GIỚI THIỆU
Chẩn đoán rung nhĩ (AF) cần dựa trên bằng chứng ghi nhận được từ điện tâm đồ.
Để thiết lập chẩn đoán rung nhĩ trên lâm sàng, có thể sử dụng một trong hai cách ghi nhận bằng điện tâm đồ:
- Ghi điện tâm đồ 12 chuyển đạo, hoặc theo dõi điện tâm đồ 1 chuyển đạo liên tục trong thời gian ≥ 30 giây, cho thấy nhịp tim không đều và không có sóng P lặp lại rõ ràng (nếu loại trừ tình trạng dẫn truyền nhĩ-thất bị tổn thương) là đủ để chẩn đoán rung nhĩ trên lâm sàng.
| Định nghĩa |
|---|
| Rung nhĩ |
Rung nhĩ là một rối loạn nhịp nhanh trên thất, đặc trưng bởi hoạt động điện hỗn loạn tại tâm nhĩ, làm cho co bóp tâm nhĩ không hiệu quả. Các đặc điểm điện tâm đồ của Rung nhĩ bao gồm:
|
| Rung nhĩ lâm sàng |
|
| Cơn hoạt động điện nhĩ tần số nhanh(AHRE), rung nhĩ dưới lâm sàng |
Là các tình huống không có triệu chứng liên quan đến rung nhĩ và rung nhĩ lâm sàng CHƯA từng được ghi nhận (không có bất kỳ bản điện tâm đồ bề mặt nào ghi được rung nhĩ).
|
- Tiêu chuẩn tần số được cài đặt trên thiết bị để chẩn đoán AHRE là ≥ 175 lần/phút.
- Tiêu chuẩn thời gian của AHRE thường được cài đặt ≥ 5 phút (chủ yếu nhằm loại trừ nhiễu).
PHÂN LOẠI, ĐÁNH GIÁ GÁNH NẶNG VÀ TIẾN TRIỂN CỦA RUNG NHĨ
Phân loại
Trong quản lý bệnh nhân rung nhĩ tại các tuyến y tế, cần cân nhắc đánh giá các đặc điểm của rung nhĩ trên mọi bệnh nhân, bao gồm: nguy cơ đột quỵ, mức độ triệu chứng, gánh nặng rung nhĩ và cơ chất rung nhĩ. Việc đánh giá này hỗ trợ đưa ra quyết định điều trị và chăm sóc tối ưu.
Có thể cân nhắc| Hình thái | Định nghĩa |
|---|---|
| Rung nhĩ được chẩn đoán lần đầu | Rung nhĩ chưa được chẩn đoán trước đây, bất kể thời gian diễn biến và bất kể mức độ hoặc sự tồn tại triệu chứng liên quan đến rung nhĩ. |
| Rung nhĩ cơn | Rung nhĩ tự kết thúc hoặc được chuyển về nhịp xoang trong vòng 7 ngày kể từ khi xuất hiện. |
| Rung nhĩ dai dẳng | Rung nhĩ kéo dài liên tục hơn 7 ngày, bao gồm cả những cơn được chuyển về nhịp xoang (bằng thuốc hoặc shock điện) sau ≥ 7 ngày. |
| Rung nhĩ dai dẳng kéo dài | Rung nhĩ kéo dài liên tục >12 tháng tính đến thời điểm lựa chọn chiến lược kiểm soát nhịp. |
| Rung nhĩ vĩnh viễn | Rung nhĩ được chấp nhận bởi bệnh nhân và bác sĩ, không còn phù hợp với các nỗ lực chuyển nhịp xoang hoặc duy trì nhịp xoang. Rung nhĩ vĩnh viễn phản ánh thái độ tiếp cận của bệnh nhân và bác sĩ nhiều hơn là đặc điểm sinh lý bệnh; do đó, thuật ngữ này không nên được sử dụng trong các trường hợp quyết định kiểm soát nhịp bằng thuốc hay triệt đốt. Nếu vẫn cân nhắc kiểm soát nhịp, rung nhĩ sẽ được phân loại là "Rung nhĩ dai dẳng kéo dài". |
Các thuật ngữ nên loại bỏ:
Đánh giá gánh nặng rung nhĩ
Gánh nặng rung nhĩ trên lâm sàng thường được xác định dựa trên: diễn biến theo thời gian, mức độ gây triệu chứng, nguy cơ tắc mạch, và các thay đổi về cấu trúc cũng như chức năng cơ nhĩ.
Tiến triển của rung nhĩ
- Tiến triển từ rung nhĩ cơn sang rung nhĩ dai dẳng hoặc dai dẳng kéo dài (hoặc từ rung nhĩ dưới lâm sàng thành rung nhĩ lâm sàng) thường phản ánh tiến triển của tái cấu trúc tâm nhĩ hoặc bệnh lý cơ tim tâm nhĩ.
- Đánh giá tiến triển của rung nhĩ phụ thuộc vào quãng thời gian theo dõi nhịp tim và các cơ chất rối loạn nhịp. Tỷ lệ tiến triển của rung nhĩ kịch phát thành rung nhĩ kéo dài hơn được báo cáo hàng năm dao động từ < 1% tới 15% (lên tới 27-36% trong các nghiên cứu theo dõi ≥ 10 năm). Các yếu tố nguy cơ của tiến triển rung nhĩ bao gồm tuổi, suy tim, tăng huyết áp, bệnh thận mạn, bệnh phổi mạn tính, đái tháo đường, tiền sử đột quỵ và kích thước nhĩ trái; trong khi đó giá trị dự đoán của các chỉ dấu sinh học vẫn chưa rõ ràng. Tuổi cao có liên quan đến rung nhĩ vĩnh viễn, đồng thời nhiều yếu tố khác cũng gây ra sự tiến triển bệnh thông qua sự tái cấu trúc cơ chất. Tiến triển của rung nhĩ sang thể dai dẳng/vĩnh viễn có liên quan tới tăng các biến cố tim mạch, nhập viện và tử vong; tuy nhiên, vẫn chưa rõ liệu sự tiến triển này là yếu tố quyết định hay chỉ là phản ánh tình trạng bệnh lý/cơ chất nền đang diễn biến xấu đi.
THĂM KHÁM ĐÁNH GIÁ VÀ CHẨN ĐOÁN
Chẩn đoán rung nhĩ trước hết cần dựa trên bệnh sử và thăm khám toàn diện. Người bệnh cần được đánh giá triệu chứng và diễn tiến của rung nhĩ. Trên cơ sở đó, tiến hành phân loại kiểu rung nhĩ (rung nhĩ được chẩn đoán lần đầu, rung nhĩ cơn, rung nhĩ dai dẳng, dai dẳng kéo dài hay rung nhĩ vĩnh viễn); ghi nhận khởi phát triệu chứng và thời điểm phát hiện rung nhĩ; tìm yếu tố kích thích, tần suất, thời gian và kiểu chấm dứt cơn; đồng thời tìm hiểu đáp ứng với thuốc. Song song, cần tìm bệnh tim cấu trúc và các nguyên nhân có thể hồi phục như cường giáp hoặc lạm dụng rượu.
- Do rung nhĩ thường gặp ở người có các yếu tố nguy cơ tim mạch hoặc bệnh đồng mắc, rung nhĩ có thể là dấu hiệu gợi ý tình trạng bệnh lý nền chưa được chẩn đoán. Vì vậy, tất cả người bệnh rung nhĩ cần được thăm khám tim mạch toàn diện.
-
Một “gói” thăm khám thường quy cho người bệnh rung nhĩ nên bao gồm: tiền sử bệnh lý, các bệnh đồng mắc, hình thái rung nhĩ, nguy cơ đột quỵ, triệu chứng liên quan rung nhĩ, biến cố huyết khối-tắc mạch và rối loạn chức năng thất trái. Cần thực hiện điện tâm đồ 12 chuyển đạo ở mọi người bệnh rung nhĩ để xác nhận chẩn đoán, xác định tần số thất, đánh giá rối loạn dẫn truyền đi kèm, và tìm dấu hiệu thiếu máu cơ tim hoặc bệnh lý cấu trúc. Đồng thời cần làm xét nghiệm cận lâm sàng (chức năng tuyến giáp, thận, điện giải, công thức máu) và siêu âm tim qua thành ngực (đánh giá kích thước và chức năng thất trái, kích thước nhĩ trái, bệnh lý van tim, kích thước và chức năng tâm thu thất phải) nhằm định hướng điều trị. Tùy từng bệnh nhân cụ thể có thể chỉ định thêm các thăm dò cần thiết khác. Đa số người bệnh rung nhĩ cần tái khám định kỳ để duy trì điều trị tối ưu.
Trên người bệnh rung nhĩ, khuyến cáo:
- Đánh giá các triệu chứng liên quan rung nhĩ (bao gồm mệt mỏi, khó thở khi gắng sức, hồi hộp trống ngực, tức ngực) và lượng giá mức độ triệu chứng bằng thang điểm EHRA sửa đổi trước và sau khởi trị.
- Đánh giá các triệu chứng liên quan rung nhĩ trước và sau chuyển nhịp với rung nhĩ dai dẳng nhằm hỗ trợ quyết định lựa chọn chiến lược kiểm soát nhịp.
Lâm sàng
- Bệnh nhân rung nhĩ có thể biểu hiện với nhiều mức độ triệu chứng khác nhau, tuy nhiên 50-87% số trường hợp không triệu chứng trong giai đoạn sớm.
- Triệu chứng của cơn rung nhĩ mới khởi phát chưa được nghiên cứu đầy đủ và có thể bị ảnh hưởng bởi điều trị.
- Rung nhĩ tái phát thường có tỷ lệ không triệu chứng cao hơn.
- Các biến cố liên quan đến rung nhĩ bao gồm: đột quỵ não/tắc mạch, rối loạn chức năng thất trái và suy tim, tăng tỷ lệ nhập viện, giảm chất lượng cuộc sống, rối loạn nhận thức/sa sút trí tuệ và tử vong.
- Hồi hộp
- Nhịp tim nhanh, không đều
- Đánh trống ngực
- Chóng mặt
- Ngất
- Đau ngực nặng
- Khó thở nhanh nông
Triệu chứng và mức độ ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của Rung nhĩ
Mức độ nghiêm trọng của rung nhĩ có thể dao động từ không triệu chứng đến mức mất khả năng duy trì sinh hoạt bình thường; đồng thời, quyết định kiểm soát nhịp hay không (bao gồm cả triệt đốt qua đường ống thông) phụ thuộc vào mức độ triệu chứng. Do đó, cần đánh giá triệu chứng rung nhĩ dựa trên thang điểm sửa đổi của Hội Nhịp tim Châu Âu (mEHRA). Sáu triệu chứng (bao gồm hồi hộp trống ngực, mệt mỏi, chóng mặt, khó thở, tức ngực, lo lắng khi rung nhĩ) được phân tầng theo mức độ ảnh hưởng: từ không ảnh hưởng đến mất khả năng sinh hoạt bình thường. Mối liên quan của triệu chứng với rung nhĩ (đặc biệt khi triệu chứng không đặc hiệu như khó thở, mệt mỏi, nặng ngực) cũng cần được làm rõ để không bỏ sót các nguy cơ tim mạch và bệnh lý đồng mắc khác chưa được phát hiện hoặc điều trị chưa tối ưu.
Cận lâm sàng
ECG có giá trị chẩn đoán:
- Sóng P: không còn; sóng f không đều, lăn tăn; có thay đổi liên tục về hình dạng, thời gian, biên độ,..
- QRS không đều: khoảng RR khác nhau không có quy luật; tần số đáp ứng thất < 60 chu kỳ/ phút là rung nhĩ đáp ứng thất chậm và > 110 chu kỳ/ phút là rung nhĩ đáp ứng thất nhanh. QRS thường hẹp < 0.12s, có những thay đổi khác nhau về biên độ, thời gian, dẫn truyền lệch hướng.
- Sóng T có thể biến đổi: dẹt, đảo ngược đặc biệt khi nhịp thất quá nhanh.
Hiện nay, ESC còn khuyến cáo sử dụng các thiết bị theo dõi cá nhân: đồng hồ thông minh, thiết bị cầm tay, dán trên cơ thể,...
- Trên điện tâm đồ: tìm dấu hiệu phì đại thất trái, hội chứng kích thích sớm, block nhánh, nhồi máu cơ tim và những rối loạn nhịp khác.
- Trên siêu âm tim qua thành ngực: đánh giá bệnh van tim, kích thước các buồng tim, chức năng tâm thu và tâm trương thất trái, áp lực động mạch phổi, phì đại thất trái, huyết khối nhĩ trái và bệnh màng ngoài tim.
- Xét nghiệm máu cần làm: chức năng gan, thận, điện giải và tuyến giáp.
- Test đi bộ 6 phút: nếu như khó kiểm soát tần số.
- Test gắng sức: hi thực hiện khi kiểm soát tần số khó khăn, xác định rung nhĩ do gắng sức, loại trừ thiếu máu cơ tim trước khi dùng thuốc chống rối loạn nhịp nhóm IC.
- Theo dõi Holter: nếu cần chẩn đoán rối loạn nhịp hoặc giúp đánh giá kiểm soát tần số.
- Siêu âm tim qua thực quản: giúp tìm huyết khối nhĩ trái và tiểu nhĩ trái cũng như kích thước tiểu nhĩ trái với độ chính xác cao.
- Thăm dò điện sinh lý: giúp làm rõ cơ chế của nhịp nhanh phức bộ rộng, xác định vị trí cắt đốt.
- Chụp X-quang ngực: giúp phát hiện bất thường của mạch máu và nhu mô phổi.
Cơ chất rung nhĩ
Cơ chất của rung nhĩ liên quan tới giãn và xơ hóa nhĩ trái, dẫn tới rối loạn chức năng nhĩ trái và gây block trong dẫn truyền xung động-cơ học tâm nhĩ. Các thăm dò hình ảnh không xâm lấn có thể cung cấp đầy đủ thông tin về bất thường cấu trúc tâm nhĩ.
Chẩn đoán hình ảnh trong Rung nhĩ:Hình ảnh giải phẫu cho biết kích thước, hình thái và mức độ xơ hóa nhĩ trái. CLVT và CHT giúp đánh giá giãn nhĩ trái chính xác nhất. Siêu âm tim qua thành ngực 2D hoặc (tốt hơn là) 3D được sử dụng trong thăm khám thường quy. Thể tích nhĩ trái bình thường trên siêu âm tim 3D là 15-42 mL/m2 da với nam và 15-39 mL/m2 da với nữ. Cộng hưởng từ tăng tín hiệu muộn với gadolinium có thể đánh giá xơ hóa nhĩ trái trong một số báo cáo nhưng hiếm khi được ứng dụng trên lâm sàng. Các thăm dò hình ảnh chức năng bao gồm siêu âm Doppler mô (TDI) và đo sức căng. Siêu âm Doppler mô đo tốc độ cơ tim thì tâm thu và tâm trương, trong khi đó sức căng nhĩ trái phản ánh sự co bóp chủ động của tâm nhĩ. Khoảng PA-TDI phản ánh độ trễ điện học-cơ học trong tâm nhĩ (hay tổng thời gian dẫn truyền xung động trong nhĩ trái, đo từ khởi đầu sóng P trên điện tâm đồ đến thời điểm sóng A’[tốc độ đỉnh tâm nhĩ] trên TDI). Thâm nhiễm nhĩ trái bởi mỡ thượng tâm mạc có thể là một chỉ dấu viêm sớm và phát hiện được trên CLVT hoặc CHT tim. Có thể dựng được giải phẫu các tĩnh mạch phổi trước triệt đốt rung nhĩ bằng CLVT hoặc CHT tim.
Trên một số bệnh nhân, có thể sử dụng siêu âm tim qua thực quản (TOE) để đánh giá bệnh lý van tim hoặc huyết khối tiểu nhĩ trái; chụp cắt lớp vi tính giúp đánh giá hệ ĐM vành; CT/MRI não trong trường hợp khi ngờ có đột quỵ. Một số thông số có thể dự đoán nguy cơ đột quỵ: giãn nhĩ trái, âm cuộn trong nhĩ trái, giảm sức căng nhĩ trái, huyết khối tiểu nhĩ trái, giảm tốc độ đỉnh dòng máu tống khỏi tiểu nhĩ trái (< 20cm/s), tiểu nhĩ trái không có dạng “cánh gà” trên CT.
Chẩn đoán xác định
Tiêu chuẩn chẩn đoán Rung nhĩ
Cần ghi nhận được rung nhĩ trên ECG bề mặt. Theo đồng thuận, chẩn đoán rung nhĩ lâm sàng khi ghi được cơn kéo dài ≥ 30 giây.
Cần có ECG bề mặt để chẩn đoán rung nhĩ. Chẩn đoán rung nhĩ lâm sàng dựa vào một bản ghi ECG 12 chuyển đạo tiêu chuẩn, hoặc bản ghi ECG một chuyển đạo kéo dài ≥ 30 giây không có sóng P lặp lại rõ ràng và các khoảng R-R không đều (nếu vẫn còn dẫn truyền nhĩ-thất).
Chẩn đoán cơn tần số nhĩ cao (AHRE)/ Rung nhĩ dưới lâm sàng
Nhiều thiết bị cấy ghép hoặc thiết bị ghi điện tâm đồ ngoài da lưu động có khả năng phát hiện AHRE/rung nhĩ dưới lâm sàng.
Khi thiết bị đeo ngoài da/cấy ghép ghi nhận được AHRE/rung nhĩ dưới lâm sàng, bác sĩ cần phân tích lại điện đồ/điện tâm đồ để loại trừ nhiễu hoặc chẩn đoán nhầm. Cơn được xác nhận khi có bằng chứng điện tâm đồ phù hợp; thông thường với ngưỡng tần số ≥ 175 lần/phút, thời gian cài đặt thường ≥ 5 phút.
ĐIỀU TRỊ
- (A) Anticoagulation/ Avoid stroke (Chống đông/ tránh đột quỵ): đánh giá nguy cơ đột quỵ dựa vào thang điểm CHA2DS2-VASc và đánh giá nguy cơ chảy máu theo HAS-BLED. Lựa chọn thuốc chống đông đường uống OAC (thuốc chống đông đường uống thế hệ mới NOAC hoặc thuốc kháng vitamin K VKA).
- (B) Better symptom control (kiểm soát triệu chứng tốt hơn): đánh giá triệu chứng, tối ưu kiểm soát tần số, cân nhắc chiến lược kiểm soát nhịp.
- (C) Comorbidities/ Cardiovascular risk factor manager (quản lý bệnh kèm theo/ các yếu tố nguy cơ tim mạch): thay đổi lối sống (giảm béo phì, thể dục thường xuyên, giảm sử dụng cồn,..)
- Dự phòng huyết khối
- Kiểm soát tần số
- Chuyển rung nhĩ về nhịp xoang
- Một số nguyên nhân gây cơn rung nhĩ chỉ cần điều trị khỏi nguyên nhân mà không cần phải điều trị rung nhĩ lâu dài như: viêm cơ tim, do thuốc,...
- Bệnh rung nhĩ không dung nạp khi điều trị tối ưu cần được tư vấn hỗ trợ của các chuyên gia về điện sinh lý học tim để có biện pháp can thiệp tích cực hơn.
Thay đổi lối sống và kiểm soát các yếu tố nguy cơ tim mạch/ bệnh đồng mắc
- Bỏ thuốc lá, tránh tiếp xúc khói thuốc lá
- Chế độ ăn: hạn chế đồ uống có cồn, lượng Natri ≤ 2,4 g/ngày. Chế độ ăn nhiều trái cây, rau quả và các sản phẩm ít chất béo.
-
Luyện tập thể dục: Tập thể dục đều đặn, ít nhất 30 phút/ngày.
Vật lý trị liệu nếu có khuyết tật do biến chứng của đột quỵ.
Giảm cân và béo phì
- Nguy cơ RN ở bệnh nhân béo phì tiến triển dần theo chỉ số khối cơ thể (BMI). Béo phì cũng làm tăng nguy cơ nhồi máu não, huyết khối-tắc mạch và tử vong ở bệnh nhân RN.
- Khuyến khích giảm cân tích cực và kiểm soát toàn diện yếu tố nguy cơ tim mạch giúp giảm triệu chứng và tái phát của RN trên bệnh nhân béo phì. Đạt được cân nặng lý tưởng giúp kiểm soát tốt hơn huyết áp, lipid máu và nguy cơ đái tháo đường type 2, do vậy giúp cải thiện tiên lượng tim mạch. Béo phì cũng làm tăng nguy cơ tái phát RN sau triệt đốt qua đường ống thông (ngừng thở tắc nghẽn khi ngủ có thể là tác động gián tiếp của thừa cân).
Rượu và cà phê
- Tiêu thụ rượu bia quá mức là yếu tố nguy cơ của RN và xuất huyết khi dùng chống đông (do ảnh hưởng tới tuân thủ điều trị, chức năng gan, gây giãn TM thực quản và tăng nguy cơ chấn thương). Uống rượu quá nhiều cũng liên quan tới biến cố huyết khối-tắc mạch và tử vong. Cai rượu giúp giảm tái phát rối loạn nhịp trên bệnh nhân RN uống rượu thường xuyên.
- Ngược lại, uống caffeine có vẻ ít có khả năng dẫn tới hoặc góp phần gây ra RN. Sử dụng cà phê đều đặn có thể giúp giảm nguy cơ RN, nhưng làm tăng triệu chứng hồi hộp không liên quan đến RN.
Vận động thể lực
- Nhiều nghiên cứu đã chứng minh lợi ích của hoạt động thể lực/tập luyện mức độ trung bình với sức khỏe tim mạch. Tuy nhiên nguy cơ RN có vẻ cao hơn ở các vận động viên chuyên nghiệp.
- Bệnh nhân nên được khuyến khích tham gia các hoạt động tập luyện mức độ trung bình, tập luyện đều đặn để tránh khởi phát hoặc tái phát RN. Tuy nhiên nên tránh các gắng sức quá mức kéo dài (ví dụ chạy marathon hoặc 3 môn phối hợp cự ly dài), đặc biệt với người > 50 tuổi.
Kiểm soát các yếu tố nguy cơ tim mạch/ bệnh đồng mắc
- Tăng huyết áp
- Suy tim
- Bệnh động mạch vành
- Đái tháo đường
- Ngừng thở khi ngủ
Phòng ngừa huyết khối: Chống đông và phòng ngừa đột quỵ
- Bước đầu tiên trong quyết định sử dụng chống đông/dự phòng đột quỵ là xác định bệnh nhân nguy cơ thấp và không cần dùng thuốc.
- Bước hai là cân nhắc dùng chống đông đường uống ở bệnh nhân có ≥ 1 yếu tố nguy cơ đột quỵ mà yếu tố đó không phải giới tính (mức độ bằng chứng khác nhau do nhiều thử nghiệm lâm sàng tuyển bệnh nhân có ≥ 2 yếu tố nguy cơ; còn phân tích dưới nhóm/dữ liệu quan sát lấy ≥ 1 yếu tố nguy cơ).
- Bước ba là lựa chọn loại chống đông: NOAC (thường là lựa chọn đầu tay nhờ hiệu quả tốt, an toàn, tiện lợi) hoặc VKA (với TTR > 70%).
Đánh giá nguy cơ đột quỵ
- Nữ ≥ 3 điểm (Khuyến cáo loại IA) và Nam ≥ 2 điểm (Khuyến cáo loại IA)
-
Hoặc
Nam=1 điểm (Khuyến cáo loại IIa - cân nhắc) và Nữ= 2 điểm (Khuyến cáo loại IIa - cân nhắc).
- Sử dụng các thuốc kháng vitamin K (INR từ 2.0-3.0 hoặc cao hơn) để dự phòng đột quỵ ở các bệnh nhân rung nhĩ có sử dụng van tim nhân tạo hoặc có hẹp van hai lá mức trung bình và nặng.
- Khi lựa chọn sử dụng các thuốc chống đông đường uống, nên lựa chọn thuốc chống đông thế hệ mới (Dabigatran, Rivaroxaban, Apixaban, Edoxaban) thay vì thuốc kháng vitamin K nếu thích hợp.
- Khi bệnh nhân được sử dụng thuốc kháng vitamin K, khoảng đạt liều điều trị cần được giữ ở mức cao nhất có thể và cần được theo dõi chặt chẽ.
Đánh giá nguy cơ chảy máu
Chống đông kháng vitamin K (VKA)
- So với nhóm chứng hoặc giả dược, chống đông đường uống kháng vitamin K (VKA, đa số là warfarin) giúp giảm nguy cơ đột quỵ 64% và tử vong 26%. Nhóm thuốc này vẫn được sử dụng ở nhiều bệnh nhân Rung nhĩ trên toàn thế giới. Hiện nay VKA vẫn là biện pháp chống đông duy nhất chứng minh an toàn ở bệnh nhân có bệnh van hai lá do thấp và/hoặc van tim nhân tạo.
- Warfarin là loại thuốc chống đông kháng Vitamin K phổ biến nhất trên thế giới, tuy nhiên ở Việt Nam không phổ biến loại thuốc này trên thị trường. Acenocoumarol, hay được biết đến với tên thương mại Sintrom là loại thuốc chống đông đường uống kháng Vitamin K phổ biến nhất ở Việt Nam.
- Đánh giá hiệu quả điều trị của VKA bằng xét nghiệm INR. Mục tiêu INR trong hầu hết các trường hợp rung nhĩ đang điều trị VKA là từ 2,0 – 3,0. Đối với van hai lá cơ học, mục tiêu INR là 2,5 – 3,5. Khi xét nghiệm INR 2 lần liên tiếp, cách nhau 3 ngày, INR trong khoảng mục tiêu cần đạt có thể coi đã đạt được “sự ổn định” của liều chống đông và có thể cho bệnh nhân ra viện (nếu đang nằm nội trú) hoặc quyết định tần suất xét nghiệm thưa hơn. Đối với các bệnh nhân đã xác định được liều VKA “ổn định”, có thể xét nghiệm INR theo dõi định kỳ với tần suất 4 tuần/lần.
Chống đông đường uống không kháng vitamin K (NOAC)
- Trong bốn nghiên cứu bản lề, apixaban, dabigatran, edoxaban và rivaroxaban cho thấy không kém hơn warfarin về vai trò dự phòng đột quỵ/tắc mạch hệ thống. Một phân tích gộp 4 nghiên cứu này cho thấy NOAC giảm nguy cơ đột quỵ/tắc mạch tới 19% (có ý nghĩa thống kê), giảm nguy cơ xuất huyết não 51%. Nguy cơ dự phòng tắc mạch não tương đương so với VKA, tuy nhiên NOAC làm giảm 10% tử vong do mọi nguyên nhân. Tỷ lệ xuất huyết nặng ở NOAC thấp hơn 14% nhưng khác biệt không có ý nghĩa thống kê. Tuy nhiên, các nghiên cứu cũng ghi nhận tỷ lệ xuất huyết tiêu hóa cao hơn 25% so với warfarin.
- Nguy cơ tương đối của xuất huyết nặng ở NOAC thấp hơn đáng kể nếu khi dùng warfarin với INR kiểm soát kém (TTR < 66%). Phân tích tổng hợp từ năm thử nghiệm RELY, ROCKET-AF, J-ROCKET AF, ARISTOTLE, ENGAGE AF TIMI 48 cho thấy so với warfarin, NOAC liều tiêu chuẩn trên bệnh nhân châu Á tỏ ra an toàn và hiệu quả hơn so với bệnh nhân chủng tộc khác.
- Dữ liệu quan sát sau thương mại hóa của dabigatran, rivaroxaban, edoxaban, apixaban so với warfarin cho kết quả tương đồng với các thử nghiệm ngẫu nhiên pha III. Với những bằng chứng rõ ràng như vậy, bệnh nhân RN cần được lựa chọn NOAC để dự phòng đột quỵ/tắc mạch.
- Tỷ lệ duy trì điều trị NOAC nhìn chung cao hơn VKA, do đặc điểm dược lực học ưu thế hơn, hiệu quả và an toàn tốt hơn, đặc biệt trên những bệnh nhân dễ tổn thương như người cao tuổi, suy thận, có tiền sử đột quỵ, .v.v.. Mặc dù bệnh nhân suy thận giai đoạn cuối bị loại khỏi các thử nghiệm pha III, có thể sử dụng apixaban, rivaroxaban, edoxaban trên bệnh nhân suy thận nặng (mức lọc cầu thận 15-30 mL/phút tính bằng phương trình Cockcroft-Gault) sau khi chỉnh giảm liều phù hợp. Trên thực tế, NOAC có xu hướng bị giảm liều không đúng chỉ định dẫn tới tăng nguy cơ đột quỵ/tắc mạch, nhập viện, tử vong trong khi việc giảm liều này không giúp giảm nguy cơ xuất huyết. Do vậy phác đồ NOAC cần được tối ưu dựa theo hiệu quả và tính an toàn của từng loại thuốc trên từng nhóm bệnh nhân khác nhau.
| Tiêu chuẩn chọn liều cho NOAC | ||||
|---|---|---|---|---|
| Liều | Dabigatran | Rivaroxaban | Apixaban | Edoxaban |
| Tiêu chuẩn | 150mg x 2 lần/ngày | 20mg x 1 lần/ngày | 5mg x 2 lần/ngày | 60 mg x 1 lần/ngày |
| Thấp | 110mg x 2 lần/ngày | |||
| Giảm | 15mg x 1 lần/ngày | 2.5mg x 2 lần/ngày | 30mg x 1 lần/ngày | |
| Tiêu chuẩn giảm liều | 110mg x 2 lần/ngày với bệnh nhân: tuổi ≥ 80, đang dùng Verapamil, hoặc nguy cơ xuất huyết cao | CrCl: 15-49 mL/phút | Ít nhất 2 trong 3 tiêu chuẩn: tuổi ≥ 80, cân nặng ≤ 60kg, hoặc Creatinine máu ≥ 1.5 mg/dL(133µmol/L) | Nếu có bất kỳ tiêu chuẩn: CrCl: 15-50 mL/phút, cân nặng ≤ 60kg, đang dùng Dronedarone, cyclosporine, erythromycin, hoặc ketoconazole. |
Chống chỉ định với chống đông đường uống, bao gồm: xuất huyết nặng đang tiến triển (cần xác định và xử trí điểm chảy máu), các bệnh lý liên quan (ví dụ giảm tiểu cầu nặng < 50 tiểu cầu/µL, thiếu máu nặng đang làm chẩn đoán), biến cố xuất huyết nặng vừa xảy ra (ví dụ xuất huyết não). Có thể cân nhắc những biện pháp phòng đột quỵ không dùng thuốc trên các bệnh nhân này.
- Dabigatran là thuốc ức chế trực tiếp Thrombin. Liều dùng 150 mg x 2 lần/ngày hoặc 110 mg x 2 lần/ngày (theo tiêu chuẩn giảm liều). Ở bệnh nhân có CrCl 15-30 ml/phút, liều khuyến cáo 75 mg x 2 lần/ngày. Không sử dụng Dabigatran ở bệnh nhân có mức lọc cầu thận < 15 ml/phút (một số chuyên gia cho rằng chống chỉ định ở bệnh nhân có CrCl ≤ 30 mL/phút).
- Rivaroxaban là thuốc chống đông đường uống thế hệ mới thứ 2 thông qua cơ chế ức chế trực tiếp yếu tố Xa. Thuốc nên được dùng một liều duy nhất trong ngày vào bữa tối để đảm bảo hấp thu một cách tốt nhất. Thuốc được thải trừ chủ yếu qua thận. Liều dùng 20 mg x 1 lần/ngày, giảm liều còn 15 mg x 1 lần/ngày đối với bệnh nhân có CrCl 15-49 ml/phút. Không sử dụng Rivoraxaban trên bệnh nhân có CrCl < 15 ml/phút.
- Apixaban là thuốc chống đông đường uống thế hệ mới thứ 3 thông qua cơ chế ức chế trực tiếp yếu tố Xa. Thuốc thải trừ chủ yếu qua gan và chủ yếu gắn với Protein. Liều dùng 5mg x 2 lần/ngày, giảm liều còn 2.5 mg x 2 lần/ngày với các trường hợp bệnh nhân cao tuổi ≥ 80 tuổi hoặc cân nặng ≤ 60 kg hoặc CrCl 15 – 49 ml/phút. Không dùng Apixaban trên bệnh nhân có CrCl < 15 ml/phút.
Cải thiện triệu chứng
- Chuyển nhịp và duy trì nhịp xoang: 60-100 lần/phút lúc nghỉ
- Giảm các triệu chứng: đánh trống ngực; khó thở; chóng mặt; đau ngực; mệt mỏi; yếu, không thể tập thể dục
Kiểm soát tần số đáp ứng thất
(a) Đánh giá lại lâm sàng nên tập trung vào đánh giá nhịp tim lúc nghỉ, các triệu chứng liên quan đến AF / AFL và chất lượng cuộc sống. Trong trường hợp kiểm soát nhịp dưới mức tối ưu (nhịp tim lúc nghỉ > 110 nhịp / phút), các triệu chứng hoặc chất lượng cuộc sống xấu đi, hãy cân nhắc lựa chọn phương pháp điều trị thứ 2 và nếu cần.
(b) Thăm dò cẩn thận thuốc chẹn beta và NDCC, Holter 24 giờ để kiểm tra nhịp tim chậm.
- Thuốc chẹn beta, digoxin, diltiazem và verapamil được khuyến cáo để kiểm soát tần số thất ở bệnh nhân rung nhĩ có LVEF ≥ 40 %. Theo điều trị để đạt tần số mục tiêu hoặc khi vẫn còn triệu chứng.
- Thuốc chẹn beta và/hoặc digoxin được khuyến cáo để kiểm soát tần số thất ở bệnh nhân rung nhĩ có LVEF < 40%. Xem xét phối hợp liều thấp sớm.
- Cân nhắc phối hợp thuốc nếu điều trị một thuốc không đạt nhịp tim mục tiêu.
- Có thể sử dụng chẹn beta, digoxin, diltiazem, verapamil hoặc phối hợp thuốc để kiểm soát tần số thất. Một số thuốc chống loạn nhịp (AAD) cũng có khả năng hạn chế tần số thất (ví dụ amiodarone, dronedarone, sotalol), tuy nhiên nên dành những thuốc này để kiểm soát nhịp. Lựa chọn thuốc kiểm soát tần số phụ thuộc vào triệu chứng, bệnh đồng mắc và các tác dụng không mong muốn có thể gặp.
- Chẹn beta giao cảm thường là lựa chọn đầu tay để kiểm soát tần số thất, chủ yếu do tác dụng giảm tần số cấp tính tốt. Đáng chú ý là vẫn chưa rõ liệu hiệu quả cải thiện tiên lượng của chẹn beta trên bệnh nhân suy tim EF giảm ở bệnh nhân Rung nhĩ có tương tự như ở bệnh nhân nhịp xoang hay không.
- Thuốc chẹn kênh calci nhóm non-dihydropyridine (NDCC): verapamil và diltiazem có thể kiểm soát tần số ở mức chấp nhận được và cải thiện triệu chứng liên quan Rung nhĩ khi so sánh với chẹn beta.
- Digoxin và digitoxin không hiệu quả trên bệnh nhân có tăng trương lực giao cảm. Digoxin liều thấp có thể cải thiện tiên lượng.
- Amiodarone là lựa chọn cuối cùng để kiểm soát tần số khi phối hợp các thuốc khác thất bại, đồng thời bệnh nhân không phù hợp để kiểm soát tần số bằng biện pháp can thiệp (đốt nút nhĩ-thất + cấy máy tạo nhịp) và chấp nhận tác dụng không mong muốn của thuốc.
| Các thuốc kiểm soát tần số thất (1) | |||
|---|---|---|---|
| Liều truyền tĩnh mạch | Liều duy trì đường uống | Chống chỉ định | |
| Chẹn beta giao cảm (2) | |||
| Metoprolol tartrate | Bolus 2,5 – 5 mg TTM; tối đa 4 liều | 25 - 100mg x 2 lần/ngày | Sử dụng chẹn beta chọn lọc β1 ở bệnh nhân hen. Chống chỉ định ở suy tim cấp và bệnh nhân có tiền sử co thắt phế quản nghiêm trọng |
| Metoprolol XL (succinate) | N/A | 50 - 400mg x 1 lần/ngày | |
| Bisoprolo | N/A | 1.25 - 20 mg x 1 lần/ngày | |
| Atenolol (3) | N/A | 25 - 100 mg x 1 lần/ngày | |
| Esmolol | Bolus 500 µg/kg TTM trong một phút, sau đó duy trì 50-300 µg/ kg/phút | N/A | |
| Landiolol | Bolus 100 µg/kg TTM trong một phút, sau đó duy trì 10-40 µg/kg/ phút; ở bệnh nhân suy tim 1-10 µg/kg/phút | N/A | |
| Nebivolol | N/A | 2,5-10 mg x 1 lần/ngày | |
| Carvedilol | N/A | 3,125-50 mg x 2 lần/ngày | |
| Chẹn kênh calci nhóm non-dihydropyridine | |||
| Verapamil | Bolus 2,5-10 mg TTM trong 5 phút | 40 mg x 2 lần/ngày tới 480 mg (dạng phóng thích chậm) | Chống chỉ định trong suy tim EF giảm. Chỉnh liều nếu bệnh nhân suy gan/thận |
| Diltiazem | Bolus 0,25 mg/kg TTM trong 5 phút, sau đó duy trì 5-15 mg/h | 60 mg x 3 lần/ngày tới 360 mg (dạng phóng thích chậm) | |
| Digitalis glycoside | |||
| Digoxin | Bolus 0.5 mg TTM (0,75 – 1,5 mg trong 24 giờ chia làm nhiều liều) | 0,0625 – 0,25 mg x 1 lần/ ngày | Nồng độ trong máu cao liên quan tới tăng tỷ lệ tử vong. Kiểm tra chức năng thận trước khi dùng thuốc và chỉnh liều trên bệnh nhân suy thận mạn. |
| Digitoxin | 0,4 – 0,6 mg | 0,05 – 0,1 mg x 1 lần/ngày | Nồng độ trong máu cao liên quan tới tăng tỷ lệ tử vong. |
| Các thuốc khác | |||
| Amiodarone | 300 mg TTM (pha với 250 mL Glucose 5%) truyền trong 30-60 phút (tốt nhất qua đường tĩnh mạch trung tâm), sau đó 900-1200 mg TTM trong 24 giờ (pha loãng 500-1000 mL, truyền qua tĩnh mạch trung tâm) | 200 mg x 1 lần/ngày. sau khi nạp 3 x 200 mg trong 4 tuần, sau đó 200 mg mỗi ngày (4) (giảm liều các thuốc kiểm soát tần số khác theo tần số tim) | Chỉ dùng khi không còn lựa chọn nào khác trên bệnh nhân có bệnh tuyến giáp |
- (1) Tất cả các thuốc kiểm soát tần số đều chống chỉ định trong hội chứng Wolff-Parkinson-White, kể cả aminodarone truyền tĩnh mạch.
- (2) Các loại chẹn beta khác không được liệt kê vì không được khuyến cáo dùng trong kiểm soát tần số Rung nhĩ (ví dụ propranolol hay labetalol).
- (3) Không có dữ liệu cho atenolol, không nên dùng trên bệnh nhân suy tim EF giảm.
- (4) Có thể có nhiều phác đồ liều nạp, nên cân nhắc liều truyền đường tĩnh mạch khi tính toán tổng liều nạp.
- Ở tình huống cấp cứu, luôn phải tìm các nguyên nhân gây tăng nhịp tim như nhiễm khuẩn hoặc thiếu máu.
- Ưu tiên lựa chọn chẹn beta, diltiazem hoặc verapamil hơn là digoxin vì tác dụng nhanh và hiệu quả khi trương lực giao cảm cao.
- Loại thuốc và tần số tim đích phụ thuộc vào đặc điểm bệnh nhân, triệu chứng, EF thất trái, huyết động; tuy nhiên kiểm soát tần số vừa phải thường vẫn chấp nhận được. Có thể phải phối hợp các thuốc với nhau.
- Trên bệnh nhân suy tim EF giảm, nên sử dụng chẹn beta, digitalis hoặc phối hợp 2 nhóm này.
- Có thể truyền amiodarone tĩnh mạch ở bệnh nhân tình trạng bệnh nặng hoặc chức năng tâm thu thất trái giảm nặng.
- Ở bệnh nhân huyết động không ổn định cần cân nhắc chuyển nhịp cấp cứu.
Đốt nút nhĩ thất và cấy máy tạo nhịp:
- Triệt đốt nút nhĩ thất và cấy máy tạo nhịp có thể giúp kiểm soát tần số thất khi dùng thuốc thất bại.
- Thủ thuật tương đối an toàn và có tỷ lệ biến chứng lẫn tỷ lệ tử vong lâu dài thấp, đặc biệt nếu máy tạo nhịp được cấy trước khi đốt nút một vài tuần và tần số tạo nhịp ban đầu sau đốt cài đặt ở 70-90 lần/phút. Thủ thuật không làm giảm chức năng thất trái, thậm chí còn cải thiện EF trên một số bệnh nhân.
- Đa số nghiên cứu tuyển chọn những bệnh nhân cao tuổi có kỳ vọng sống hạn chế. Trên bệnh nhân trẻ, chỉ nên cân nhắc đốt nút nhĩ-thất nếu cần kiểm soát tần số sớm và xem xét kỹ các biện pháp dùng thuốc lẫn không dùng thuốc khác.
- Phương pháp tạo nhịp (tạo nhịp thất phải hoặc tạo nhịp hai buồng thất) phụ thuộc vào đặc điểm bệnh nhân.
- Tạo nhịp bó His hoặc nhánh trái bó His sau đốt nút nhĩ-thất là phương án hứa hẹn và đang được đánh giá trong một số nghiên cứu.
- Trên bệnh nhân Rung nhĩ vĩnh viễn có triệu chứng nặng và có ít nhất 1 lần nhập viện do suy tim, triệt đốt nút nhĩ-thất kèm cấy máy tái đồng bộ tim (CRT) có thể được ưu tiên.
Chuyển nhịp và duy trì nhịp xoang
- Chuyển nhịp
- Điều trị thuốc chống loạn nhịp
- Cắt đốt điện sinh lý
- Điều trị phòng ngừa
Chuyển nhịp
Chuyển nhịp cấp cứu hoặc có chọn lọc:
- Chuyển nhịp cấp cứu chỉ định trên bệnh nhân rung nhĩ có huyết động không ổn định, thường sử dụng shock điện chuyển nhịp đồng bộ. Chuyển nhịp có chuẩn bị là tình huống chuyển nhịp có thể lên kế hoạch để tiến hành sau nhiều giờ.
- Huyết khối nhĩ trái là chống chỉ định của chuyển nhịp có chuẩn bị. Cần đánh giá nguy cơ huyết khối/tắc mạch quanh thủ thuật và duy trì chống đông đường uống bất kể phương pháp chuyển nhịp (bằng thuốc hay shock điện).
- Có thể tiến hành shock điện chuyển nhịp an toàn trên bệnh nhân được an thần(tiền mê) với midazolam và/hoặc propofol hoặc etomidate. Trong những trường hợp khẩn cấp như đáp ứng thất quá nhanh, rối loạn huyết động(tụt huyết áp), chuyển nhịp bằng sốc điện được ưu tiên.
- Máy shock điện 2 pha hiệu quả hơn 1 pha trong chuyển nhịp rung nhĩ và nên được dùng thường quy.
- Chọn chế độ shock điện đồng bộ(nhận cảm sóng R) có hiệu quả hơn chuyển nhịp bằng thuốc đơn thuần. Có thể chọn mức năng lượng khởi đầu 100 Joules và có thể tăng dần tới 150-200 Joules (có thể bắt đầu từ liều 150 J, để tránh sốc điện nhiều lần) nếu lần shock đầu thất bại và kết hợp với dùng thuốc chống loạn nhịp.
- Cần theo dõi huyết áp và SpO2 trong lúc làm thủ thuật.
- Bỏng da là biến chứng ít gặp.
- Cần chuẩn bị sẵn atropine, isoproterenol hoặc tạo nhịp tạm thời qua da phòng trường hợp nhịp chậm sau shock.
- Một số dữ liệu thấy rằng bản cực shock đặt ở vị trí trước-sau giúp khôi phục nhịp xoang hiệu quả hơn. Tuy nhiên, một số nghiên cứu khác cho thấy các vị trí đặt bản cực shock khác nhau không quá ảnh hưởng đến hiệu quả của phát shock.
- Chuyển nhịp có chuẩn bị bằng thuốc được chỉ định trên bệnh nhân huyết động ổn định. Hiệu quả thực sự của biện pháp này có thể bị nhiễu bởi 76-83% bệnh nhân nhập viện do RN mới khởi phát thường tự về nhịp xoang trong vòng 48 giờ (10-18% trong vòng 3 giờ, 55-66% trong 24 giờ, 69% trong 48 giờ).
- Do vậy, chiến lược “chờ đợi và quan sát” (thường trong vòng < 24 giờ) có thể cân nhắc trên bệnh nhân mới xuất hiện rung nhĩ vì không kém hơn chuyển nhịp sớm.
- Lựa chọn thuốc chuyển nhịp phụ thuộc vào chẩn đoán và mức độ bệnh tim mạch kèm theo, chuyển nhịp bằng thuốc thường hiệu quả hơn với RN mới xuất hiện.
- Các thuốc được khuyến cáo sử dụng ở bệnh nhân rung nhĩ để duy trì nhịp xoang bao gồm: amiodaron, dofetilide, dronedaron, flecanid, propafenon và sotalol. Hạn chế lớn nhất khi chuyển nhịp bằng thuốc là có nguy cơ xoắn đỉnh do tác dụng phụ của thuốc chống loạn nhịp.
- Nguy cơ huyết khối không có sự khác nhau giữa chuyển nhịp bằng thuốc và bằng sốc điện.
- Có thể sử dụng kết hợp sốc điện với thuốc để chuyển nhịp tăng tỷ lệ thành công.
- Theo dõi điện tâm đồ liên tục ít nhất 4 giờ sau khi chuyển nhịp.
- Dronedarone phòng tái phát rung nhĩ.
| Các thuốc chống loạn nhịp dùng để phục hồi nhịp xoang (chuyển nhịp bằng thuốc) | |||||
|---|---|---|---|---|---|
| Thuốc | Đường dùng | Liều chuyển nhịp khởi đầu | Liều chuyển nhịp tiếp theo | Tỷ lệ thành công ngắn hạn và thời gian tới khi có nhịp xoang | Chống chỉ định/thận trọng/chú ý |
| Flecainide (1) | Uống (2) Truyền TM | 200-300 mg 2 mg/kg trong 10 phút |
- | 59-78% (51% sau 3h, 72% sau 8h) | Không nên dùng trên bệnh nhân thiếu máu cơ tim và/hoặc bệnh tim cấu trúc nặng |
| Propafenone (1) | Uống (2) Truyền TM | 450-600 mg 1,5 – 2 mg/ kg trong 10 phút |
- |
Uống: 45-55% sau 3h, 69-78% sau 8h; Truyền TM: 43-89%, sau tối đa 6h. |
Có thể gây tụt huyết áp, xuất hiện cuồng nhĩ dẫn truyền 1:1 ở 3,5 – 5,0% bệnh nhân. Flecainide có thể làm QRS giãn nhẹ KHÔNG dùng để chuyển nhịp cuồng nhĩ. |
| Vernakalant (3) | Truyền TM | 3 mg/kg trong 10 phút | 2 mg/kg trong 10 phút (sau liều đầu 10-15 phút) | < 1 h (50% chuyển nhịp trong vòng 10 phút). | Không dùng trên bệnh nhân tụt huyết áp (HA tâm thu < 100 mmHg), mới mắc hội chứng vành cấp (trong vòng 1 tháng), suy tim NYHA III-IV, QT dài, hẹp chủ khít. Có thể gây tụt áp, kéo dài đoạn QT, là QRS giãn rộng, gây tim nhanh thất không dai dẳng. |
| Amiodarone | Truyền TM | 5 – 7 mg/ kg trong 1-2 giờ | 50 mg/kg (tối đa 1,2g trong 24h) | 44% (Sau 8-12h hoặc vài ngày) | Có thể gây viêm tĩnh mạch (nên truyền ở mạch ngoại vi lớn, tránh truyền liên tục quá 24h, nên dùng bơm duy trì tốc độ). Có thể gây tụt áp, nhịp chậm/block nhĩ-thất, kéo dài đoạn QT Nguy cơ nhiễm độc giáp → Chỉ dùng ở bệnh nhân có bệnh tuyến giáp khi không còn lựa chọn khác. |
| Ibutilide (3) | Truyền TM | 1 mg trong 10 phút 0,01 mg/kg nếu cân nặng < 60 kg | 1 mg trong 10 phút (sau liều đầu 10-20 phút) | 31-51% (rung nhĩ) 63-73% (Cuồng nhĩ) Sau ~1h | Hiệu quả trong chuyển nhịp cuồng nhĩ. Không nên dùng trên bệnh nhân có QT dài, phì đại thất trái nặng, suy tim EF thấp. Nên dùng ở đơn vị chăm sóc tim mạch do có thể gây QT dài, nhanh thất đa hình thái (xoắn đỉnh). Theo dõi điện tâm đồ sau dùng thuốc ít nhất 4 giờ để phát hiện biến cố rối loạn nhịp. |
(2) Có thể để bệnh nhân tự dùng trong chiến lược “thuốc bỏ túi”.
(3) Không sẵn có ở nhiều quốc gia.
Mục tiêu theo dõi sau chuyển nhịp RN
- Phát hiện sớm RN tái phát bằng cách ghi điện tâm đồ sau chuyển nhịp
- Đánh giá hiệu quả của kiểm soát nhịp thông qua đánh giá triệu chứng
- Đánh giá nguy cơ rối loạn nhịp bằng cách kiểm tra thường xuyên khoảng PR, QRS, QTc ở bệnh nhân dùng thuốc chống rối loạn nhịp nhóm I hoặc III
- Đánh giá sự cân bằng giữa triệu chứng và tác dụng không mong muốn của biện pháp điều trị, cân nhắc tới chất lượng sống và mức độ triệu chứng
- Đánh giá các bệnh đồng mắc liên quan đến RN và tác dụng không mong muốn của thuốc chống RL nhịp lên bệnh tim mạch đồng mắc và chức năng thất trái.
- Tối ưu hóa các điều kiện để duy trì nhịp xoang, bao gồm kiểm soát các yếu tố nguy cơ tim mạch (kiểm soát huyết áp, điều trị suy tim, tăng sức khỏe tim-phổi và các biện pháp khác).
- Các thuốc chống loạn nhịp: Mục tiêu điều trị thuốc chống loạn nhịp là để cải thiện triệu chứng liên quan đến RN. Do vậy nếu dùng thuốc chống loạn nhịp lâu dài cần phải cân bằng giữa gánh nặng triệu chứng, các tác dụng không mong muốn và sự lựa chọn của bệnh nhân. Thuốc chống loạn nhịp giúp tăng gấp đôi khả năng duy trì nhịp xoang. Sử dụng thuốc chống loạn nhịp ngắn hạn cũng giúp hạn chế tái phát RN sớm sau triệt đốt, tuy nhiên lợi ích vẫn còn tranh cãi.
- Đánh giá và theo dõi lâu dài nguy cơ thúc đẩy rối loạn nhịp khi dùng các thuốc chống loạn nhịp.
| Các thuốc chống loạn nhịp dùng để duy trì nhịp xoang lâu dài trên bệnh nhân RN | |||
|---|---|---|---|
| Thuốc | Đường dùng | Liều | Chống chỉ định/thận trọng/ghi chú |
| Amiodarone | Uống | 3 x 200 mg mỗi ngày trong 2 tuần, sau đó 200 mg/ngày |
|
| Flecainide Flecainide phóng thích chậm | Uống | 100-200 mg ngày 2 lần hoặc 200 mg ngày 1 lần (dạng phóng thích chậm) |
|
| Propafenone Propafenone phóng thích chậm | Uống | 150-300 mg x 3 lần/ ngày, hoặc 225 -425 mg x 2 lần/ ngày (dạng phóng thích chậm) |
|
| Dronedarone | Uống | 400 mg x 2 lần/ngày |
|
| Sotalol(hỗn hợp đồng phân d, l, racemic) | Uống | 80-160 mg x 2 lần/ngày |
|
| Disopyramide | Uống | 100-400 mg x 2-3 lần/ngày (tối đa 800 mg/24 giờ) |
|
| Các thuốc không thuộc nhóm chống loạn nhịp nhưng có thể ngăn ngừa loạn nhịp tim (điều trị nền) | |
|---|---|
| Thuốc | Nhận xét |
| Ức chế men chuyển (ƯCMC), chẹn thụ thể Angiotensin (ƯCTT) | Hoạt hóa hệ thống renin-angiotensin-aldosterone được điều hòa tăng trong rung nhĩ. Các thuốc ƯCMC và ƯCTT cho kết quả hứa hẹn trong những nghiên cứu tiền lâm sàng. |
| Từ các phân tích hồi cứu và nghiên cứu và những nghiên cứu lấy RN làm chỉ tiêu phụ, ƯCMC/ƯCTT có thể ngăn ngừa RN mới xuất hiện ở bệnh nhân rối loạn chức năng thất trái, phì đại thất trái hoặc tăng huyết áp. | |
| ƯCMC và ƯCTT vượt trội hơn các thuốc điều trị tăng huyết áp khác khi dùng điều trị đầu tay, tuy nhiên ƯCTT không làm giảm gánh nặng RN trên bệnh nhân không có bệnh tim cấu trúc. Mặc dù có hiệu quả trong một số nghiên cứu theo dõi dọc nhỏ và phân tích hồi cứu, các thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên lớn vẫn cho kết quả xung đột và chưa khẳng định được vai trò của ƯCMC và ƯCTT trong dự phòng thứ phát RN (dự phòng sau chuyển nhịp). Kết quả âm tính có thể do thiết kế nghiên cứu và tương tác giữa nhiều yếu tố gây ra RN, do vậy không nên ngần ngại sử dụng ƯCMC hoặc ƯCTT để dự phòng loạn nhịp trên bệnh nhân có bệnh tim cấu trúc. | |
| Thuốc đối kháng thụ thể mineralocorticoid (MRA) | Aldosterone có thể tham gia vào khởi kích và duy trì RN. Bằng chứng từ các thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên cho thấy các thuốc MRA giảm nguy cơ xuất hiện rối loạn nhịp nhĩ mới trên bệnh nhân suy tim EF giảm cũng như cải thiện các kết cục khác về tim mạch. |
| Thuốc đối kháng thụ thể mineralocorticoid (MRA) | Gần đây, MRA đã chứng minh được tác động có lợi trên bệnh nhân suy tim EF bảo tồn bất kể tình trạng RN có hay không. Giống như các thuốc ức chế hệ reninangiotensin-aldosterone khác, vai trò của MRA trong điều trị đầu nguồn kiểu soát nhịp ở bệnh nhân suy tim và RN vẫn chưa rõ ràng. Do RN cũng là một chỉ dấu của mức độ suy tim, tác dụng giảm rối loạn nhịp có thể chỉ là gián tiếp do cải thiện tình trạng suy tim. Một thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên mới đây cho thấy MRA giúp giảm đáng kể RN mới xuất hiện và RN tái phát, tuy nhiên không ngăn ngừa được RN sau phẫu thuật. |
| Chẹn beta giao cảm | Một số nghiên cứu nhỏ cho thấy chẹn beta giúp giảm nguy cơ tái phát RN với hiệu quả tương đương sotalol. Tuy nhiên đa số bằng chứng phủ nhận chẹn beta có vai trò đáng kể trong dự phòng RN. Hiệu quả của chẹn beta có thể do khiến RN có triệu chứng lâm sàng thành không triệu chứng nhờ kiểm soát nhịp tim. |
| Statin | Statin là một ứng viên hứa hẹn trong điều trị đầu nguồn do vai trò của phản ứng viêm trong RN khá rõ ràng. Tuy nhiên trong một thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng được thiết kế chuẩn mực, statin không thể hiện tác dụng có lợi. Các nghiên cứu khác cũng không chứng minh được tác dụng dự phòng của statin. Những nhóm bệnh nhân cụ thể có thể được đảo ngược tái cấu trúc tâm nhĩ khi dùng statin vẫn chưa được xác định. Tuy nhiên kết quả từ nghiên cứu sổ bộ CARAF gợi ý rằng những bệnh nhân RN đang dùng chẹn beta có thể được hưởng lợi từ statin. Acid béo không bão hòa đa nối đôi cũng chưa chứng minh được hiệu quả trong dự phòng RN. |
- Chức năng thất trái bình thường hoặc giảm nhẹ (nhưng vẫn ổn định), hoặc
- Suy tim EF bảo tồn, thiếu máu cơ tim hoặc bệnh van tim
Điều trị rung nhĩ bằng triệt đốt qua catheter
(b) Ở một số ít trường hợp có thể cân nhắc triệt đốt như điều trị đầu tay.
(c) Khuyến cáo nhằm đảo ngược rối loạn chức năng thất trái khi nghi ngờ bệnh cơ tim do nhịp nhanh
(d) Nhằm cải thiện sống còn và giảm nhập viện.
- Dựa vào cơ chế tĩnh mạch phổi là vị trí quan trọng khởi phát và tạo rất nhiều vòng vào lại nhỏ ở bệnh nhân nhĩ.
- Triệt đốt bằng catheter là phương pháp có hiệu quả và là lựa chọn cho bệnh nhân rung nhĩ có triệu chứng điều trị nội khoa thất bại.
- Tỷ lệ thành công từ 40 - 90%.
- Tỷ lệ biến chứng của phương pháp này là 2-12%.
- Những biến chứng gồm: tràn dịch màng tim, ép tim cấp, biến chứng mạch máu, hẹp t ĩnh mạch phổi, đột quỵ, dò nhĩ trái thực quản.
- Tỷ lệ tử vong thấp < 0.1%.
Khuyến cáo triệt đốt RN qua đường ống thông sau khi điều trị thuốc chống loạn nhịp nhóm I hoặc III thất bại hoặc không dung nạp, nhằm cải thiện triệu chứng của RN tái phát ở bệnh nhân:
Triệt đốt RN qua đường ống thông nên được lựa chọn như biện pháp kiểm soát nhịp đầu tay để cải thiện triệu chứng trên các bệnh nhân:
Có thể cân nhắc
Triệt đốt RN qua đường ống thông:
Kỹ thuật triệt đốt
| Các biến chứng liên quan thủ thuật sau triệt đốt RN qua đường ống thông hoặc nội soi qua thành ngực | |||
|---|---|---|---|
| Mức độ biến chứng | Loại biến chứng | Tỷ lệ biến chứng | |
| Triệt đốt qua catheter | Triệt đốt qua nội soi | ||
| Đe dọa tính mạng | Tử vong quanh phẫu thuật | < 0,1% | < 0,1% |
| Thủng/ rò thực quản | < 0,5% | N/A | |
| Huyết khối/ tắc mạch quanh phẫu thuật | < 0,1% | < 1,5% | |
| Chèn ép tim | ~ 1% | < 10% | |
| Biến chứng nặng | Hẹp TM phổi | < 1,0% | N/A |
| Liệt thần kinh hoành | < 1,0% | N/A | |
| Biến chứng mạch máu | 2-4 % | N/A | |
| Phải mở xương ức | N/A | < 1,7% | |
| Tràn khí màng phổi | N/A | < 6,5% | |
| Biến chứng nhẹ/trung bình | Gồm nhiều loại | 1-2% | 1-3% |
| Biến chứng không rõ mức độ | Huyết khối mạch não không triệu chứng | 5-15% | N/A |
Thay đổi lối sống và các chiến lược khác để cải thiện kết cục triệt đốt
Tái phát RN sau triệt đốt là kết quả của tương tác phức tạp giữa nhiều yếu tố, bao gồm thời gian diễn biến RN, tuổi, kích thước nhĩ trái và các yếu tố cấu trúc khác như lớp mỡ màng ngoài tim dày, cơ chất tâm nhĩ trên các chỉ dấu điện học hoặc hình thái.
| Các vấn đề chính khi theo dõi sau triệt đốt rung nhĩ |
|---|
Phát hiện và xử trí biến chứng
|
Theo dõi nhịp tim
|
Sử dụng thuốc chống loạn nhịp và điều trị RN tái phát
|
Điều trị chống đông
|
Phẫu thuật điều trị rung nhĩ
- Phẫu thuật cô lập nhĩ trái (Maze proceduce) thường được chỉ định kết hợp với các phẫu thuật tim khác như mổ bắc cầu chủ vành, thay van tim, mổ sửa chữa trong bệnh tim bẩm sinh,..
- Phẫu thuật sẽ tạo các đường cắt cô lập từng vùng cơ nhĩ, tiểu nhĩ và các tĩnh mạch phổi nhưng vẫn bảo tồn được các chức năng dẫn truyền trong nhĩ, nhờ vậy ngăn chặn được sự hình thành các vòng vào lại gây rung nhĩ.
Dự phòng nguy cơ đột quỵ quanh thủ thuật ở bệnh nhân trải qua các can thiệp nhằm kiểm soát nhịp
Dự phòng nguy cơ đột quỵ và dùng chống đông đường uống ở bệnh nhân rung nhĩ được chuyển nhịp
Dự phòng nguy cơ đột quỵ và dùng chống đông đường uống ở bệnh nhân rung nhĩ triệt đốt qua đường ống thông
- Dùng chống đông warfarin hoặc NOAC ít nhất 2 tháng sau triệt đốt, và
- Dùng chống đông kéo dài sau 2 tháng tùy theo nguy cơ đột quỵ của bệnh nhân, không liên quan tới thành công hay thất bại của thủ thuật.
Chống đông sau phẫu thuật điều trị rung nhĩ
Tránh dùng một số thuốc có nguy cơ gây rung nhĩ
- Mức độ bằng chứng cao: Adenosin (thời gian bán thải ngắn nên thường không có ý nghĩa lâm sàng, ngoại trừ trường hợp bệnh nhân có đường dẫn truyền phụ như mắc hội chứng Wolff-Parkinson-White), Dobutamin, Aminophyllin/theophyllin.
- Mức độ bằng chứng trung bình: Milrinon, Interleukin-2, Flecainid, Cisplatin, Melphalan, Amifostin
VIDEO
Tài liệu tham khảo
- Hướng dẫn của ESC 2020 về chẩn đoán và quản lý rung nhĩ
- Rung nhĩ. BV Nguyễn Tri Phương
- Đại cương về bệnh rung nhĩ không do bệnh van tim
- Khuyến cáo về Chẩn đoán và điều trị rung nhĩ 2016
- 2020 Guidelines for Management of Atrial Fibrillation. ECS
- Chẩn đoán và điều trị cơ bản rung nhĩ. Ts. Phạm Trần Linh. Viện Tim Mạch Quốc Gia Việt Nam
- ECS 2020. Thuốc chống loạn nhịp tim được sử dụng để duy trì nhịp xoang lâu dài ở bệnh nhân AF
- ECS 2020. Thuốc để kiểm soát tần số trong AF
- ECS 2020. Tiêu chí lựa chọn liều lượng cho NOAC