U nang buồng trứng

Post key: 6172b90c-2d1c-5871-b5ff-31d78d98ca04
Slug: u-nang-buong-trung
Excerpt: U nang buồng trứng là các khối u có vỏ bọc, bên trong chứa dịch, có thể gặp ở mọi lứa tuổi. Lâm sàng có thể gây rối loạn kinh nguyệt, đau/khó chịu vùng chậu, ảnh hưởng chức năng sinh sản và có thể dẫn đến biến chứng (xoắn, vỡ, nhiễm khuẩn, chèn ép tiểu khung, tiến triển ác tính, tắc ruột). Bài viết hệ thống các nhóm u: nang cơ năng (nang bọc noãn, nang hoàng thể), và u nang buồng trứng thực thể (u nang biểu mô, u nang nhầy, lạc nội mạc tử cung ở buồng trứng, khối u tế bào sáng, u Brenner, u nang bì/teratome). Trình bày nguyên tắc điều trị: u nang thực thể thường cần mổ cắt u sớm; lựa chọn phạm vi cắt bỏ tùy loại u, tuổi và tình trạng thai kỳ (nang nước/nhầy/các trường hợp hai bên; bảo tồn nhu mô khi phù hợp; bóc nang tháng thứ tư khi vẫn duy trì thai; u có dấu hiệu nứt vỡ cần sinh thiết tức thì để loại trừ ung thư). Tài liệu tham khảo: Quyết định số 315/QĐ-BYT ngày 29/01/2015 của Bộ Y tế ban hành “Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị các bệnh sản phụ khoa”.
Recognized tags: bo-y-te, dieu-tri, chan-doan, thai-phu

GIỚI THIỆU

U nang buồng trứng là các khối u có vỏ bọc ở bên ngoài, bên trong chứa dịch và có thể gặp ở mọi lứa tuổi. U nang buồng trứng có thể gây rối loạn kinh nguyệt, gây khó chịu tại chỗ, làm suy giảm chức năng sinh sản; đôi khi gây suy nhược toàn thân và có thể dẫn đến tử vong do các biến chứng như tiến triển thành ung thư hoặc tắc ruột.

CÁC LOẠI U BUỒNG TRỨNG

Các nang cơ năng

Nang bọc noãn

Nang bọc noãn hình thành do nang De Graff không vỡ đúng ngày qui định, vì vậy nang tiếp tục lớn dần; thường đạt kích thước từ 3-8 cm hoặc lớn hơn.
  • Triệu chứng: thường không rõ ràng; đôi khi có ra máu. Khi nang to có thể gây đau/khó chịu vùng tiểu khung, đau khi giao hợp và có thể làm xuất hiện chu kỳ kinh dài hoặc ngắn. Nang có thể bị xoắn hoặc vỡ, từ đó gây bệnh cảnh cấp cứu.
  • Chẩn đoán phân biệt: viêm vòi trứng, lạc nội mạc tử cung, nang hoàng thể, và các khối u khác.
  • Xử trí: đa số trường hợp tự biến mất trong khoảng 60 ngày, không cần điều trị. Có thể dùng thuốc tránh thai để tạo vòng kinh nhân tạo. Nếu nang tồn tại trên 60 ngày mà người bệnh có chu kỳ kinh đều thì khả năng đây không phải là nang cơ năng.

Nang hoàng thể

Có hai loại nang hoàng thể: nang tế bào hạt và nang tế bào vỏ.
Nang hoàng thể tế bào hạt:
  • Là nang cơ năng, xuất hiện sau phóng noãn; các tế bào hạt chuyển dạng hoàng thể hoá.
  • Triệu chứng: đau vùng chậu, gây vô kinh hoặc chậm kinh; dễ nhầm với chửa ngoài tử cung. Nang có thể bị xoắn; nếu nang vỡ gây chảy máu cần soi ổ bụng hoặc mở bụng để cầm máu.
Nang hoàng thể tế bào vỏ:
  • Loại nang này không to, thường gặp ở hai bên buồng trứng; dịch trong nang màu vàng rơm. Loại nang này thường gặp trong buồng trứng đa nang, chửa trứng, chorio hoặc trong tình trạng quá mẫn khi kích thích phóng noãn.
  • Xử trí: nang thường biến mất sau điều trị như nạo trứng hoặc điều trị chorio.
Buồng trứng đa nang (Hội chứng Stein-Leventhal):
  • Gặp ở hai bên buồng trứng, gây vô kinh, vô sinh, thiểu kinh; 50% có mọc râu và béo. Nhiều trường hợp gây vô sinh thứ phát. Những rối loạn có liên quan đến rối loạn chức năng vùng dưới đồi.
  • Buồng trứng đa nang có vỏ bị sừng hoá, bề mặt trắng ngà, nhiều nang nhỏ nằm dưới lớp vỏ dày giống hình con sò.
  • Xét nghiệm: 17 - ketosteroid tăng nhẹ nhưng estrogen và FSH bình thường, LH cao.
  • Chẩn đoán: dựa vào khai thác tiền sử, khám thực thể, dậy thì sớm, mất kinh kéo dài, xét nghiệm LH tăng cao, theo dõi nhiệt độ cơ thể không có biểu hiện phóng noãn. Buồng trứng to khi khám qua tiểu khung gặp trong 50% trường hợp.
  • Chẩn đoán xác định: dựa trên triệu chứng lâm sàng và tiêu chuẩn LH/FSH>1,5; nếu > 2 thì chắc chắn. Siêu âm cho thấy nhiều nang noãn nằm ở bề mặt vỏ buồng trứng và soi ổ bụng.
  • Điều trị: Chlomifen 50-100 mg trong 5-7 ngày kết hợp Pregnyl 5000 đơn vị gây phóng noãn; đôi khi phải cắt góc buồng trứng. Cắt góc buồng trứng đem lại thành công trong điều trị vô sinh.
  • Người bị buồng trứng đa nang thường không phóng noãn trường diễn, do đó niêm mạc tử cung chịu ảnh hưởng của estrogen nên bị quá sản. Có thể gặp cả quá sản không điển hình; vì vậy cần kết hợp điều trị thêm bằng progestatif.
Nang hoàng thể trong thai nghén:
  • Là những nang gặp trong khi có thai, có thể cả hai bên buồng trứng, kích thước khoảng < 5cm.

U nang buồng trứng thực thể

U nang biểu mô buồng trứng

U nang biểu mô buồng trứng chiếm 60-80% tất cả các loại u nang, gồm nang nước, u nang nhầy, lạc nội mạc tử cung, u tế bào sáng, u Brenner và u đệm buồng trứng.
U nang nước:
Là loại u có vỏ mỏng, cuống thường dài, chứa dịch trong; kích thước thường lớn, có khi choán hết ổ bụng. Đây là loại khối u lành tính, có thể có nhú ở mặt trong hoặc mặt ngoài vỏ nang. Các khối u lành tính thường có vỏ nhẵn, chứa dịch vàng nhạt; nếu có nhú thì thường gợi ý ác tính.
  • Triệu chứng: gặp ở mọi lứa tuổi, nhưng thường được phát hiện ở tuổi 20-30; cũng gặp ở tuổi tiền mãn kinh và sau mãn kinh.
  • Khám tiểu khung thấy khối u.
  • Xử trí: mổ cắt bỏ nang; trong khi mổ nên cắt lạnh để chẩn đoán loại trừ ung thư.
U nang nhầy:
  • Chiếm khoảng 10-20% các loại khối u biểu mô và khoảng 85% u nang nhầy là lành tính; tuổi thường gặp từ 30-50.
  • U nang nhầy vỏ mỏng và nhẵn, ít khi có nhú. Vỏ nang gồm 2 lớp: tổ chức xơ và biểu mô trụ. U nang chứa nhiều thuỳ, ngăn cách bởi các vách ngăn; bên trong chứa chất dịch nhày vàng. Kích thước thường là lớn nhất trong các u buồng trứng.
  • Xử trí: mổ cắt bỏ u nang.
Lạc nội mạc tử cung tại buồng trứng:
  • Thường phát hiện được qua soi ổ bụng hoặc trong phẫu thuật; tỉ lệ 10-25% do tuyến nội mạc tử cung lạc chỗ tại buồng trứng.
  • Cấu tạo vỏ nang mỏng; bên trong chứa dịch màu chocolate (máu kinh). Khối u thường dính và dễ vỡ khi bóc tách.
  • Chẩn đoán: dựa vào các triệu chứng đau hạ vị, đau bụng khi hành kinh, đau khi giao hợp; khám tiểu khung và soi ổ bụng phát hiện khối u.
Khối u tế bào sáng (Mesonephroid tumour):
  • Giống u lạc nội mạc tử cung. Chỉ chẩn đoán xác định được bằng giải phẫu bệnh.
Khối u Brenner:
  • 80% là lành tính, có nguồn gốc từ một nang De Graff; chiếm khoảng 1-2% của khối u buồng trứng nguyên phát, thường chỉ gặp ở một bên buồng trứng.
  • Khám tiểu khung: phát hiện khối u; mật độ khối u có chỗ mềm chỗ cứng nên dễ nhầm với u xơ tử cung. Bổ ra có màu vàng hoặc trắng, kích thước khối u không to; đường kính 5-8cm.
  • Xử trí: mổ cắt bỏ khối u.

U nang bì (Dermoid cyst)

U nang bì chiếm tỷ lệ 25% các khối u buồng trứng. Hay gặp dạng teratome; khối u chứa tổ chức phát sinh từ tế bào mầm. Trong nang có thể gặp các tổ chức như răng, tóc, bã đậu. U nang bì thường lành tính nhưng cũng có thể trở thành ác tính. Thường được phát hiện ở lứa tuổi 20-30. Khoảng 20% trường hợp phát triển ở cả hai bên buồng trứng.
  • Triệu chứng: thường ít triệu chứng; phát hiện khi mổ lấy thai hoặc chụp X-quang thấy răng trong khối u.
  • Điều trị: phẫu thuật là phương pháp tối ưu. Nếu nang nhỏ, nên cắt bỏ phần u, để lại phần buồng trứng lành.

TIẾN TRIỂN VÀ BIẾN CHỨNG

Nói chung, nếu các khối u không được xử trí bằng cắt bỏ thì sẽ lớn dần lên, gây chèn ép các tạng trong ổ bụng; có thể bị xoắn hoặc bị ung thư hoá.
Biến chứng hay gặp là:
  1. Xoắn nang: thường gặp ở khối u có kích thước nhỏ, cuống dài, không dính. Xoắn nang có thể xảy ra khi đang mang thai (nhất là trong những tháng đầu thai nghén), hoặc sau khi đẻ. Triệu chứng: đau đột ngột, dữ dội, vã mồ hôi, choáng, nôn. Xử trí: mổ cấp cứu.
  2. Vỡ nang: thường xảy ra sau khi nang bị xoắn hoặc sau chấn thương vùng bụng dưới.
  3. Nhiễm khuẩn nang: xảy ra khi xoắn nang. Nhiễm khuẩn làm nang to lên, dính vào các tạng xung quanh. Biểu hiện lâm sàng giống viêm nội mạc tử cung.
  4. Chèn ép tiểu khung: khối u đè vào trực tràng và bàng quang. Nang to, tiến triển trong nhiều năm có thể choán hết ổ bụng, gây chèn ép tĩnh mạch chủ dưới dẫn đến phù, tuần hoàn bàng hệ, cổ chướng.
  5. Có thai kèm u nang buồng trứng: Được chẩn đoán qua khám thai định kỳ hoặc qua siêu âm. Có thể gặp bất kỳ loại nang nào, nhưng hay gặp là nang hoàng thể hoặc u nang bì; ít khi gặp nang ác tính. Nếu phải mổ vào thời gian sau 13 tuần vì lúc này rau thai đã tiết đủ hocmon để nuôi dưỡng thai, nếu là nang hoàng thể thì thường giảm kích thước hoặc không phát triển nữa, có thể không cần phải mổ. Nếu u phát triển to trong 3 tháng giữa thai kỳ thì nên mổ ngay, trừ trường hợp chỉ phát hiện được trong thời kỳ cuối thai nghén.

NGUYÊN TẮC ĐIỀU TRỊ

  • Khi đã chẩn đoán là u nang thực thể thì cần mổ cắt u sớm.
  • Nang nước ở người lớn tuổi: cắt cả hai buồng trứng.
  • Nang nhầy: cần cắt bỏ cả hai bên buồng trứng để tránh tái phát.
  • Nang bì: cắt bỏ khối u đồng thời cố gắng bảo tồn nhu mô lành.
  • Nang ở người trẻ tuổi khi tổn thương ở cả hai bên buồng trứng: cần bảo tồn bên lành.
  • Nang ở người đang có thai: nếu có chỉ định giữ thai thì bóc nang vào tháng thứ tư.
  • U nang có dấu hiệu nứt vỡ: cần sinh thiết tức thì để đề phòng ung thư.
  • U nang to ở người già: chú ý tránh làm giảm áp lực đột ngột ổ bụng.
  • Nếu các u nang phát triển trong đáy dây chằng rộng thì bóc tách cẩn thận để phòng chạm niệu quản, ruột, bàng quang.

Tài liệu tham khảo

  1. Quyết định số 315/QĐ-BYT ngày 29/01/2015 của Bộ Y tế ban hành tài liệu chuyên môn: Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị các bệnh sản phụ khoa.