Hạ đường huyết ở bệnh nhân đái tháo đường

Post key: 60a68293-767b-514d-be31-ed2991b80bdf
Slug: ha-duong-huyet-o-benh-nhan-dai-thao-duong
Excerpt: Hạ đường huyết là biến chứng cấp tính thường gặp ở bệnh nhân đái tháo đường và là rào cản lớn trong kiểm soát đường huyết đạt mục tiêu. Bài viết tổng quan nguy cơ hạ đường huyết, phân mức độ theo ngưỡng glucose, khuyến cáo sàng lọc/đánh giá và hướng dẫn nhận biết, tái xuất hiện hạ đường huyết (nhất là ở người dùng insulin hoặc sulfonylure). Hướng dẫn xử trí cơn hạ đường huyết từ bệnh nhân tỉnh táo tự uống được (15–20 g glucose, thử lại sau 15 phút; lặp lại nếu chưa về bình thường), đến mức độ nặng cần cấp cứu theo ABC, truyền glucose tĩnh mạch, tiêm glucagon khi chưa có đường truyền, đồng thời theo dõi sát đường máu mao mạch theo thời gian tác dụng của các thuốc hạ đường huyết. Tài liệu tham khảo: Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị đái tháo đường típ 2, Quyết định 5481/QĐ-BYT (30/12/2021).
Recognized tags: dieu-tri, theo-doi, bo-y-te, cap-cuu

GIỚI THIỆU

Hạ glucose huyết (hay hạ đường huyết) là biến chứng cấp tính, thường gặp ở người bệnh đái tháo đường; đồng thời là rào cản lớn trong việc kiểm soát đường huyết đạt mục tiêu, áp dụng cho cả bệnh nhân đái tháo đường típ 1 và típ 2.

TỔNG QUAN

Khuyến cáo

  1. Với người bệnh có nguy cơ hạ đường huyết: cần khai thác bệnh sử kỹ, hỏi về các cơn hạ đường huyết có triệu chứng và hạ đường huyết không triệu chứng mỗi lần thăm khám.
  2. Đối với người bệnh sử dụng các nhóm thuốc có nguy cơ gây hạ đường huyết (insulin, SU): cần theo dõi, đánh giá, tiến hành sàng lọc và hướng dẫn nhận biết nguy cơ cũng như sự tái xuất hiện những cơn hạ đường huyết mà người bệnh có thể không nhận biết được.
  3. Điều trị cơn hạ đường huyết cho người bệnh còn tỉnh, tự uống được khi glucose huyết <3,9 mmol/L hay 70mg/dL: dùng 15-20g glucose pha nước uống hoặc dùng bất kỳ loại thực phẩm nào chứa carbonhydrate có glucose để thay thế. Thử lại glucose huyết mao mạch sau 15 phút; nếu vẫn còn tình trạng hạ, điều trị nhắc lại theo liều tương tự như trên. Khi glucose huyết đã về bình thường, cho người bệnh ăn nhẹ ngay để phòng tránh nguy cơ tái xuất hiện hạ glucose huyết.
  4. Người bệnh hạ glucose huyết mức độ 2 trở lên cần được tiêm glucagon (nếu có).
  5. Với người bệnh có nhiều cơn hạ đường huyết, hạ đường huyết không triệu chứng hoặc hạ đường huyết nặng: cần rà soát lại phác đồ điều trị, tìm nguyên nhân và xây dựng kế hoạch điều trị phù hợp.
  6. Đối với bệnh nhân đang điều trị bằng insulin mà xuất hiện hạ đường huyết không nhận biết kèm hạ đường huyết mức độ nặng: cần điều chỉnh nới lỏng mục tiêu kiểm soát đường huyết trong vài tuần nhằm giảm nguy cơ hạ đường huyết.
  7. Cần đánh giá chức năng nhận thức ở những bệnh nhân có nhiều cơn hạ đường huyết hoặc cơn hạ đường huyết nặng để kịp thời điều chỉnh phác đồ điều trị.

Phân mức độ hạ đường huyết

Hạ đường huyết được phân thành 3 mức độ dựa vào nồng độ glucose huyết, cụ thể:
Mức Tiêu chí
I Glucose <70 mg/dL (3,9 mmol/L) và ≥54 mg/dL (3,0 mmol/L)
II Glucose <54 mg/dL (3,0 mmol/L)
III Hạ đường huyết mức độ nặng: bệnh nhân có rối loạn ý thức và/hoặc có thay đổi biểu hiện toàn thân cần xử trí cấp cứu

XỬ TRÍ

Tiến hành các biện pháp cấp cứu ban đầu theo các bước ABC (đường thở, hô hấp, tuần hoàn).

Truyền glucose tĩnh mạch

  • Khi đã thiết lập đường truyền tĩnh mạch: tiêm 50 ml dung dịch glucose 50% (chứa xấp xỉ 25g glucose, có thể giải quyết được hầu hết các giai đoạn hạ đường huyết).
  • Theo dõi tình trạng ý thức của bệnh nhân và kiểm tra lại đường máu mao mạch sau 15 – 30 phút kể từ thời điểm tiêm glucose 50%.
  • Có thể phải nhắc lại các liều dung dịch glucose 50% hoặc truyền tĩnh mạch dung dịch glucose 5 – 10% nhằm duy trì nồng độ glucose máu phù hợp.
  • Thiếu glucose não (rối loạn ý thức, các biểu hiện giống co giật, các tổn thương thần kinh trung ương) có thể cần một khoảng thời gian mới hồi phục hoàn toàn. Nếu các bất thường vẫn còn tồn tại sau 30 phút kể từ khi truyền glucose và hạ đường máu không trở lại (không còn hạ đường máu) thì cần tìm kiếm các nguyên nhân khác bằng chụp CT sọ não và các xét nghiệm phù hợp.

Ăn uống đường miệng

  • Ngay khi bệnh nhân tỉnh lại (hoặc nếu bệnh nhân vẫn còn tỉnh): nước hoa quả (ví dụ: nước táo, nước nho; 300 ml chứa khoảng 15g glucose) là lựa chọn tốt để duy trì nồng độ glucose máu, hoặc một bữa ăn nhẹ là phù hợp.

Glucagon

  • Nếu chưa có đường truyền tĩnh mạch, có thể tiêm bắp 1mg glucagon.
  • Thời gian đáp ứng vào khoảng 10 – 15 phút; buồn nôn và nôn do sự điều chỉnh quá mức nồng độ glucose máu (quá liều glucagon) khá phổ biến.
  • Vì glucagon có thể tiêm bắp nên tất cả bệnh nhân đái tháo đường đang dùng insulin (hoặc gia đình họ) cần luôn mang theo glucagon và biết cách tiêm khi cần.

Theo dõi

  • Chú ý thời gian tác dụng của insulin hoặc các thuốc uống hạ đường máu mà bệnh nhân đã sử dụng.
  • Kiểm tra đường máu mao mạch mỗi giờ cho tới khi nồng độ glucose máu ổn định.
  • Nói chung, theo dõi trong thời gian tác dụng đỉnh của insulin: khoảng từ 30 phút tới 1-2 giờ đối với insulin lispro hoặc insulin aspart; 2 – 4 giờ đối với regular insulin; hoặc 6 – 8 giờ đối với NPH. Insulin glargine không có hoạt động đỉnh và nhìn chung không gây hạ đường máu.
  • Những bệnh nhân dùng insulin tác dụng chậm có thời gian tác dụng đỉnh như lente hoặc ultralente, hoặc bệnh nhân uống thuốc sulfonylurea thì cần phải được theo dõi trong bệnh viện.

Tài liệu tham khảo

  1. Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị đái tháo đường típ 2. Quyết định số 5481/ QĐ-BYT. 30.12.202