều chỉnh theo đánh giá nguy cơ của bệnh nhân và kế hoạch cho các thủ thuật xâm lấn sớm. Aspirin không vỏ bọc tan trong ruột với liều 162 đến 325 mg nên được dùng (và nhai) càng sớm càng tốt cho tất cả bệnh nhân NSTE-ACS (bao gồm cả những bệnh nhân trước nhập viện) nếu không có nghi ngờ dị ứng aspirin. Aspirin được dùng vô thời hạn. Clopidogrel hoặc ticagrelor được xem xét như lựa chọn thay thế nếu aspirin bị chống chỉ định.
Bảng 5: Thuốc chống kết tập tiểu cầu được sử dụng trong ACS
Thuốc Cách dùng
Aspirin Liều ban đầu nhai và nuốt 162-325 mg, sau đó là liều uống tối thiểu 81-325 mg mỗi ngày
Thuốc ức chế adenosine diphosphate (thienopyridin)
Clopidogrel Liều nạp *75–300 mg đường uống có thể được sử dụng với phương pháp tiếp cận không xâm lấn hoặc tiêu sợi huyết; liều tải từ 300 đến 600 mg uống với PCI; liều duy trì 75 mg uống hàng ngày
Prasugrel Liều nạp 60 mg đường uống có thể thay thế cho clopidogrel ở bệnh nhân STEMI được quản lý bằng PCI sớm người mà không có nguy cơ chảy máu cao; liều duy trì 10 mg mỗi ngày (cân nhắc 5 mg mỗi ngày nếu cân nặng <60 kg); không được nghiên cứu đối với STEMI được điều trị bằng thuốc tiêu sợi huyết
Ticagrelor Liều nạp 180 mg đường uống có thể là một lựa chọn thay thế cho clopidogrel trong NSTE-ACS hoặc STEMI được quản lý bằng PCI sớm; liều duy trì 90 mg x 2 lần/ngày; không được nghiên cứu đối với STEMI được điều trị bằng thuốc tiêu sợi huyết
*Những người trên 75 tuổi và những người đang dùng thuốc tiêu sợi huyết nên dùng liều tấn công 75 mg vì nguy cơ chảy máu tăng lên
Nếu một chiến lược xâm lấn sớm (chụp động mạch trong vòng 24-48 giờ với tái thông mạch máu nếu thích hợp) hoặc phương pháp tiếp cận bảo tồn không can thiệp được lên kế hoạch, clopidogrel hoặc ticagrelor nên được thêm vào aspirin để giảm nguy cơ tử vong do tim mạch, nhồi máu cơ tim và đột quỵ. Clopidogrel, prasugrel hoặc ticagrelor nên được sử dụng ở những bệnh nhân trải qua PCI, nhưng prasugrel chống chỉ định ở những bệnh nhân có tiền sử đột quỵ hoặc cơn thiếu máu não thoáng qua và có liên quan đến tăng nguy cơ chảy máu. Việc lựa chọn một chất ức chế adenosine diphosphate cụ thể nên được thảo luận với bác sĩ tim mạch khi có thể.

Liệu pháp chống đông

Sự kết hợp giữa aspirin và thuốc chống đông mang lại lợi ích vượt trội so với aspirin đơn độc trong NSTE-ACS. Việc lựa chọn thuốc cụ thể cần cân nhắc nguy cơ thiếu máu cục bộ và biến chứng chảy máu, đồng thời xem xét tình trạng rối loạn chức năng thận. Với bệnh nhân ACS điều trị theo hướng bảo tồn/thiếu máu cục bộ, ưu tiên dùng heparin trọng lượng phân tử thấp, heparin không phân đoạn, bivalirudin hoặc fondaparinux càng sớm càng tốt trừ khi có chống chỉ định đáng kể. Ở bệnh nhân được điều trị bằng fondaparinux, cần thêm thuốc chống đông để phòng ngừa huyết khối catheter nếu PCI được thực hiện sau đó. Heparin không phân đoạn (UFH) được tiếp tục trong ít nhất 48 giờ; enoxaparin hoặc fondaparinux hoặc thời gian nằm viện (tối đa 8 ngày) ở bệnh nhân điều trị nội khoa hoặc cho đến khi thực hiện PCI. Nếu có kế hoạch chiến lược xâm lấn sớm, UFH, enoxaparin hoặc bivalirudin nên được bắt đầu càng sớm càng tốt. Cần làm xét nghiệm định kỳ số lượng tiểu cầu theo trình tự được yêu cầu để theo dõi giảm tiểu cầu do heparin (HIT). Argatroban là thuốc chống đông thay thế ở bệnh nhân đã biết bị HIT. Bệnh nhân điều trị chống đông đầy đủ bằng warfarin vẫn cần dùng thuốc chống kết tập tiểu cầu, nhưng nói chung không cần heparin hoặc các thuốc thay thế trừ khi tỷ lệ chuẩn hóa quốc tế (INR) nhỏ hơn 2.0.

Can thiệp tái tưới máu

Thuốc tiêu sợi huyết đã chứng minh không có hiệu quả trong NSTE-ACS. Bệnh nhân NSTE-ACS kèm sốc có lợi nhờ tái tưới máu sớm bằng PCI hoặc ghép bắc cầu động mạch vành (Bypass) và cần được chuyển tới phòng thông tim càng sớm càng tốt. Tiếp cận xâm lấn sớm được chỉ định rõ ràng ở bệnh nhân có huyết động hoặc điện tim không ổn định, hoặc đau thắt ngực kháng trị, và ở những người không có bệnh đi kèm nghiêm trọng như chảy máu, suy gan hoặc suy thận tiến triển, hoặc bệnh giai đoạn cuối mà nguy cơ của PCI lớn hơn lợi ích. Ở các bệnh nhân NSTE-ACS khác, phân tầng nguy cơ là chìa khóa để quyết định chiến lược xâm lấn; hội chẩn tim mạch thường được bảo đảm để hỗ trợ đưa ra quyết định. Ban đầu, có thể áp dụng chiến lược điều trị nội khoa kèm nỗ lực nhằm đảm bảo ổn định bệnh nhân có nguy cơ thấp hơn; đồng thời, bệnh nhân nguy cơ cao cần được xem xét cho thông tim. Tính toán điểm rủi ro GRACE có thể hữu ích liên quan đến thời gian; bệnh nhân có điểm > 140 được hưởng lợi từ tái thông mạch máu sớm (< 24 giờ) trong thử nghiệm "Thời điểm can thiệp trong hội chứng vành cấp" (TIMACS).

Các can thiệp khác

Statin liều cao được chỉ định cho tất cả bệnh nhân ACS. Siêu âm tim nên được thực hiện để đánh giá hoạt động của thất trái (LV) vì các thuốc ức chế men chuyển angiotensin (ACE) hoặc thuốc chẹn thụ thể angiotensin cần được sử dụng cho bệnh nhân NSTE-ACS và có bằng chứng xung huyết phổi hoặc phân suất tống máu thất trái (LVEF) < 40% trừ khi có chống chỉ định. Thuốc đối kháng aldosterone là một lựa chọn ở bệnh nhân đang dùng ACE và thuốc chẹn beta có phân suất tống máu (EF) < 40%, đái tháo đường hoặc suy tim và không có chống chỉ định. Điều chỉnh yếu tố nguy cơ, bao gồm tập thể dục, giảm cân và ngừng hút thuốc lá, được khuyến cáo cho tất cả bệnh nhân mắc ACS. Bệnh nhân cần được đánh giá bệnh đái tháo đường ngay cả khi trước đó chưa được chẩn đoán.

Siêu âm tim nên là một phần được thực hiện trong ACS !

NHỒI MÁU CƠ TIM ST CHÊNH LÊN

Bệnh cảnh STEMI thường khởi phát do vỡ mảng xơ vữa kèm huyết khối gây tắc mạch vành, tạo ra một sóng hoại tử cơ tim bắt đầu từ bề mặt nội tâm mạc trong vòng 15 phút. Quá trình nhồi máu tiến triển ra ngoài đến lớp thượng tâm mạc trong khoảng 6 giờ, trừ khi có dòng chảy tuần hoàn bàng hệ, tái tưới máu tự phát hoặc tái tưới máu nhờ can thiệp. Tốc độ tiến triển chịu chi phối bởi mức độ tuần hoàn bàng hệ và các yếu tố quyết định đến nhu cầu oxy của cơ tim, từ đó tạo “cửa sổ” cơ hội để cứu vãn cơ tim. Với bệnh nhân NSTE-ACS, chẩn đoán kịp thời và điều trị sớm ở STEMI là then chốt để tối ưu hóa kết cục.

Chẩn đoán

Bệnh nhân STEMI điển hình thường biểu hiện đau ngực kéo dài cùng các triệu chứng liên quan; tuy nhiên, một số trường hợp nhồi máu cơ tim không đau ngực (nhồi máu/thiếu máu cục bộ thầm lặng) hoặc có các biểu hiện khác, chẳng hạn khó thở và mệt mỏi. Ở nhóm bệnh nhân nặng, STEMI có thể không kèm các triệu chứng kinh điển và thường chỉ được nghi ngờ khi xuất hiện biến chứng, khi rối loạn nhịp tim mới xuất hiện hoặc khi có thay đổi điện tâm đồ (ECG) được ghi nhận. Các phát hiện khi thăm khám thực thể nhìn chung không đặc hiệu.
Ở bệnh nhân có nhịp xoang bình thường, phát hiện thường gặp nhất là tiếng tim T4, phản ánh tình trạng giảm độ giãn nở của thất trái ở giai đoạn cuối đổ đầy thất. Có thể gặp ran nổ hai đáy phổi do phù phổi; các dấu hiệu này hữu ích cho đánh giá huyết động. Thăm khám thực thể nên được thực hiện theo cách tập trung ngắn gọn nhằm hỗ trợ chẩn đoán và phát hiện sớm các biến chứng có thể xảy ra của STEMI. Đồng thời, khi phù hợp, nên tiến hành thăm khám thần kinh hạn chế để tìm bằng chứng đột quỵ hoặc suy giảm nhận thức đã có trước đó.
Khi có thể, cần lấy và diễn giải ECG 12 chuyển đạo trước bệnh viện (ngoại viện) để hỗ trợ chẩn đoán, phân loại và định hướng điều trị khi đến cơ sở y tế. Nếu bệnh nhân có biểu hiện khó chịu vùng ngực hoặc các triệu chứng gợi ý ACS, ECG 12 chuyển đạo cần được thực hiện và đọc ngay trong vòng 10 phút sau khi bệnh nhân đến bệnh viện hoặc khi phát hiện triệu chứng. Chẩn đoán ECG là STEMI khi không có yếu tố gây nhiễu QRS (ví dụ block nhánh, tạo nhịp, phì đại thất trái, hội chứng Wolff-Parkinson-White) và điện tâm đồ cho thấy đoạn ST chênh lên ≥ 2 mm ở hai hoặc nhiều chuyển đạo liền kề ở nam giới, hoặc ST chênh lên ≥ 1,5 mm ở phụ nữ tại các chuyển đạo V2–V3 và/hoặc ≥ 1 mm tại các chuyển đạo liền kề khác (Hình 4).

Nhồi máu cơ tim ST chênh lên thành dưới-bên (STEMI)
ECG này có các dấu hiệu điển hình của ST chênh lên ở các chuyển đạo thành dưới (II, III và aVF) và thành bên (V4, V5 và V6), tương ứng với nhồi máu cơ tim ST chênh lên thành dưới-bên (STEMI).

Bệnh nhân có kết quả ECG phù hợp với block nhánh trái mới hoặc chưa từng được chẩn đoán và đau ngực tương ứng với thiếu máu cục bộ nên được xử trí tương tự như nhóm có ST chênh lên. Nếu ECG ban đầu không khẳng định được chẩn đoán nhưng bệnh nhân vẫn có triệu chứng và nghi ngờ lâm sàng cao về thiếu máu cục bộ, có thể đo ECG nối tiếp cách nhau 5 đến 10 phút để nhận diện sự phát triển của ST chênh lên. Điện tâm đồ bên ngực phải cho thấy ST chênh lên tại chuyển đạo V4R có thể gợi ý nhồi máu thất phải.

Không nên trì hoãn thông tim trong STEMI để chờ kết quả troponin !

Nếu chẩn đoán chưa chắc chắn, siêu âm tim có thể cung cấp thêm thông tin hữu ích bằng cách cho thấy bất thường vận động thành tim khu trú. Chẩn đoán vẫn được xác nhận khi nồng độ troponin đặc hiệu cho tim trong huyết thanh tăng cao, tuy nhiên không được trì hoãn hoặc hoãn lại tái tưới máu trong lúc chờ đợi kết quả troponin.

Quản lý chung

Khi đã nghi ngờ hoặc chẩn đoán STEMI, vấn đề ưu tiên trước mắt là đảm bảo ổn định huyết động và hạn chế kích thước vùng nhồi máu bằng cách khôi phục dòng chảy đến động mạch liên quan càng sớm càng tốt (Hình 5). Nên huy động chuyên gia tim mạch ngay lập tức. Điều trị STEMI ở bệnh nhân có tình trạng nặng kèm theo khác cần được cá thể hóa cẩn thận. Trước khi lựa chọn liệu pháp, cần xem xét và đánh giá nguy cơ tương đối của các chống chỉ định tuyệt đối và tương đối. Các lựa chọn điều trị có thể bị giới hạn bởi bệnh phối hợp đáng kể, nguy cơ chảy máu, tính sẵn có của thủ thuật chuyên khoa và tiên lượng nền.

Liệu pháp sớm

Ngay lập tức, cần đo ECG 12 chuyển đạo, xét nghiệm troponin đặc hiệu cho tim và các xét nghiệm kiểm tra liên quan. Aspirin nên được dùng ngay lập tức và cung cấp oxy bổ sung khi có khó thở, thiếu oxy máu, suy tim hoặc sốc.
Việc phục hồi sớm dòng chảy trong động mạch vành liên quan với vùng nhồi máu liên quan đến cải thiện khả năng sống còn ở bệnh nhân STEMI; vì vậy, lựa chọn tái tưới máu cần được tiến hành sớm nhất có thể. PCI thì đầu với đặt stent là phương pháp ưu tiên nếu có thể thực hiện nhanh chóng bởi người có kinh nghiệm; khi khả thi, bệnh nhân nên được chuyển thẳng đến phòng thông tim (Cathlab) thay vì các đơn vị chăm sóc đặc biệt (ICU) khác. Mục tiêu thời gian cửa-bóng (tính từ thời điểm vào viện đến lúc bơm bóng nong mạch vành) là 90 phút, nhưng 60 phút là tốt hơn. Các nghiên cứu gần đây cho thấy từ lần tiếp cận y tế đầu tiên đến thời gian bơm bóng phù hợp hơn để đánh giá, với mục tiêu là 90 phút. Kích hoạt phòng thông tim bằng cách lấy và truyền ECG trước bệnh viện (ngoại viện) và đưa bệnh nhân phù hợp trực tiếp đến các trung tâm có khả năng PCI là chiến lược có thể làm giảm thời gian tái thông mạch.
Việc bổ sung liều nạp và liều duy trì tiếp theo của clopidogrel hoặc ticagrelor như một phần của liệu pháp kháng kết tập tiểu cầu kép có thể cải thiện kết cục trước khi PCI cho STEMI, nhưng cần hội chẩn với nhóm tim mạch vì trong một số tình huống, các lựa chọn khác (chẳng hạn thuốc ức chế tiểu cầu tác dụng ngắn đường tĩnh mạch) có thể được khuyến khích, đặc biệt khi dự kiến cần can thiệp phẫu thuật. Thuốc chống đông, heparin không phân đoạn hoặc bivalirudin, cũng nên được sử dụng cho bệnh nhân trải qua PCI. Nitroglycerin tiêm tĩnh mạch có thể hữu ích ở bệnh nhân STEMI kèm đau ngực đang diễn tiến, tăng huyết áp hoặc suy tim, trừ khi huyết áp tâm thu dưới 90 mm Hg. Thuốc chẹn beta đường tĩnh mạch không được sử dụng thường quy nhưng có thể được xem xét khi có tăng huyết áp hoặc thiếu máu cục bộ đang diễn ra và không có chống chỉ định.

Liệu pháp tái tưới máu cấp

Kế hoạch tái tưới máu sớm cho bệnh nhân STEMI cần được xây dựng dựa trên các nguồn lực hiện có tại cơ sở và cộng đồng. Bao gồm: can thiệp mạch vành qua da (PCI), tiêu sợi huyết, phẫu thuật bắc cầu động mạch vành (CABG).

Can thiệp mạch vành qua da (PCI)

PCI bao gồm việc triển khai stent phủ thuốc trong mạch vành kèm các biện pháp dược lý nhằm ngăn ngừa huyết khối. PCI thì đầu cho tỷ lệ thông thoáng cao hơn của động mạch vành liên quan đến vùng nhồi máu và có tỷ lệ thấp hơn của thiếu máu cục bộ tái phát, tái nhồi máu và tử vong. PCI thì đầu là lựa chọn tái tưới máu được ưu tiên nếu có thể hoàn tất quy trình bởi người có kinh nghiệm trong vòng 90 phút kể từ khi nhập viện; chiến lược này được ưu tiên hơn khi có bằng chứng lâm sàng hoặc điện tâm đồ về thiếu máu cục bộ đang diễn ra, kể cả khi đã hơn 12 giờ trôi qua sau khởi phát triệu chứng.
Nếu PCI thì đầu không sẵn sàng và có thể chuyển bệnh nhân đến cơ sở có khả năng tái tưới máu xâm lấn trong vòng 30 phút, với thời gian cửa-bóng dưới 120 phút, đây là lựa chọn phù hợp hơn. Nếu không thể thực hiện theo phương án trên do hạn chế hậu cần hoặc các thách thức khác, liệu pháp tiêu sợi huyết được khuyến cáo và nên bắt đầu trong vòng 30 phút kể từ khi vào viện.
Các biến chứng tiềm ẩn của chiến lược xâm lấn trong điều trị STEMI gồm vấn đề tại vị trí tiếp cận động mạch, dị ứng thuốc nhuộm (cản quang), bệnh thận do thuốc cản quang, biến chứng của thuốc chống huyết khối, biến chứng kỹ thuật và các biến cố tái tưới máu.
Dữ liệu gần đây cho thấy tiếp cận động mạch quay cho PCI thì đầu có thể làm giảm xuất huyết nặng và biến chứng tại chỗ tiếp cận, đồng thời liên quan đến kết cục được cải thiện. Điều này có thể làm thay đổi cán cân nguy cơ-lợi ích ở một số bệnh nhân có nguy cơ cao biến chứng chảy máu.

Tiêu sợi huyết

Nếu PCI không sẵn có hoặc không thể thực hiện trong vòng 120 phút kể từ khi đến bệnh viện, cần cân nhắc điều trị tiêu sợi huyết. Kích thước vùng nhồi máu được tối ưu hóa khi sử dụng thuốc tiêu sợi huyết trong vòng 6 giờ kể từ khi khởi phát triệu chứng. Bác sĩ cần cân nhắc nguy cơ bất lợi tiềm ẩn so với lợi ích của tiêu sợi huyết cho từng bệnh nhân. Nếu quyết định điều trị được đưa ra và không có chống chỉ định tuyệt đối (Bảng 6), liệu pháp tiêu sợi huyết cần được thực hiện nhanh chóng.
Bảng 6: Các chống chỉ định đối với liệu pháp tiêu sợi huyết
Chống chỉ định tuyệt đối
Xuất huyết nội sọ trước đó
Tổn thương mạch máu não đã biết
Đột quỵ thiếu máu não trong vòng 3 tháng qua
Dị ứng với thuốc
Chấn thương đầu hoặc mặt đáng kể trong vòng 3 tháng qua
Khối u nội sọ đã biết
Nghi ngờ bóc tách động mạch chủ
Chảy máu trong đang hoạt động hoặc cơ địa dễ chảy máu (trừ kinh nguyệt)
Phẫu thuật nội sọ hoặc nội tủy trong vòng 2 tháng qua
Tăng huyết áp nghiêm trọng không kiểm soát được (không đáp ứng với điều trị khẩn cấp)
Chống chỉ định tương đối
Tăng huyết áp nghiêm trọng không kiểm soát được khi vào viện (huyết áp >180/110 mm Hg)
Tiền sử tăng huyết áp mãn tính, nghiêm trọng, kiểm soát kém
Đột quỵ thiếu máu não cách đây > 3 tháng hoặc bệnh lý nội sọ
Hiện tại sử dụng thuốc chống đông đường uống
Hồi sức tim phổi do chấn thương hoặc kèo dài (> 10 phút)
Phẫu thuật lớn trong vòng 3 tháng qua
Sử dụng streptokinase/anistreplase trước đây: dị ứng hoặc sử dụng trước đó (> 5 ngày trước)
Bệnh loét đường tiêu hóa hoạt động
Chảy máu trong gần đây (trong vòng 2 -4 tuần qua)
Chọc động mạch hoặc tĩnh mạch trung tâm vị trí không đè ép được
Mang thai

Một số thuốc sẵn có gồm alteplase, reteplase và tenectaplase, và tất cả đều hiệu quả. Liều lượng được trình bày trong (Bảng 7). Các chỉ điểm cho thấy tái tưới máu đạt được bao gồm giảm triệu chứng, duy trì hoặc phục hồi huyết động và/hoặc ổn định điện học (ECG), và giảm ít nhất 50% dạng tổn thương đoạn ST chênh lên ban đầu trên điện tâm đồ (ECG) theo dõi được thực hiện 60 đến 90 phút sau khi bắt đầu trị liệu.
Bảng 7: Thuốc tiêu sợi huyết được sử dụng trong nhồi máu cơ tim ST chênh lên
Thuốc Cách dùng
Streptokinase 1.5 triệu đơn vị tiêm truyền tĩnh mạch trong 30-60 phút
Alteplase 15 mg bolus tĩnh mạch, sau đó 0.75 mg/kg(tối đa 50 mg) tiêm truyền tĩnh mạch trong 30 phút, sau đó 0.50 mg/kg (tối đa 35 mg) tiêm truyền tĩnh mạch trong 60 phút
Reteplase 10 đơn vị tiêm truyền tĩnh mạch trong vòng 2 phút, sau 30 phút tiêm truyền tĩnh mạch 10 đơn vị trong 30 phút
Tenecteplase Bolus tĩnh mạch được điều chỉnh theo cân nặng( 30 mg nếu < 60 kg; 35 mg nếu 60-70 kg; 40 mg nếu 70-80 kg; 45 mg nếu 80-90 kg; 50 mg nếu > 90 kg)

Sau khi tiêu sợi huyết bằng chất hoạt hóa plasminogen, heparin nên được sử dụng để duy trì sự tái thông mạch máu trong ít nhất 48 giờ. Aspirin nên được tiếp tục. Không khuyến cáo sử dụng PCI thường quy trong 2 đến 3 giờ đầu tiên sau điều trị tiêu sợi huyết (“tạo thuận lợi cho nong mạch vành”).
Bệnh nhân STEMI tiến triển sốc tim hoặc suy tim nặng, hoặc người có bằng chứng thất bại của tái tưới máu hoặc tái tắc sau điều trị tiêu sợi huyết, cần được chuyển đến các cơ sở có khả năng PCI càng sớm càng tốt. Bệnh nhân STEMI có huyết động ổn định và đạt tái tưới máu thành công cũng nên được cân nhắc chuyển đến cơ sở có khả năng PCI. Điều trị chống kết tập tiểu cầu và chống đông được tiếp tục sau khi tiêu sợi huyết và trước khi vận chuyển bệnh nhân. Sơ đồ phân loại và chuyển bệnh nhân để điều trị tái tưới máu trong STEMI được trình bày trong Hình 5. Để tham khảo hướng dẫn cụ thể của Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ, xem thêm: https://professional.heart.org/en/guidelines-and-statements

Thời gian để mở thông mạch vành liên quan đến vùng nhồi máu là yếu tố quyết định quan trọng nhất khi lựa chọn các phương án tái tưới máu !

Hình 5: Liệu pháp tái tưới máu cho bệnh nhân STEMI

Phẫu thuật bắc cầu động mạch vành (CABG) ở bệnh nhân STEMI

Các nhóm bệnh nhân có biểu hiện STEMI có thể thu được lợi ích tốt hơn với CABG. Bệnh nhân có PCI thất bại hoặc có giải phẫu mạch vành không phù hợp với PCI nhưng kèm triệu chứng thiếu máu cục bộ đang diễn ra, sốc tim, suy tim nặng hoặc các đặc điểm nguy cơ cao khác nên được xem xét thực hiện CABG. CABG cũng được khuyến cáo ở những bệnh nhân không chỉ cần tái thông mạch mà còn cần sửa chữa một khiếm khuyết cơ học như thông liên thất, vỡ thành tự do hoặc đứt cơ nhú. Tỷ lệ tử vong gia tăng được báo cáo trước đây ở bệnh nhân CABG gần đây do STEMI cấp, và tình trạng chảy máu gia tăng ở những bệnh nhân được điều trị bằng liệu pháp kháng kết tập tiểu cầu kép gần đây cần được cân bằng với nhu cầu tái thông mạch.

Các liệu pháp bổ sung

Liệu pháp chống kết tập tiểu cầu

Liệu pháp kháng kết tập tiểu cầu kép với aspirin và ức chế P2Y12 được áp dụng cho tất cả bệnh nhân trải qua PCI như đã mô tả. Tuy vậy, dữ liệu cho thấy ngay cả ở bệnh nhân không thực hiện PCI, việc bổ sung clopidogrel hoặc ticagrelor vào aspirin vẫn mang lại lợi ích.
Các chất đối kháng thụ thể Glycoprotein IIb/IIIa ức chế con đường chung cuối cùng của kết tập tiểu cầu, ngăn cản sự liên kết ngang của các tiểu cầu đã hoạt hóa; tuy nhiên, trong kỷ nguyên của liệu pháp kháng kết tập tiểu cầu kép, vai trò của việc bổ sung chất ức chế glycoprotein IIb/IIIa trong nong mạch tiên phát cho STEMI cấp là chưa chắc chắn. Việc sử dụng thuốc đối kháng thụ thể GP IIb/IIIa khởi đầu (trước PCI) không cho thấy lợi ích và hiện không còn được khuyến cáo. Chúng có thể được cân nhắc theo cá thể hóa, nếu bệnh nhân có gánh nặng huyết khối lớn tại thời điểm PCI hoặc nếu nạp thuốc đối kháng thụ thể P2Y12 chưa đủ.

Lý tưởng nhất là liệu pháp tiêu sợi huyết nên được bắt đầu trong vòng 30 phút đầu sau khi bệnh nhân đến bệnh viện !

Liệu pháp chống đông

Sau khi tiêu sợi huyết bằng chất hoạt hóa plasminogen, heparin nên được dùng để duy trì sự thông mạch máu trong 48 giờ, với điều chỉnh để duy trì thời gian thromboplastin từng phần (APTT) ở mức 1,5 đến 2 lần so với giá trị kiểm soát. Không cần thiết dùng heparin để chống đông sau khi dùng streptokinase. Các bệnh nhân được phát hiện hoặc nghi ngờ có huyết khối trong thành mạch trên siêu âm tim nên được dùng heparin; đồng thời heparin cũng nên được xem xét ở các trường hợp nhồi máu thành trước lớn mà không được PCI hoặc tiêu sợi huyết.

Nếu PCI không thể thực hiện được trong vòng 120 phút, thì nên cân nhắc sử dụng thuốc tiêu sợi huyết !

Thuốc chẹn beta (β-Blockers)

Thuốc chẹn beta có vai trò hữu ích trong cả quản lý sớm nhồi máu cơ tim và điều trị lâu dài. Thuốc chẹn beta đường uống nên được khởi động sau khi bệnh nhân STEMI đã ổn định, lý tưởng nhất trong 24 giờ đầu tiên. Việc sử dụng kéo dài các thuốc này có ích cho tất cả bệnh nhân có nguy cơ xuất hiện các biến cố tim mạch tái phát và không có chống chỉ định.

Thuốc ức chế hệ thống Renin-Angiotensin

ACE-I làm giảm nồng độ angiotensin II trong tuần hoàn và tăng nồng độ bradykinin, từ đó kích thích sản xuất oxit nitric. ACE-I đã chứng minh cải thiện huyết động, khả năng hoạt động và triệu chứng. Chúng cũng cải thiện khả năng sống còn ở bệnh nhân suy tim sung huyết mãn tính và ngăn ngừa sự phát triển suy tim sung huyết ở bệnh nhân rối loạn chức năng LV không triệu chứng. Bệnh nhân được điều trị bằng ACE-I sau nhồi máu cơ tim (MI) có khả năng sống sót được cải thiện, lợi ích đặc biệt ở bệnh nhân rối loạn chức năng LV (phân suất tống máu EF < 40%), nhồi máu cơ tim thành trước hoặc có sung huyết phổi. Sự cải thiện khả năng sống còn này góp phần vào lợi ích của aspirin và thuốc chẹn beta. Các cơ chế giải thích lợi ích của thuốc ức chế men chuyển có thể bao gồm hạn chế rối loạn chức năng LV và làm chậm/giảm tiến triển và “sửa chữa” (remodeling) thường xảy ra sau nhồi máu, đồng thời cho thấy giảm các biến cố thiếu máu cục bộ. Truyền tĩnh mạch ngay lập tức enalaprilat chưa chứng minh được lợi ích, nhưng thuốc ức chế men chuyển đường uống nên được bắt đầu sớm trong quá trình điều trị tại bệnh viện. Nên dùng ACE-I trong vòng 24 giờ đầu tiên cho tất cả bệnh nhân STEMI kèm rối loạn chức năng thất trái hoặc suy tim, trừ khi có hạ huyết áp (huyết áp tâm thu < 100 mm Hg) hoặc có chống chỉ định khác, nổi bật là tiền sử phù mạch. Chức năng thận ban đầu cần được cân nhắc khi khởi đầu ACE-I hoặc ARB; tuy nhiên suy thận không phải là chống chỉ định tuyệt đối. Bệnh nhân nên bắt đầu với liều thấp đường uống và tăng liều đến liều dung nạp tối đa. Nếu bệnh nhân STEMI không dung nạp ACE-I, nên chuyển sang ARB. ARB đã được chứng minh không thua kém ACE-I trong bối cảnh này.

Statins

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng sử dụng statin ở bệnh nhân sau ACS có thể ngăn ngừa tử vong, nhồi máu cơ tim tái phát và đột quỵ. Ưu tiên sử dụng statin cường độ cao và nên bắt đầu trước khi xuất viện. Ở bệnh nhân ACS, nên dùng liệu pháp statin cường độ cao bất kể mức LDL. Chống chỉ định statin gồm tiền sử tiêu cơ vân do statin hoặc bệnh cơ đáng kể và/hoặc tổn thương gan cấp tính; tuy nhiên, thường bệnh nhân không dung nạp một statin này có thể dung nạp một statin khác.

Thuốc chẹn kênh Calci

Thuốc chẹn kênh canxi tác dụng kéo dài có thể là lựa chọn liệu pháp thứ hai hữu ích trong thiếu máu cục bộ tái phát nhưng không thích hợp là điều trị khởi đầu. Các thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên không chứng minh rằng việc sử dụng thuốc chẹn kênh canxi thường quy có cải thiện khả năng sống còn sau MI. Nifedipine phóng thích nhanh chống chỉ định trong điều trị MI cấp. Diltiazem và verapamil chống chỉ định ở bệnh nhân STEMI kèm rối loạn chức năng thất trái và suy tim.
Chuyển bệnh nhân đến cơ sở có mức độ chăm sóc cao hơn được chỉ định khi có các triệu chứng thiếu máu cục bộ dai dẳng sau MI, tiến triển sốc tim, suy tim dù đã được điều trị tích cực, hoặc rung thất/nhịp tim nhanh tái phát dù đã được điều trị bằng thuốc chống loạn nhịp tích cực.

Các biến chứng

Các biến chứng sớm thường gặp của MI gồm suy tim và sốc tim, thiếu máu cục bộ và/hoặc nhồi máu tái phát, cùng với rối loạn nhịp tim. Cần có hội chẩn khẩn cấp chuyên khoa tim mạch càng sớm càng tốt để hỗ trợ quản lý và ra quyết định liên quan đến các can thiệp nâng cao cho tất cả bệnh nhân có biến chứng của ACS.

Suy tim và sốc tim

Suy tim sau ACS thường là hậu quả của suy bơm thất trái (LV). Nên thực hiện siêu âm tim để đánh giá chức năng LV và loại trừ các biến chứng cơ học; đồng thời cần tìm kiếm sự tham vấn của chuyên gia. Cần cân nhắc đánh giá thiếu máu cục bộ còn sót lại hoặc tái hẹp hoặc huyết khối của một stent được đặt gần đây.
Điều trị suy tim bằng thuốc phải được điều chỉnh theo tình trạng lâm sàng và huyết động của bệnh nhân. Đánh giá lâm sàng có thể giúp nhận định tưới máu và thể tích nội mạch bằng cách mô tả đặc điểm bệnh nhân ướt hay khô và ấm hay lạnh; tuy nhiên, theo dõi huyết động có thể hữu ích, đặc biệt nếu bệnh nhân không đáp ứng nhanh với điều trị theo kinh nghiệm vì đánh giá cung lượng tim bằng lâm sàng rất khó khi chưa có sốc toàn diện. Bệnh nhân có huyết áp tâm thu động mạch >100 mm Hg và cung lượng tim thấp nên được điều trị ban đầu bằng thuốc giãn mạch, thường là nitroglycerin đường tĩnh mạch (liều 0,3 đến 1 μg/kg/phút, chuẩn độ tăng liều 0,5 μg/kg/phút mỗi 10 phút). Nếu huyết áp động mạch giảm hoặc cung lượng tim vẫn không đủ, có thể bắt đầu hỗ trợ tăng co bóp cơ tim bằng dobutamine (5 μg/kg/phút) và chuẩn độ nếu cần. Milrinone là thuốc tăng co bóp thay thế ít gây loạn nhịp hơn dobutamine, mặc dù thường đi kèm hạ huyết áp. Ở các quốc gia có sẵn, levosimendan cho thấy lợi ích huyết động thuận lợi và lợi ích tăng co bóp cơ tim, dù cải thiện kết cục chưa được chứng minh trong sốc tim. Thuốc lợi tiểu quai tiêm tĩnh mạch như furosemide và bumetanide nên được dùng để giảm sung huyết phổi. Hạ huyết áp hiếm khi được quy cho giảm thể tích tuần hoàn do thuốc lợi tiểu trong bối cảnh này.
Sốc tim là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong trong bệnh viện sau MI. Sốc tim được chẩn đoán lâm sàng dựa trên giảm tưới máu kèm tăng thể tích tuần hoàn (ướt và lạnh) và huyết động bởi hạ huyết áp kéo dài với chỉ số tim giảm. Rối loạn chức năng tim ở bệnh nhân sốc tim thường khởi đầu từ nhồi máu cơ tim hoặc thiếu máu cục bộ, sau đó có thể trầm trọng hơn do hạ huyết áp. Các cơ chế bù trừ nhằm giữ lại dịch để duy trì cung lượng tim có thể góp phần vào vòng xoắn bệnh lý và làm tăng thêm áp lực đổ đầy tâm trương. Việc làm gián đoạn chu kỳ rối loạn chức năng cơ tim và thiếu máu cục bộ này là nền tảng của phác đồ điều trị sốc tim. Nhận biết sớm sốc tim và quản lý kịp thời bằng tái thông mạch là yếu tố tối quan trọng để cải thiện kết cục.
Siêu âm tim cung cấp thông tin về chức năng tâm thu tổng thể và khu vực, chức năng tâm trương và bệnh van tim, đồng thời có thể chẩn đoán nhanh các nguyên nhân cơ học của sốc. Thông tim nên rất hữu ích trong mô tả đặc điểm huyết động và tối ưu hóa điều trị ở các bệnh nhân không ổn định, ở đó ước tính lâm sàng áp lực đổ đầy có thể không đáng tin cậy và áp lực đổ đầy tối ưu có thể cao hơn kỳ vọng ở các bệnh nhân có rối loạn chức năng tâm trương LV. Rối loạn chức năng thất phải đồng thời thường không được nhận ra ở bệnh nhân sốc tim và tầm quan trọng của nó có thể bị đánh giá chưa đúng mức; thông tim là phương tiện thuận tiện nhất để đánh giá huyết động bên phải và đáp ứng của nó với điều trị ở nhóm bệnh nhân này. Đo cung lượng tim (CO) và độ bão hòa tĩnh mạch trộn (SvO2) phản ánh mức độ đầy đủ của hoạt động tim và giúp lựa chọn bệnh nhân đối với thuốc tăng co bóp cơ tim và/hoặc hỗ trợ tuần hoàn cơ học.
Tái thông mạch kịp thời là biện pháp can thiệp duy nhất làm giảm tỷ lệ tử vong ở bệnh nhân sốc tim. Trong một thử nghiệm ngẫu nhiên trên bệnh nhân STEMI biến chứng suy thất trái, tái thông mạch vành bằng PCI hoặc CABG trong vòng 48 giờ sau khi vào viện làm giảm tỷ lệ tử vong do mọi nguyên nhân so với điều trị nội khoa tối ưu. Do đó, thông tim khẩn cấp, đồng thời chuyển bệnh nhân đến cơ sở có khả năng PCI nếu cần, được thừa nhận là chỉ định ở các bệnh nhân bị sốc tim.

Sốc tim trong bối cảnh MI cấp là một chỉ định tái thông mạch cấp cứu (hoặc là can thiệp qua da[PCI] hoặc bắc cầu động mạch vành[CABG]) !

Có thể cần điều trị bằng thuốc vận mạch để duy trì áp lực tưới máu động mạch vành, nhằm phá vỡ vòng xoắn của tình trạng hạ huyết áp tiến triển kèm thiếu máu cục bộ cơ tim thêm. Norepinephrine là thuốc đầu tay được ưu tiên trong bối cảnh này. Các thuốc tăng co bóp cơ tim như dobutamine có thể được bổ sung nhằm tăng cung lượng tim như một biện pháp hỗ trợ.
Hỗ trợ tuần hoàn cơ học qua da

Hỗ trợ tuần hoàn cơ học qua da nên được xem xét ở những bệnh nhân với ACS và sốc hoặc sốc sắp xảy ra, dựa trên đánh giá huyết động !

Các thiết bị hỗ trợ tuần hoàn cơ học qua da có thể làm tăng áp lực động mạch và cung lượng tim, giảm áp lực đổ đầy LV và hậu gánh, đồng thời hỗ trợ tưới máu mạch vành. Chúng có thể cung cấp hỗ trợ ngắn hạn như cầu nối để phục hồi hoặc ghép tim. Trong tình huống này, liệu pháp cơ học có thể được ưu tiên hơn so với thuốc vận mạch vì thuốc này có thể làm tăng nhu cầu oxy của cơ tim và giảm dòng chảy vi mạch. Các lựa chọn bao gồm bơm bóng trong động mạch chủ (IABP), cấy ghép bơm ly tâm, bơm dòng chảy hướng trục (VAD) và oxy hóa màng qua ngoài cơ thể (ECMO). Một vấn đề then chốt khi lựa chọn giữa các phương án hỗ trợ cơ học là chức năng thất phải; một số bệnh nhân suy tim cả phải và trái có thể được hưởng lợi từ hỗ trợ hai thất ban đầu với việc bổ sung hỗ trợ thất phải. Các thông số thăm dò xâm lấn được chứng minh hữu ích trong việc lựa chọn giữa các thiết bị hỗ trợ cơ học, bao gồm chỉ số công suất tim (CO × MAP/456) và chỉ số chức năng co bóp của LV, cùng với chỉ số xung động mạch phổi (PAPI: áp lực xung động mạch phổi/áp lực tâm nhĩ phải). Các thử nghiệm cho thấy IABP không chứng minh được cải thiện kết cục ở bệnh nhân sốc tim. Các thiết bị hỗ trợ thất trái (LVAD) qua da cung cấp hỗ trợ huyết động tốt hơn IABP: có chỉ số tim (CI) cao hơn và áp lực động mạch trung bình (MAP) cùng áp lực đổ đầy thấp hơn, nhưng chưa chứng minh cải thiện tỷ lệ tử vong.

Nhồi máu thất phải

Nhồi máu thất phải gây tăng áp lực đổ đầy nhĩ phải và thất phải, đồng thời làm giảm cung lượng tim (CO). Các bất thường huyết động này biểu hiện lâm sàng điển hình là hạ huyết áp, phổi trong và tĩnh mạch cảnh trong căng phồng. Điện tâm đồ thường gợi ý nhồi máu cơ tim thành dưới, cần ghi thêm điện tâm đồ theo dõi các chuyển đạo trước tim bên phải và có thể thấy đoạn ST chênh lên, đặc biệt ở V4R. Điều trị ban đầu tập trung vào duy trì tiền tải thất phải bằng cách tăng thể tích cho đến khi huyết áp ổn định. Nhịp tim chậm kèm hoặc block tim mức độ cao có thể cần can thiệp bằng thuốc hoặc điện học (tạo nhịp tim). Cần tránh các thuốc làm giảm tiền tải như morphin, nitrat, thuốc ức chế men chuyển/thuốc chẹn thụ thể angiotensin và thuốc lợi tiểu. Nếu tăng thể tích không đủ để ổn định bệnh nhân, cần cân nhắc hỗ trợ tăng co bóp cơ tim bằng dobutamine.

Các biến chứng cơ học

Biến chứng cơ học sau MI gồm vỡ thành tự do thất, vỡ vách liên thất và hở van hai lá cấp tính; nhìn chung các biến cố này thường xảy ra trong tuần đầu tiên sau nhồi máu.
Vỡ thành tự do thất có thể gây tử vong dù tỷ lệ xảy ra thấp (<1%). Các yếu tố nguy cơ gồm không có dòng chảy tuần hoàn bàng hệ, nhồi máu vùng thành trước, sử dụng corticosteroid hoặc thuốc chống viêm không steroid, tuổi > 70 và giới tính nữ. Giả phình động mạch kèm rò rỉ có thể được báo trước bằng đau ngực, buồn nôn và bồn chồn, nhưng vỡ thành tự do thực sự diễn tiến như một biến cố thảm khốc với sốc và phân ly điện cơ. Siêu âm tim cho thấy tràn dịch màng ngoài tim và có thể cứu được nếu nhận biết kịp thời và mở ngực để sửa chữa.
Vỡ vách liên thất biểu hiện hạ huyết áp, suy tim hai thất nặng, và sốc tim; các dấu hiệu thực thể đặc trưng gồm tiếng thổi toàn tâm thu và rung miu cạnh ức. Phát hiện đặc trưng là một shunt trong tim từ trái sang phải (“tăng lên dần” độ bão hòa oxy từ tâm nhĩ phải đến tâm thất phải), tuy nhiên chẩn đoán dễ dàng nhất bằng siêu âm tim. Cần thiết lập nhanh chóng các biện pháp hỗ trợ bằng dược lý (thuốc) và hỗ trợ cơ học. Phẫu thuật sửa chữa là lựa chọn khả thi duy nhất cho sống còn lâu dài, nhưng ngay cả khi thực hiện kịp thời, tỷ lệ tử vong vẫn cao, dao động khoảng từ 20% đến 80%.
Hở van hai lá do thiếu máu cục bộ có thể gặp sau MI thành dưới do tổn thương dòng máu đến cơ nhú phía sau. Biểu hiện điển hình là phù phổi khởi phát cấp tính và sốc tim. Tiếng thổi của hở van hai lá cấp tính có thể chỉ giới hạn ở thì tâm thu sớm do áp lực trong nhĩ trái và thất trái cân bằng nhanh chóng hoặc có thể nhỏ và không nghe rõ khi cung lượng tim thấp. Chẩn đoán xác định bằng siêu âm tim. Giảm hậu tải bằng điều trị tăng co bóp cơ tim hoặc thuốc vận mạch có thể tạm thời hỗ trợ cung lượng tim và huyết áp, nhưng điều trị dứt điểm là phẫu thuật sửa chữa hoặc thay thế van tim; can thiệp này nên được thực hiện càng sớm càng tốt vì tình trạng lâm sàng có thể xấu đi đột ngột.

Thiếu máu cục bộ hoặc nhồi máu tái phát

Thiếu máu cục bộ hoặc nhồi máu tái phát có thể xảy ra lên đến 20% bệnh nhân được điều trị bằng liệu pháp tiêu sợi huyết cho MI, trong khi bệnh nhân PCI thì đầu có tỷ lệ thiếu máu cục bộ tái phát thấp hơn. Thiếu máu cục bộ sau MI có thể do hẹp động mạch còn sót lại ở động mạch liên quan đến nhồi máu, do bệnh lý ở động mạch vành khác hoặc do tắc stent mới. Điện tâm đồ ghi lại trong cơn đau tái phát cần được đối chiếu với ECG của biến cố MI ban đầu. Tái nhồi máu có thể khó chẩn đoán vì troponin tim không đáng tin cậy do nồng độ có thể tăng trong 5 đến 14 ngày và vì ECG có thể đang diễn tiến. Nếu nghi ngờ cao về tái nhồi máu, nên cân nhắc thông tim bất kể giá trị dấu ấn sinh học tim hoặc dấu hiệu trên điện tâm đồ. Các nguyên nhân không do thiếu máu cục bộ, chẳng hạn viêm màng ngoài tim và thuyên tắc phổi, cũng cần được đưa vào chẩn đoán phân biệt đối với đau ngực tái phát.

Phát hiện tái nhồi máu là quan trọng về mặt lâm sàng vì nó làm gia tăng nguy cơ cho bệnh nhân !

Điều trị thiếu máu cục bộ sau MI tương tự quản lý MI ban đầu, bao gồm thông tim và tái tưới máu nếu có thể. Tái tưới máu cấp tính bằng PCI hoặc CABG có thể cần thiết để ổn định bệnh nhân.

Loạn nhịp tim

Loạn nhịp tim liên quan đến ACS và tái tưới máu bao gồm nhịp chậm nhĩ, nhịp nhanh nhĩ, block nhĩ thất (AV), nhịp nhanh thất và vô tâm thu. Nhịp chậm nhĩ hoặc block nhĩ thất đáng kể về mặt huyết động trong bối cảnh nhồi máu cơ tim (MI) thành dưới có thể được điều trị ban đầu bằng atropine đường tĩnh mạch với liều 0,5 mg mỗi 3–5 phút đến tổng liều 3 mg trong khi chuẩn bị cho tạo nhịp qua da. Atropine hiếm khi điều trị được hoàn toàn block tim hoặc block nhĩ thất độ II type II, đặc biệt khi xảy ra trong quá trình MI thành trước. Tạo nhịp tạm thời qua đường tĩnh mạch được chỉ định cho block tim hoàn toàn, block nhánh hai bên, block 2 bó mới hoặc không xác định theo tuổi với block nhĩ thất độ 1, block nhĩ thất độ II type II và nhịp xoang chậm có triệu chứng không đáp ứng với atropine. Tạo nhịp qua da nên được khởi động cho các bệnh nhân có chỉ định tạo nhịp tạm thời cấp cứu cho đến khi có thể đặt tạo nhịp qua đường tĩnh mạch.

Khởi phát cấp tính của đau ngực, rối loạn nhịp tim hoặc phù phổi – trong thời gian ngắn ngay sau PCI – cần làm tăng cảnh giác về tắc cấp tính của một stent mới !

Nhịp nhanh nhĩ, ví dụ rung nhĩ, có thể gây mất ổn định huyết động và thúc đẩy thiếu máu cục bộ cơ tim hoặc có thể không đáng kể về mặt lâm sàng và thoáng qua. Chuyển nhịp ngay lập tức được chỉ định ở các bệnh nhân không ổn định. Tùy thuộc vào rối loạn nhịp cụ thể, IV adenosine, thuốc chẹn beta, diltiazem, digoxin hoặc amiodarone có thể có hiệu quả; cần chú ý đến các chống chỉ định của từng thuốc.
Nhịp nhanh thất và rung thất nên được điều trị theo các hướng dẫn hỗ trợ sự sống tim mạch nâng cao (ACLS) hiện hành. Sau khi khử rung tim và nếu được chỉ định, amiodarone là thuốc được lựa chọn ở bệnh nhân MI cấp. Thuốc chống loạn nhịp không khuyến cáo sử dụng để dự phòng rối loạn nhịp thất trong bối cảnh MI cấp. Để hỗ trợ ngăn ngừa rối loạn nhịp tim sau nhồi máu, cần nhận biết và điều chỉnh sớm các yếu tố thúc đẩy hệ thống (bao gồm giảm oxy máu, bất thường toan-kiềm và rối loạn cân bằng điện giải) là khuyến cáo.

Các cân nhắc đặc biệt

Nhồi máu cơ tim (MI) quanh quá trình phẫu thuật (chu phẫu)

MI chu phẫu có thể xảy ra trước phẫu thuật, trong phẫu thuật và trong giai đoạn hậu phẫu; trong đó, dạng xuất hiện ở hậu phẫu là phổ biến nhất với tỷ lệ cao nhất vào ngày hậu phẫu thứ ba. MI chu phẫu thường có biểu hiện không điển hình và có thể không đau; bệnh nhân ít khi có các triệu chứng và dấu hiệu điển hình của hội chứng vành cấp, hoặc triệu chứng có thể bị che lấp bởi thuốc giảm đau và/hoặc thuốc an thần. Loạn nhịp nhĩ hoặc thất mới khởi phát hoặc nặng lên thường là dấu hiệu biểu hiện, cũng như phù phổi sau phẫu thuật. Các biểu hiện khác có thể gồm huyết động không ổn định và suy hô hấp. Chẩn đoán đôi khi được xác nhận bằng ECG thực hiện tuần tự nối tiếp và xác định dấu ấn sinh học tim, tuy nhiên siêu âm tim đặc biệt hữu ích để nhận diện các bất thường vận động thành tim mới trong trường hợp chẩn đoán không chắc chắn. Điều trị nội khoa nhằm giảm nhu cầu oxy của cơ tim thường là bước đầu. Đặt catheter có tiềm năng PCI nên được xem xét miễn là liệu pháp kháng kết tập tiểu cầu kép vẫn khả thi; tiêu sợi huyết thường bị chống chỉ định.

Ảnh hưởng của các bệnh cùng tồn tại

Nhiều bệnh nhân nặng có nhiều hơn một tình trạng bệnh lý, có thể cần điều chỉnh đáng kể so với tiếp cận điều trị chuẩn. Một số tình trạng kèm theo có chống chỉ định tương đối hoặc tuyệt đối đối với thuốc hoặc thủ thuật tiêu chuẩn. Bệnh nhân loét dạ dày do stress hoặc viêm dạ dày có thể không phải ứng viên cho liệu pháp aspirin. Bệnh nhân sau phẫu thuật hoặc có cơ địa chảy máu thường không phù hợp để dùng clopidogrel, heparin, liệu pháp tiêu sợi huyết hoặc aspirin. Nên tránh thuốc chẹn beta ở bệnh nhân có co thắt phế quản đáng kể đang diễn ra hoặc suy tim mất bù. Nhiều thuốc sẽ cần chỉnh liều khi có rối loạn chức năng thận hoặc gan. Các bệnh nặng không xuất phát từ tim có thể làm giảm cung cấp oxy cho cơ tim và sau đó dẫn đến rối loạn chức năng cơ tim. Khuyến cáo quản lý suy đa tạng ở bệnh nhân nặng tập trung vào chăm sóc hỗ trợ và điều trị bệnh nền.

Kiểm soát thân nhiệt theo đích sau khi ngừng tim

Tổn thương thần kinh là nguyên nhân gây tử vong phổ biến nhất ở bệnh nhân ngừng tim ngoài bệnh viện. Những bệnh nhân không thực hiện theo y lệnh hoặc không có các cử động có mục đích cần được quản lý thân nhiệt theo mục tiêu. Hạ thân nhiệt trung tâm từ 32°C đến 36°C (89,6°F và 96,8°F) trong 24 giờ sau ngừng tim cùng chăm sóc hỗ trợ thích hợp có thể cải thiện kết cục thần kinh. Tuy nhiên, quản lý nhiệt độ theo đích liên quan đến tăng nguy cơ rối loạn đông máu và nhiễm trùng.

NHỮNG ĐIỂM CHÍNH

  1. Chẩn đoán sơ bộ NSTE-ACS dựa trên biểu hiện lâm sàng, phân tích các yếu tố nguy cơ bệnh động mạch vành và diễn giải điện tâm đồ.
  2. Điện tâm đồ 12 chuyển đạo cần được thực hiện và đọc/diễn giải trong vòng 10 phút ở những bệnh nhân có thể mắc ACS.
  3. Đối với bệnh nhân nghi ngờ NSTE-ACS, tiến hành phân tầng nguy cơ, lựa chọn chiến lược quản lý ban đầu, hoàn tất đánh giá chẩn đoán và áp dụng điều trị nội khoa đồng thời tái thông mạch máu khi phù hợp.
  4. Aspirin không vỏ bọc tan trong ruột với liều 162 đến 325 mg nên được sử dụng (và nhai) sớm nhất có thể ở tất cả bệnh nhân nghi ngờ hoặc đã được chẩn đoán ACS.
  5. Thuốc chống kết tập tiểu cầu và chống đông là các biện pháp can thiệp quan trọng ở mọi bệnh nhân mắc ACS.
  6. Những bệnh nhân nguy cơ cao (thiếu máu cục bộ còn diễn tiến, nồng độ troponin tăng cao) trong bối cảnh NSTE-ACS có thể được xem xét điều trị bổ sung theo chiến lược xâm lấn sớm.
  7. Thuốc chẹn beta đường uống nên được khởi động trong 24 giờ đầu tiên ở tất cả bệnh nhân ACS, trừ khi có chống chỉ định rõ ràng.
  8. Cần xây dựng kế hoạch tái tưới máu sớm cho bệnh nhân STEMI dựa trên các nguồn lực sẵn có tại cơ sở và trong cộng đồng.
  9. PCI thì đầu (đặt stent phủ thuốc) được ưu tiên nếu có thể thực hiện nhanh chóng bởi đội ngũ nhân viên giàu kinh nghiệm. Trong trường hợp không thực hiện PCI kịp thời, điều trị tiêu sợi huyết để tái tưới máu ở STEMI lý tưởng nên được khởi động trong vòng 30 phút sau khi bệnh nhân đến bệnh viện.
  10. Tất cả bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp, dù có điều trị tái tưới máu hay không, đều cần được dùng aspirin và ít nhất một thuốc chống kết tập tiểu cầu khác, ví dụ clopidogrel, prasugrel hoặc ticagrelor.
  11. Sử dụng thuốc ức chế men chuyển (ACE-I) giúp giảm tỷ lệ tử vong ở bệnh nhân STEMI.
  12. PCI không phải là chống chỉ định ở bệnh nhân hôn mê hoặc ở bệnh nhân cần kiểm soát thân nhiệt theo đích sau ngừng tim.
  13. Bệnh nhân sốc tim trong bối cảnh nhồi máu cơ tim cấp cần được tái thông mạch cấp cứu.

Tài liệu tham khảo

  1. Acute Coronary Syndromes. Fundamental Critical Care Support 2021