Rung nhĩ (AF)

Post key: 6be96207-fe9a-57d0-9648-26c54abc8e3d
Slug: rung-nhi-af
Excerpt: Chẩn đoán rung nhĩ (AF) cần dựa trên bằng chứng điện tâm đồ: ghi điện tâm đồ 12 chuyển đạo hoặc theo dõi điện tâm đồ 1 chuyển đạo liên tục ≥ 30 giây cho thấy nhịp tim không đều và không có sóng P lặp lại rõ ràng (nếu loại trừ dẫn truyền nhĩ-thất bị tổn thương). AF được đặc trưng bởi RR không đều/loạn nhịp hoàn toàn và hoạt động nhĩ hỗn loạn không tạo được sóng P lặp lại. Rung nhĩ dưới lâm sàng/AHRE là các cơn ghi nhận nhờ thiết bị theo dõi nhưng chưa có bản ghi điện tâm đồ bề mặt xác định; cần kiểm tra cẩn thận để loại trừ nhiễu dương tính giả theo tiêu chuẩn của thiết bị, và cơn được xác nhận khi có bằng chứng điện tâm đồ phù hợp (thường ngưỡng tần số ≥ 175 lần/phút, thời gian cài đặt thường ≥ 5 phút).
Recognized tags: chan-doan, xet-nghiem, theo-doi

GIỚI THIỆU

Chẩn đoán rung nhĩ (AF) cần dựa trên bằng chứng ghi nhận được từ điện tâm đồ.

Để thiết lập chẩn đoán rung nhĩ trên lâm sàng, có thể sử dụng một trong hai cách ghi nhận bằng điện tâm đồ:

  • Ghi điện tâm đồ 12 chuyển đạo, hoặc theo dõi điện tâm đồ 1 chuyển đạo liên tục trong thời gian ≥ 30 giây, cho thấy nhịp tim không đều và không có sóng P lặp lại rõ ràng (nếu loại trừ tình trạng dẫn truyền nhĩ-thất bị tổn thương) là đủ để chẩn đoán rung nhĩ trên lâm sàng.
Định nghĩa
Rung nhĩ
Rung nhĩ là một rối loạn nhịp nhanh trên thất, đặc trưng bởi hoạt động điện hỗn loạn tại tâm nhĩ, làm cho co bóp tâm nhĩ không hiệu quả. Các đặc điểm điện tâm đồ của Rung nhĩ bao gồm:
  • Khoảng R-R không đều hoặc loạn nhịp hoàn toàn (trong trường hợp vẫn còn dẫn truyền nhĩ-thất).
  • Không có hình thái sóng P lặp lại rõ ràng.
  • Hoạt động nhĩ không đều.
Rung nhĩ lâm sàng
  • Là rung nhĩ có hoặc không có triệu chứng, được ghi nhận trên điện tâm đồ bề mặt.
  • Để chẩn đoán rung nhĩ lâm sàng, cần có bản ghi điện tâm đồ 12 chuyển đạo tiêu chuẩn hoặc băng ghi điện tâm đồ 1 chuyển đạo trong ít nhất 30 giây.
Cơn hoạt động điện nhĩ tần số nhanh(AHRE), rung nhĩ dưới lâm sàng
Là các tình huống không có triệu chứng liên quan đến rung nhĩ và rung nhĩ lâm sàng CHƯA từng được ghi nhận (không có bất kỳ bản điện tâm đồ bề mặt nào ghi được rung nhĩ).
  • AHRE (Cơn hoạt động điện nhĩ tần số nhanh): là các sự kiện được ghi nhận nhờ thiết bị điện tử cấy ghép có khả năng tự động theo dõi và lưu trữ hoạt động điện tâm nhĩ qua điện cực đặt tại tâm nhĩ. Chẩn đoán AHRE dựa trên các tiêu chuẩn được cung cấp sẵn hoặc cài đặt của thiết bị; tuy nhiên, cần kiểm tra kỹ từng bản ghi cụ thể để loại trừ nhiễu/dương tính giả.
  • RN dưới lâm sàng bao gồm các cơn AHRE đã được xác nhận là rung nhĩ hoặc cuồng nhĩ; hoặc các cơn nhanh nhĩ/rung nhĩ được ghi nhận qua các thiết bị theo dõi cấy ghép/đeo ngoài và được xác nhận bằng hình ảnh điện đồ trong tim hoặc bản ghi điện tâm đồ.
  • Tiêu chuẩn tần số được cài đặt trên thiết bị để chẩn đoán AHRE là ≥ 175 lần/phút.
  • Tiêu chuẩn thời gian của AHRE thường được cài đặt ≥ 5 phút (chủ yếu nhằm loại trừ nhiễu).

PHÂN LOẠI, ĐÁNH GIÁ GÁNH NẶNG VÀ TIẾN TRIỂN CỦA RUNG NHĨ

Phân loại

Trong quản lý bệnh nhân rung nhĩ tại các tuyến y tế, cần cân nhắc đánh giá các đặc điểm của rung nhĩ trên mọi bệnh nhân, bao gồm: nguy cơ đột quỵ, mức độ triệu chứng, gánh nặng rung nhĩ và cơ chất rung nhĩ. Việc đánh giá này hỗ trợ đưa ra quyết định điều trị và chăm sóc tối ưu.

Có thể cân nhắc
IIb
C
Hình thái Định nghĩa
Rung nhĩ được chẩn đoán lần đầu Rung nhĩ chưa được chẩn đoán trước đây, bất kể thời gian diễn biến và bất kể mức độ hoặc sự tồn tại triệu chứng liên quan đến rung nhĩ.
Rung nhĩ cơn Rung nhĩ tự kết thúc hoặc được chuyển về nhịp xoang trong vòng 7 ngày kể từ khi xuất hiện.
Rung nhĩ dai dẳng Rung nhĩ kéo dài liên tục hơn 7 ngày, bao gồm cả những cơn được chuyển về nhịp xoang (bằng thuốc hoặc shock điện) sau ≥ 7 ngày.
Rung nhĩ dai dẳng kéo dài Rung nhĩ kéo dài liên tục >12 tháng tính đến thời điểm lựa chọn chiến lược kiểm soát nhịp.
Rung nhĩ vĩnh viễn Rung nhĩ được chấp nhận bởi bệnh nhân và bác sĩ, không còn phù hợp với các nỗ lực chuyển nhịp xoang hoặc duy trì nhịp xoang. Rung nhĩ vĩnh viễn phản ánh thái độ tiếp cận của bệnh nhân và bác sĩ nhiều hơn là đặc điểm sinh lý bệnh; do đó, thuật ngữ này không nên được sử dụng trong các trường hợp quyết định kiểm soát nhịp bằng thuốc hay triệt đốt. Nếu vẫn cân nhắc kiểm soát nhịp, rung nhĩ sẽ được phân loại là "Rung nhĩ dai dẳng kéo dài".

Các thuật ngữ nên loại bỏ:
rung nhĩ đơn độc (hiện nay cho thấy rung nhĩ đều có nguyên nhân), rung nhĩ có/không có bệnh van tim (phân biệt rung nhĩ có hẹp van 2 lá vừa/nặng và van tim nhân tạo với rung nhĩ khác; thuật ngữ này có thể gây hiểu nhầm), rung nhĩ mạn tính (đã có định nghĩa thay thế).

Đánh giá gánh nặng rung nhĩ

Gánh nặng rung nhĩ trên lâm sàng thường được xác định dựa trên: diễn biến theo thời gian, mức độ gây triệu chứng, nguy cơ tắc mạch, và các thay đổi về cấu trúc cũng như chức năng cơ nhĩ.

Sơ đồ 4S-AF đánh giá gánh nặng rung nhĩ

Tiến triển của rung nhĩ

  • Tiến triển từ rung nhĩ cơn sang rung nhĩ dai dẳng hoặc dai dẳng kéo dài (hoặc từ rung nhĩ dưới lâm sàng thành rung nhĩ lâm sàng) thường phản ánh tiến triển của tái cấu trúc tâm nhĩ hoặc bệnh lý cơ tim tâm nhĩ.
  • Đánh giá tiến triển của rung nhĩ phụ thuộc vào quãng thời gian theo dõi nhịp tim và các cơ chất rối loạn nhịp. Tỷ lệ tiến triển của rung nhĩ kịch phát thành rung nhĩ kéo dài hơn được báo cáo hàng năm dao động từ < 1% tới 15% (lên tới 27-36% trong các nghiên cứu theo dõi ≥ 10 năm). Các yếu tố nguy cơ của tiến triển rung nhĩ bao gồm tuổi, suy tim, tăng huyết áp, bệnh thận mạn, bệnh phổi mạn tính, đái tháo đường, tiền sử đột quỵ và kích thước nhĩ trái; trong khi đó giá trị dự đoán của các chỉ dấu sinh học vẫn chưa rõ ràng. Tuổi cao có liên quan đến rung nhĩ vĩnh viễn, đồng thời nhiều yếu tố khác cũng gây ra sự tiến triển bệnh thông qua sự tái cấu trúc cơ chất. Tiến triển của rung nhĩ sang thể dai dẳng/vĩnh viễn có liên quan tới tăng các biến cố tim mạch, nhập viện và tử vong; tuy nhiên, vẫn chưa rõ liệu sự tiến triển này là yếu tố quyết định hay chỉ là phản ánh tình trạng bệnh lý/cơ chất nền đang diễn biến xấu đi.

THĂM KHÁM ĐÁNH GIÁ VÀ CHẨN ĐOÁN

Chẩn đoán rung nhĩ trước hết cần dựa trên bệnh sử và thăm khám toàn diện. Người bệnh cần được đánh giá triệu chứng và diễn tiến của rung nhĩ. Trên cơ sở đó, tiến hành phân loại kiểu rung nhĩ (rung nhĩ được chẩn đoán lần đầu, rung nhĩ cơn, rung nhĩ dai dẳng, dai dẳng kéo dài hay rung nhĩ vĩnh viễn); ghi nhận khởi phát triệu chứng và thời điểm phát hiện rung nhĩ; tìm yếu tố kích thích, tần suất, thời gian và kiểu chấm dứt cơn; đồng thời tìm hiểu đáp ứng với thuốc. Song song, cần tìm bệnh tim cấu trúc và các nguyên nhân có thể hồi phục như cường giáp hoặc lạm dụng rượu.

  • Do rung nhĩ thường gặp ở người có các yếu tố nguy cơ tim mạch hoặc bệnh đồng mắc, rung nhĩ có thể là dấu hiệu gợi ý tình trạng bệnh lý nền chưa được chẩn đoán. Vì vậy, tất cả người bệnh rung nhĩ cần được thăm khám tim mạch toàn diện.
  • Một “gói” thăm khám thường quy cho người bệnh rung nhĩ nên bao gồm: tiền sử bệnh lý, các bệnh đồng mắc, hình thái rung nhĩ, nguy cơ đột quỵ, triệu chứng liên quan rung nhĩ, biến cố huyết khối-tắc mạch và rối loạn chức năng thất trái. Cần thực hiện điện tâm đồ 12 chuyển đạo ở mọi người bệnh rung nhĩ để xác nhận chẩn đoán, xác định tần số thất, đánh giá rối loạn dẫn truyền đi kèm, và tìm dấu hiệu thiếu máu cơ tim hoặc bệnh lý cấu trúc. Đồng thời cần làm xét nghiệm cận lâm sàng (chức năng tuyến giáp, thận, điện giải, công thức máu) và siêu âm tim qua thành ngực (đánh giá kích thước và chức năng thất trái, kích thước nhĩ trái, bệnh lý van tim, kích thước và chức năng tâm thu thất phải) nhằm định hướng điều trị. Tùy từng bệnh nhân cụ thể có thể chỉ định thêm các thăm dò cần thiết khác. Đa số người bệnh rung nhĩ cần tái khám định kỳ để duy trì điều trị tối ưu.

Trên người bệnh rung nhĩ, khuyến cáo:

  • Đánh giá các triệu chứng liên quan rung nhĩ (bao gồm mệt mỏi, khó thở khi gắng sức, hồi hộp trống ngực, tức ngực) và lượng giá mức độ triệu chứng bằng thang điểm EHRA sửa đổi trước và sau khởi trị.
  • Đánh giá các triệu chứng liên quan rung nhĩ trước và sau chuyển nhịp với rung nhĩ dai dẳng nhằm hỗ trợ quyết định lựa chọn chiến lược kiểm soát nhịp.
I
C

Các thăm dò chẩn đoán và theo dõi trên bệnh nhân Rung nhĩ (theo ESC 2020)
Các thăm dò chẩn đoán và theo dõi trên bệnh nhân Rung nhĩ (theo ESC 2020)

Lâm sàng

  • Bệnh nhân rung nhĩ có thể biểu hiện với nhiều mức độ triệu chứng khác nhau, tuy nhiên 50-87% số trường hợp không triệu chứng trong giai đoạn sớm.
  • Triệu chứng của cơn rung nhĩ mới khởi phát chưa được nghiên cứu đầy đủ và có thể bị ảnh hưởng bởi điều trị.
  • Rung nhĩ tái phát thường có tỷ lệ không triệu chứng cao hơn.
  • Các biến cố liên quan đến rung nhĩ bao gồm: đột quỵ não/tắc mạch, rối loạn chức năng thất trái và suy tim, tăng tỷ lệ nhập viện, giảm chất lượng cuộc sống, rối loạn nhận thức/sa sút trí tuệ và tử vong.
Triệu chứng của rung nhĩ và các kết cục liên quan đến Rung nhĩ(theo ESC 2020)
Các triệu chứng lâm sàng thường gặp của rung nhĩ:
  • Hồi hộp
  • Nhịp tim nhanh, không đều
  • Đánh trống ngực
  • Chóng mặt
  • Ngất
  • Đau ngực nặng
  • Khó thở nhanh nông

Triệu chứng và mức độ ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của Rung nhĩ

Mức độ nghiêm trọng của rung nhĩ có thể dao động từ không triệu chứng đến mức mất khả năng duy trì sinh hoạt bình thường; đồng thời, quyết định kiểm soát nhịp hay không (bao gồm cả triệt đốt qua đường ống thông) phụ thuộc vào mức độ triệu chứng. Do đó, cần đánh giá triệu chứng rung nhĩ dựa trên thang điểm sửa đổi của Hội Nhịp tim Châu Âu (mEHRA). Sáu triệu chứng (bao gồm hồi hộp trống ngực, mệt mỏi, chóng mặt, khó thở, tức ngực, lo lắng khi rung nhĩ) được phân tầng theo mức độ ảnh hưởng: từ không ảnh hưởng đến mất khả năng sinh hoạt bình thường. Mối liên quan của triệu chứng với rung nhĩ (đặc biệt khi triệu chứng không đặc hiệu như khó thở, mệt mỏi, nặng ngực) cũng cần được làm rõ để không bỏ sót các nguy cơ tim mạch và bệnh lý đồng mắc khác chưa được phát hiện hoặc điều trị chưa tối ưu.

Cận lâm sàng


ECG có giá trị chẩn đoán:
  • Sóng P: không còn; sóng f không đều, lăn tăn; có thay đổi liên tục về hình dạng, thời gian, biên độ,..
  • QRS không đều: khoảng RR khác nhau không có quy luật; tần số đáp ứng thất < 60 chu kỳ/ phút là rung nhĩ đáp ứng thất chậm và > 110 chu kỳ/ phút là rung nhĩ đáp ứng thất nhanh. QRS thường hẹp < 0.12s, có những thay đổi khác nhau về biên độ, thời gian, dẫn truyền lệch hướng.
  • Sóng T có thể biến đổi: dẹt, đảo ngược đặc biệt khi nhịp thất quá nhanh.

Hiện nay, ESC còn khuyến cáo sử dụng các thiết bị theo dõi cá nhân: đồng hồ thông minh, thiết bị cầm tay, dán trên cơ thể,...

Ngoài ra, thăm dò thêm:
  • Trên điện tâm đồ: tìm dấu hiệu phì đại thất trái, hội chứng kích thích sớm, block nhánh, nhồi máu cơ tim và những rối loạn nhịp khác.
  • Trên siêu âm tim qua thành ngực: đánh giá bệnh van tim, kích thước các buồng tim, chức năng tâm thu và tâm trương thất trái, áp lực động mạch phổi, phì đại thất trái, huyết khối nhĩ trái và bệnh màng ngoài tim.
  • Xét nghiệm máu cần làm: chức năng gan, thận, điện giải và tuyến giáp.
Một số xét nghiệm khác cần làm thêm như:
  • Test đi bộ 6 phút: nếu như khó kiểm soát tần số.
  • Test gắng sức: hi thực hiện khi kiểm soát tần số khó khăn, xác định rung nhĩ do gắng sức, loại trừ thiếu máu cơ tim trước khi dùng thuốc chống rối loạn nhịp nhóm IC.
  • Theo dõi Holter: nếu cần chẩn đoán rối loạn nhịp hoặc giúp đánh giá kiểm soát tần số.
  • Siêu âm tim qua thực quản: giúp tìm huyết khối nhĩ trái và tiểu nhĩ trái cũng như kích thước tiểu nhĩ trái với độ chính xác cao.
  • Thăm dò điện sinh lý: giúp làm rõ cơ chế của nhịp nhanh phức bộ rộng, xác định vị trí cắt đốt.
  • Chụp X-quang ngực: giúp phát hiện bất thường của mạch máu và nhu mô phổi.

Cơ chất rung nhĩ

Cơ chất của rung nhĩ liên quan tới giãn và xơ hóa nhĩ trái, dẫn tới rối loạn chức năng nhĩ trái và gây block trong dẫn truyền xung động-cơ học tâm nhĩ. Các thăm dò hình ảnh không xâm lấn có thể cung cấp đầy đủ thông tin về bất thường cấu trúc tâm nhĩ.

Chẩn đoán hình ảnh trong Rung nhĩ:

Hình ảnh giải phẫu cho biết kích thước, hình thái và mức độ xơ hóa nhĩ trái. CLVT và CHT giúp đánh giá giãn nhĩ trái chính xác nhất. Siêu âm tim qua thành ngực 2D hoặc (tốt hơn là) 3D được sử dụng trong thăm khám thường quy. Thể tích nhĩ trái bình thường trên siêu âm tim 3D là 15-42 mL/m2 da với nam và 15-39 mL/m2 da với nữ. Cộng hưởng từ tăng tín hiệu muộn với gadolinium có thể đánh giá xơ hóa nhĩ trái trong một số báo cáo nhưng hiếm khi được ứng dụng trên lâm sàng. Các thăm dò hình ảnh chức năng bao gồm siêu âm Doppler mô (TDI) và đo sức căng. Siêu âm Doppler mô đo tốc độ cơ tim thì tâm thu và tâm trương, trong khi đó sức căng nhĩ trái phản ánh sự co bóp chủ động của tâm nhĩ. Khoảng PA-TDI phản ánh độ trễ điện học-cơ học trong tâm nhĩ (hay tổng thời gian dẫn truyền xung động trong nhĩ trái, đo từ khởi đầu sóng P trên điện tâm đồ đến thời điểm sóng A’[tốc độ đỉnh tâm nhĩ] trên TDI). Thâm nhiễm nhĩ trái bởi mỡ thượng tâm mạc có thể là một chỉ dấu viêm sớm và phát hiện được trên CLVT hoặc CHT tim. Có thể dựng được giải phẫu các tĩnh mạch phổi trước triệt đốt rung nhĩ bằng CLVT hoặc CHT tim.

Trên một số bệnh nhân, có thể sử dụng siêu âm tim qua thực quản (TOE) để đánh giá bệnh lý van tim hoặc huyết khối tiểu nhĩ trái; chụp cắt lớp vi tính giúp đánh giá hệ ĐM vành; CT/MRI não trong trường hợp khi ngờ có đột quỵ. Một số thông số có thể dự đoán nguy cơ đột quỵ: giãn nhĩ trái, âm cuộn trong nhĩ trái, giảm sức căng nhĩ trái, huyết khối tiểu nhĩ trái, giảm tốc độ đỉnh dòng máu tống khỏi tiểu nhĩ trái (< 20cm/s), tiểu nhĩ trái không có dạng “cánh gà” trên CT.

Chẩn đoán xác định

Tiêu chuẩn chẩn đoán Rung nhĩ

Cần ghi nhận được rung nhĩ trên ECG bề mặt. Theo đồng thuận, chẩn đoán rung nhĩ lâm sàng khi ghi được cơn kéo dài ≥ 30 giây.

Cần có ECG bề mặt để chẩn đoán rung nhĩ. Chẩn đoán rung nhĩ lâm sàng dựa vào một bản ghi ECG 12 chuyển đạo tiêu chuẩn, hoặc bản ghi ECG một chuyển đạo kéo dài ≥ 30 giây không có sóng P lặp lại rõ ràng và các khoảng R-R không đều (nếu vẫn còn dẫn truyền nhĩ-thất).

I
B

Chẩn đoán cơn tần số nhĩ cao (AHRE)/ Rung nhĩ dưới lâm sàng

Nhiều thiết bị cấy ghép hoặc thiết bị ghi điện tâm đồ ngoài da lưu động có khả năng phát hiện AHRE/rung nhĩ dưới lâm sàng.


Chẩn đoán AHRE/RN dưới lâm sàng (theo ESC 2020)

Khi thiết bị đeo ngoài da/cấy ghép ghi nhận được AHRE/rung nhĩ dưới lâm sàng, bác sĩ cần phân tích lại điện đồ/điện tâm đồ để loại trừ nhiễu hoặc chẩn đoán nhầm. Cơn được xác nhận khi có bằng chứng điện tâm đồ phù hợp; thông thường với ngưỡng tần số ≥ 175 lần/phút, thời gian cài đặt thường ≥ 5 phút.

ĐIỀU TRỊ

Mục tiêu điều trị rung nhĩ: nhằm cải thiện triệu chứng, phòng ngừa đột quỵ, đồng thời giảm thời gian và số lần điều trị tại bệnh viện.
Mô hình CC - ABC (xác định chẩn đoán, đánh giá gánh nặng rung nhĩ - tiến tới điều trị) (theo ESC 2020)
Mô hình CC - ABC (xác định chẩn đoán, đánh giá gánh nặng rung nhĩ - tiến tới điều trị) (theo ESC 2020)

Chiến lược điều trị: Mô hình ABC
  1. (A) Anticoagulation/ Avoid stroke (Chống đông/ tránh đột quỵ): đánh giá nguy cơ đột quỵ dựa vào thang điểm CHA2DS2-VASc và đánh giá nguy cơ chảy máu theo HAS-BLED. Lựa chọn thuốc chống đông đường uống OAC (thuốc chống đông đường uống thế hệ mới NOAC hoặc thuốc kháng vitamin K VKA).
  2. (B) Better symptom control (kiểm soát triệu chứng tốt hơn): đánh giá triệu chứng, tối ưu kiểm soát tần số, cân nhắc chiến lược kiểm soát nhịp.
  3. (C) Comorbidities/ Cardiovascular risk factor manager (quản lý bệnh kèm theo/ các yếu tố nguy cơ tim mạch): thay đổi lối sống (giảm béo phì, thể dục thường xuyên, giảm sử dụng cồn,..)
Nguyên tắc điều trị rung nhĩ:
  • Dự phòng huyết khối
  • Kiểm soát tần số
  • Chuyển rung nhĩ về nhịp xoang
  • Một số nguyên nhân gây cơn rung nhĩ chỉ cần điều trị khỏi nguyên nhân mà không cần phải điều trị rung nhĩ lâu dài như: viêm cơ tim, do thuốc,...
  • Bệnh rung nhĩ không dung nạp khi điều trị tối ưu cần được tư vấn hỗ trợ của các chuyên gia về điện sinh lý học tim để có biện pháp can thiệp tích cực hơn.

Thay đổi lối sống và kiểm soát các yếu tố nguy cơ tim mạch/ bệnh đồng mắc

  • Bỏ thuốc lá, tránh tiếp xúc khói thuốc lá
  • Chế độ ăn: hạn chế đồ uống có cồn, lượng Natri ≤ 2,4 g/ngày. Chế độ ăn nhiều trái cây, rau quả và các sản phẩm ít chất béo.
  • Luyện tập thể dục: Tập thể dục đều đặn, ít nhất 30 phút/ngày.
    Vật lý trị liệu nếu có khuyết tật do biến chứng của đột quỵ.

Giảm cân và béo phì

  • Nguy cơ RN ở bệnh nhân béo phì tiến triển dần theo chỉ số khối cơ thể (BMI). Béo phì cũng làm tăng nguy cơ nhồi máu não, huyết khối-tắc mạch và tử vong ở bệnh nhân RN.
  • Khuyến khích giảm cân tích cực và kiểm soát toàn diện yếu tố nguy cơ tim mạch giúp giảm triệu chứng và tái phát của RN trên bệnh nhân béo phì. Đạt được cân nặng lý tưởng giúp kiểm soát tốt hơn huyết áp, lipid máu và nguy cơ đái tháo đường type 2, do vậy giúp cải thiện tiên lượng tim mạch. Béo phì cũng làm tăng nguy cơ tái phát RN sau triệt đốt qua đường ống thông (ngừng thở tắc nghẽn khi ngủ có thể là tác động gián tiếp của thừa cân).

Rượu và cà phê

  • Tiêu thụ rượu bia quá mức là yếu tố nguy cơ của RN và xuất huyết khi dùng chống đông (do ảnh hưởng tới tuân thủ điều trị, chức năng gan, gây giãn TM thực quản và tăng nguy cơ chấn thương). Uống rượu quá nhiều cũng liên quan tới biến cố huyết khối-tắc mạch và tử vong. Cai rượu giúp giảm tái phát rối loạn nhịp trên bệnh nhân RN uống rượu thường xuyên.
  • Ngược lại, uống caffeine có vẻ ít có khả năng dẫn tới hoặc góp phần gây ra RN. Sử dụng cà phê đều đặn có thể giúp giảm nguy cơ RN, nhưng làm tăng triệu chứng hồi hộp không liên quan đến RN.

Vận động thể lực

  • Nhiều nghiên cứu đã chứng minh lợi ích của hoạt động thể lực/tập luyện mức độ trung bình với sức khỏe tim mạch. Tuy nhiên nguy cơ RN có vẻ cao hơn ở các vận động viên chuyên nghiệp.
  • Bệnh nhân nên được khuyến khích tham gia các hoạt động tập luyện mức độ trung bình, tập luyện đều đặn để tránh khởi phát hoặc tái phát RN. Tuy nhiên nên tránh các gắng sức quá mức kéo dài (ví dụ chạy marathon hoặc 3 môn phối hợp cự ly dài), đặc biệt với người > 50 tuổi.

Kiểm soát các yếu tố nguy cơ tim mạch/ bệnh đồng mắc

  • Tăng huyết áp
  • Suy tim
  • Bệnh động mạch vành
  • Đái tháo đường
  • Ngừng thở khi ngủ

Phòng ngừa huyết khối: Chống đông và phòng ngừa đột quỵ

  • Bước đầu tiên trong quyết định sử dụng chống đông/dự phòng đột quỵ là xác định bệnh nhân nguy cơ thấp và không cần dùng thuốc.
  • Bước hai là cân nhắc dùng chống đông đường uống ở bệnh nhân có ≥ 1 yếu tố nguy cơ đột quỵ mà yếu tố đó không phải giới tính (mức độ bằng chứng khác nhau do nhiều thử nghiệm lâm sàng tuyển bệnh nhân có ≥ 2 yếu tố nguy cơ; còn phân tích dưới nhóm/dữ liệu quan sát lấy ≥ 1 yếu tố nguy cơ).
  • Bước ba là lựa chọn loại chống đông: NOAC (thường là lựa chọn đầu tay nhờ hiệu quả tốt, an toàn, tiện lợi) hoặc VKA (với TTR > 70%).
Trong dự phòng đột quỵ trên bệnh nhân rung nhĩ bằng chống đông đường uống, ưu tiên sử dụng NOAC hơn VKA (trừ trường hợp bệnh nhân có van tim nhân tạo hoặc hẹp vừa/khít van hai lá).
Được khuyến cáo
I
A
Khuyến cáo tiếp cận dựa theo yếu tố nguy cơ khi đánh giá nguy cơ đột quỵ, sử dụng thang điểm CHA2DS2 -VASc để xác định các bệnh nhân nguy cơ thấp (0 điểm ở nam và 1 điểm ở nữ) không nên dùng các biện pháp chống huyết khối.
Được khuyến cáo
I
A
Khuyến cáo dự phòng đột quỵ bằng thuốc chống đông đường uống ở bệnh nhân RN có điểm CHA2 DS2 -VASc ≥ 2 ở nam và ≥ 3 ở nữ.
Được khuyến cáo
I
A
Cân nhắc dùng chống đông ở bệnh nhân RN có CHA2 DS2 -VASc bằng 1 ở nam hoặc bằng 2 ở nữ để dự phòng đột quỵ. Quyết định điều trị cần cá thể hóa theo tổng lợi ích lâm sàng và giá trị cũng như ưu tiên của bệnh nhân.
Nên cân nhắc dùng
IIa
B
Khuyến cáo đánh giá nguy cơ xuất huyết dựa theo thang điểm để xác định các yếu tố nguy cơ thay đổi và không thay đổi được trên mọi bệnh nhân rung nhĩ, nhằm xác định các bệnh nhân nguy cơ chảy máu cao để thăm khám sớm và thường xuyên hơn.
Được khuyến cáo
I
B
Để đánh giá nguy cơ xuất huyết bài bản dựa theo thang điểm, khuyến cáo sử dụng thang điểm HAS-BLED để xác định các yếu tố nguy cơ thay đổi được và các bệnh nhân nguy cơ chảy máu cao (HAS-BLED ≥ 3 điểm) cần phải thăm khám thường xuyên hơn.
Nên cân nhắc dùng
IIa
B
Cần đánh giá nguy cơ đột quỵ và xuất huyết định kỳ để định hướng quyết định điều trị (ví dụ khởi trị chống đông nếu bệnh nhân không còn thuộc nhóm nguy cơ thấp) và xác định các yếu tố nguy cơ xuất huyết thay đổi được.
Được khuyến cáo
I
B
Ở bệnh nhân RN có nguy cơ đột quỵ ban đầu thấp, nên đánh giá lại nguy cơ đột quỵ sau 4-6 tháng.
Nên cân nhắc dùng
IIa
B
Đích INR là 2,0 – 3,0 nếu sử dụng VKA, với thời gian trong khoảng điều trị (TTR) ≥ 70%.
Được khuyến cáo
I
B
Ở bệnh nhân dùng VKA mà TTR < 70%, khuyến cáo: chuyển sang NOAC nhưng cần đảm bảo tuân thủ và duy trì điều trị.
Được khuyến cáo
I
B
Ở bệnh nhân dùng VKA mà TTR < 70%, khuyến cáo: thực hiện các biện pháp cải thiện TTR (ví dụ giáo dục/tư vấn, xét nghiệm INR thường xuyên hơn).
Nên cân nhắc dùng
IIa
B
Không khuyến khích dùng kháng tiểu cầu đơn thuần (aspirin đơn trị liệu hoặc kết hợp với clopidogrel) để dự phòng đột quỵ trên bệnh nhân RN.
Không khuyến cáo
III
A
Nếu không có chống chỉ định tuyệt đối cho triệt đốt với chống đông đường uống, không nên dùng nguy cơ xuất huyết ước tính để định hướng quyết định điều trị chống đông trong dự phòng đột quỵ.
Không khuyến cáo
III
A
Hình thái lâm sàng của RN (phát hiện lần đầu, kịch phát, dai dẳng, dai dẳng kéo dài, vĩnh viễn) không nên ảnh hưởng tới chỉ định dự phòng huyết khối.
Không khuyến cáo
III
B

Đánh giá nguy cơ đột quỵ

Nhìn chung rung nhĩ làm tăng nguy cơ đột quỵ gấp 5 lần, tuy nhiên con số thực tế còn phụ thuộc vào các yếu tố nguy cơ cụ thể. Thang điểm CHA2DS2-VASc được khuyến cáo để đánh giá nguy cơ đột quỵ, tắc mạch ở bệnh nhân rung nhĩ.
Đối với Rung nhĩ trên bệnh nhân có bệnh van tim bao gồm: sử dụng van tim nhân tạo, phẫu thuật sửa van, hẹp van hai lá mức độ vừa đến nặng bắt buộc phải dự phòng huyết khối bằng thuốc kháng Vitamin K (Warfarin, Sintrom, Tecarfarin) với INR cần đạt trong hầu hết các trường hợp là 2.0 – 3.0 (đối với van 2 lá cơ học, mục tiêu INR là 2.5-3.5). Đối với BN rung nhĩ không có bệnh van tim, chiến lược dự phòng huyết khối dựa trên các hệ thống phân tầng nguy cơ như sau:
- Nguy cơ thuyên tắc đột quỵ: Thang điểm CHA2DS2 -VASc tiến hành điều trị kháng đông:
  • Nữ ≥ 3 điểm (Khuyến cáo loại IA) và Nam ≥ 2 điểm (Khuyến cáo loại IA)
  • Hoặc
    Nam=1 điểm (Khuyến cáo loại IIa - cân nhắc) và Nữ= 2 điểm (Khuyến cáo loại IIa - cân nhắc).
Ở những bệnh nhân AF lần đầu có nguy cơ đột quỵ thấp, nên đánh giá lại nguy cơ đột quỵ đầu tiên sau 4 - 6 tháng.
- Sử dụng thuốc chống đông:
  • Sử dụng các thuốc kháng vitamin K (INR từ 2.0-3.0 hoặc cao hơn) để dự phòng đột quỵ ở các bệnh nhân rung nhĩ có sử dụng van tim nhân tạo hoặc có hẹp van hai lá mức trung bình và nặng.
  • Khi lựa chọn sử dụng các thuốc chống đông đường uống, nên lựa chọn thuốc chống đông thế hệ mới (Dabigatran, Rivaroxaban, Apixaban, Edoxaban) thay vì thuốc kháng vitamin K nếu thích hợp.
  • Khi bệnh nhân được sử dụng thuốc kháng vitamin K, khoảng đạt liều điều trị cần được giữ ở mức cao nhất có thể và cần được theo dõi chặt chẽ.

Đánh giá nguy cơ chảy máu

Cần đánh giá nguy cơ xuất huyết khi bắt đầu sử dụng các thuốc chống đông. Cùng với các yếu tố nguy cơ thay đổi được, các yếu tố không thay đổi được/thay đổi được một phần có vai trò quan trọng dẫn đến biến cố xuất huyết. Sử dụng Thang điểm HAS-BLED để đánh giá chuẩn về nguy cơ chảy máu. Thang điểm HAS-BLED nên được xem xét để giúp giải quyết các yếu tố nguy cơ có thể cải thiện và xác định những bệnh nhân có nguy cơ chảy máu cao (điểm HASBLED ≥ 3) để xem xét và theo dõi lâm sàng sớm và thường xuyên hơn.

Chống đông kháng vitamin K (VKA)

  • So với nhóm chứng hoặc giả dược, chống đông đường uống kháng vitamin K (VKA, đa số là warfarin) giúp giảm nguy cơ đột quỵ 64% và tử vong 26%. Nhóm thuốc này vẫn được sử dụng ở nhiều bệnh nhân Rung nhĩ trên toàn thế giới. Hiện nay VKA vẫn là biện pháp chống đông duy nhất chứng minh an toàn ở bệnh nhân có bệnh van hai lá do thấp và/hoặc van tim nhân tạo.
  • Warfarin là loại thuốc chống đông kháng Vitamin K phổ biến nhất trên thế giới, tuy nhiên ở Việt Nam không phổ biến loại thuốc này trên thị trường. Acenocoumarol, hay được biết đến với tên thương mại Sintrom là loại thuốc chống đông đường uống kháng Vitamin K phổ biến nhất ở Việt Nam.
  • Đánh giá hiệu quả điều trị của VKA bằng xét nghiệm INR. Mục tiêu INR trong hầu hết các trường hợp rung nhĩ đang điều trị VKA là từ 2,0 – 3,0. Đối với van hai lá cơ học, mục tiêu INR là 2,5 – 3,5. Khi xét nghiệm INR 2 lần liên tiếp, cách nhau 3 ngày, INR trong khoảng mục tiêu cần đạt có thể coi đã đạt được “sự ổn định” của liều chống đông và có thể cho bệnh nhân ra viện (nếu đang nằm nội trú) hoặc quyết định tần suất xét nghiệm thưa hơn. Đối với các bệnh nhân đã xác định được liều VKA “ổn định”, có thể xét nghiệm INR theo dõi định kỳ với tần suất 4 tuần/lần.
Xem thêm: Khởi đầu và chỉnh liều thuốc chống đông kháng vitamin K (VKA) ở người lớn.

Chống đông đường uống không kháng vitamin K (NOAC)

  • Trong bốn nghiên cứu bản lề, apixaban, dabigatran, edoxaban và rivaroxaban cho thấy không kém hơn warfarin về vai trò dự phòng đột quỵ/tắc mạch hệ thống. Một phân tích gộp 4 nghiên cứu này cho thấy NOAC giảm nguy cơ đột quỵ/tắc mạch tới 19% (có ý nghĩa thống kê), giảm nguy cơ xuất huyết não 51%. Nguy cơ dự phòng tắc mạch não tương đương so với VKA, tuy nhiên NOAC làm giảm 10% tử vong do mọi nguyên nhân. Tỷ lệ xuất huyết nặng ở NOAC thấp hơn 14% nhưng khác biệt không có ý nghĩa thống kê. Tuy nhiên, các nghiên cứu cũng ghi nhận tỷ lệ xuất huyết tiêu hóa cao hơn 25% so với warfarin.
  • Nguy cơ tương đối của xuất huyết nặng ở NOAC thấp hơn đáng kể nếu khi dùng warfarin với INR kiểm soát kém (TTR < 66%). Phân tích tổng hợp từ năm thử nghiệm RELY, ROCKET-AF, J-ROCKET AF, ARISTOTLE, ENGAGE AF TIMI 48 cho thấy so với warfarin, NOAC liều tiêu chuẩn trên bệnh nhân châu Á tỏ ra an toàn và hiệu quả hơn so với bệnh nhân chủng tộc khác.
  • Dữ liệu quan sát sau thương mại hóa của dabigatran, rivaroxaban, edoxaban, apixaban so với warfarin cho kết quả tương đồng với các thử nghiệm ngẫu nhiên pha III. Với những bằng chứng rõ ràng như vậy, bệnh nhân RN cần được lựa chọn NOAC để dự phòng đột quỵ/tắc mạch.
  • Tỷ lệ duy trì điều trị NOAC nhìn chung cao hơn VKA, do đặc điểm dược lực học ưu thế hơn, hiệu quả và an toàn tốt hơn, đặc biệt trên những bệnh nhân dễ tổn thương như người cao tuổi, suy thận, có tiền sử đột quỵ, .v.v.. Mặc dù bệnh nhân suy thận giai đoạn cuối bị loại khỏi các thử nghiệm pha III, có thể sử dụng apixaban, rivaroxaban, edoxaban trên bệnh nhân suy thận nặng (mức lọc cầu thận 15-30 mL/phút tính bằng phương trình Cockcroft-Gault) sau khi chỉnh giảm liều phù hợp. Trên thực tế, NOAC có xu hướng bị giảm liều không đúng chỉ định dẫn tới tăng nguy cơ đột quỵ/tắc mạch, nhập viện, tử vong trong khi việc giảm liều này không giúp giảm nguy cơ xuất huyết. Do vậy phác đồ NOAC cần được tối ưu dựa theo hiệu quả và tính an toàn của từng loại thuốc trên từng nhóm bệnh nhân khác nhau.

Tiêu chuẩn chọn liều cho NOAC
Liều Dabigatran Rivaroxaban Apixaban Edoxaban
Tiêu chuẩn 150mg x 2 lần/ngày 20mg x 1 lần/ngày 5mg x 2 lần/ngày 60 mg x 1 lần/ngày
Thấp 110mg x 2 lần/ngày
Giảm 15mg x 1 lần/ngày 2.5mg x 2 lần/ngày 30mg x 1 lần/ngày
Tiêu chuẩn giảm liều 110mg x 2 lần/ngày với bệnh nhân: tuổi ≥ 80, đang dùng Verapamil, hoặc nguy cơ xuất huyết cao CrCl: 15-49 mL/phút Ít nhất 2 trong 3 tiêu chuẩn: tuổi ≥ 80, cân nặng ≤ 60kg, hoặc Creatinine máu ≥ 1.5 mg/dL(133µmol/L) Nếu có bất kỳ tiêu chuẩn: CrCl: 15-50 mL/phút, cân nặng ≤ 60kg, đang dùng Dronedarone, cyclosporine, erythromycin, hoặc ketoconazole.
CrCl: mức lọc cầu thận(độ thanh thải Creatinine).

Chống chỉ định với chống đông đường uống, bao gồm: xuất huyết nặng đang tiến triển (cần xác định và xử trí điểm chảy máu), các bệnh lý liên quan (ví dụ giảm tiểu cầu nặng < 50 tiểu cầu/µL, thiếu máu nặng đang làm chẩn đoán), biến cố xuất huyết nặng vừa xảy ra (ví dụ xuất huyết não). Có thể cân nhắc những biện pháp phòng đột quỵ không dùng thuốc trên các bệnh nhân này.
  • Dabigatran là thuốc ức chế trực tiếp Thrombin. Liều dùng 150 mg x 2 lần/ngày hoặc 110 mg x 2 lần/ngày (theo tiêu chuẩn giảm liều). Ở bệnh nhân có CrCl 15-30 ml/phút, liều khuyến cáo 75 mg x 2 lần/ngày. Không sử dụng Dabigatran ở bệnh nhân có mức lọc cầu thận < 15 ml/phút (một số chuyên gia cho rằng chống chỉ định ở bệnh nhân có CrCl ≤ 30 mL/phút).
  • Rivaroxaban là thuốc chống đông đường uống thế hệ mới thứ 2 thông qua cơ chế ức chế trực tiếp yếu tố Xa. Thuốc nên được dùng một liều duy nhất trong ngày vào bữa tối để đảm bảo hấp thu một cách tốt nhất. Thuốc được thải trừ chủ yếu qua thận. Liều dùng 20 mg x 1 lần/ngày, giảm liều còn 15 mg x 1 lần/ngày đối với bệnh nhân có CrCl 15-49 ml/phút. Không sử dụng Rivoraxaban trên bệnh nhân có CrCl < 15 ml/phút.
  • Apixaban là thuốc chống đông đường uống thế hệ mới thứ 3 thông qua cơ chế ức chế trực tiếp yếu tố Xa. Thuốc thải trừ chủ yếu qua gan và chủ yếu gắn với Protein. Liều dùng 5mg x 2 lần/ngày, giảm liều còn 2.5 mg x 2 lần/ngày với các trường hợp bệnh nhân cao tuổi ≥ 80 tuổi hoặc cân nặng ≤ 60 kg hoặc CrCl 15 – 49 ml/phút. Không dùng Apixaban trên bệnh nhân có CrCl < 15 ml/phút.
Với bệnh nhân không thể sử dụng thuốc kháng đông (suy gan, suy thận nặng, quá cao tuổi không tự chủ được ý thức,..): Bít tiểu nhĩ trái bằng dụng cụ

Cải thiện triệu chứng

Tần số thất lúc nghỉ đạt mục tiêu:
  • Chuyển nhịp và duy trì nhịp xoang: 60-100 lần/phút lúc nghỉ
  • Giảm các triệu chứng: đánh trống ngực; khó thở; chóng mặt; đau ngực; mệt mỏi; yếu, không thể tập thể dục

Kiểm soát tần số đáp ứng thất

Kiểm soát tần số thất trong rung nhĩ làm cải thiện triệu chứng lâm sàng và phòng nguy cơ suy tim do nhịp tim quá nhanh. Tất cả các bệnh nhân có chiến lược chuyển về nhịp xoang cũng cần được kiểm soát tần số thất trước. Tần số thất tối ưu trong RN vẫn chưa rõ ràng. Trong thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên RACE II với bệnh nhân RN vĩnh viễn, không có khác biệt về kết cục lâm sàng tổng hợp (gồm mức độ NYHA hoặc nhập viện) giữa nhóm kiểm soát tần số chặt chẽ (tần số tim < 80 lần/phút khi nghỉ và < 110 lần/phút khi vận động mức độ trung bình) và nhóm kiểm soát không quá chặt chẽ (tần số tim < 110 lần/phút). Kiểm soát tần số thất cũng phụ thuộc vào tuổi bệnh nhân, nhưng thông thường đảm bảo khoảng 60 - 80 chu kỳ/ phút khi nghỉ ngơi và 90 - 115 chu kỳ/ phút khi gắng sức.
Lựa chọn điều trị ban đầu và phối hợp thuốc khi cần, mục tiêu nhịp tim lúc nghỉ < 110 lần/phút, tránh nhịp chậm.
AF = rung nhĩ; AFL = cuồng nhĩ; COPD = bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính; CRT-D = máy khử rung tim liệu pháp tái đồng bộ; CRT-P = máy tạo nhịp điều trị tái đồng bộ tim; HFpEF = suy tim với phân suất tống máu được bảo tồn; HFrEF = suy tim với giảm phân suất tống máu; NDCC = Thuốc chẹn kênh canxi Non-dihydropyridine.
(a) Đánh giá lại lâm sàng nên tập trung vào đánh giá nhịp tim lúc nghỉ, các triệu chứng liên quan đến AF / AFL và chất lượng cuộc sống. Trong trường hợp kiểm soát nhịp dưới mức tối ưu (nhịp tim lúc nghỉ > 110 nhịp / phút), các triệu chứng hoặc chất lượng cuộc sống xấu đi, hãy cân nhắc lựa chọn phương pháp điều trị thứ 2 và nếu cần.
(b) Thăm dò cẩn thận thuốc chẹn beta và NDCC, Holter 24 giờ để kiểm tra nhịp tim chậm.
  • Thuốc chẹn beta, digoxin, diltiazem và verapamil được khuyến cáo để kiểm soát tần số thất ở bệnh nhân rung nhĩ có LVEF ≥ 40 %. Theo điều trị để đạt tần số mục tiêu hoặc khi vẫn còn triệu chứng.
  • Thuốc chẹn beta và/hoặc digoxin được khuyến cáo để kiểm soát tần số thất ở bệnh nhân rung nhĩ có LVEF < 40%. Xem xét phối hợp liều thấp sớm.
  • Cân nhắc phối hợp thuốc nếu điều trị một thuốc không đạt nhịp tim mục tiêu.
Chẹn beta giao cảm, verapamil và diltiazem là lựa chọn đầu tay để kiểm soát tần số thất trên bệnh nhân RN có EF ≥ 40%
Được khuyến cáo
I
B
Khuyến cáo dùng chẹn beta và/hoặc digoxin để kiểm soát tần số trên bệnh nhân RN có EF < 40%
Được khuyến cáo
I
B
Cân nhắc phối hợp các thuốc kiểm soát tần số thất (1) nếu không đạt được tần số tim mục tiêu với một thuốc
Nên cân nhắc dùng
IIa
B
(1) Cần theo dõi kỹ tần số tim trên Holter điện tim 24 giờ để phát hiện nhịp chậm khi phối hợp chẹn beta và verapamil hoặc diltiazem.
Cân nhắc mục tiêu ban đầu trong kiểm soát tần số là tần số thất lúc nghỉ < 110 lần/phút (chiến lược kiểm soát lỏng lẻo)
Nên cân nhắc dùng
IIa
B
Cân nhắc triệt đốt nút nhĩ-thất để kiểm soát tần số trên bệnh nhân không đáp ứng/không dung nạp với các biện pháp kiểm soát tần số và kiểm soát nhịp tích cực, không phù hợp để kiểm soát nhịp bằng triệt đốt nhĩ trái, và chấp nhận bệnh nhân sẽ phải phụ thuộc máy tạo nhịp.
Nên cân nhắc dùng
IIa
B
Có thể cân nhắc truyền amiodarone tĩnh mạch để kiểm soát tần số tim cấp tính trên bệnh nhân rối loạn huyết động hoặc giảm EF nặng
Có thể cân nhắc
IIb
B
  • Có thể sử dụng chẹn beta, digoxin, diltiazem, verapamil hoặc phối hợp thuốc để kiểm soát tần số thất. Một số thuốc chống loạn nhịp (AAD) cũng có khả năng hạn chế tần số thất (ví dụ amiodarone, dronedarone, sotalol), tuy nhiên nên dành những thuốc này để kiểm soát nhịp. Lựa chọn thuốc kiểm soát tần số phụ thuộc vào triệu chứng, bệnh đồng mắc và các tác dụng không mong muốn có thể gặp.
  • Chẹn beta giao cảm thường là lựa chọn đầu tay để kiểm soát tần số thất, chủ yếu do tác dụng giảm tần số cấp tính tốt. Đáng chú ý là vẫn chưa rõ liệu hiệu quả cải thiện tiên lượng của chẹn beta trên bệnh nhân suy tim EF giảm ở bệnh nhân Rung nhĩ có tương tự như ở bệnh nhân nhịp xoang hay không.
  • Thuốc chẹn kênh calci nhóm non-dihydropyridine (NDCC): verapamil và diltiazem có thể kiểm soát tần số ở mức chấp nhận được và cải thiện triệu chứng liên quan Rung nhĩ khi so sánh với chẹn beta.
  • Digoxin và digitoxin không hiệu quả trên bệnh nhân có tăng trương lực giao cảm. Digoxin liều thấp có thể cải thiện tiên lượng.
  • Amiodarone là lựa chọn cuối cùng để kiểm soát tần số khi phối hợp các thuốc khác thất bại, đồng thời bệnh nhân không phù hợp để kiểm soát tần số bằng biện pháp can thiệp (đốt nút nhĩ-thất + cấy máy tạo nhịp) và chấp nhận tác dụng không mong muốn của thuốc.
Các thuốc kiểm soát tần số thất (1)
Liều truyền tĩnh mạch Liều duy trì đường uống Chống chỉ định
Chẹn beta giao cảm (2)
Metoprolol tartrate Bolus 2,5 – 5 mg TTM; tối đa 4 liều 25 - 100mg x 2 lần/ngày Sử dụng chẹn beta chọn lọc β1 ở bệnh nhân hen. Chống chỉ định ở suy tim cấp và bệnh nhân có tiền sử co thắt phế quản nghiêm trọng
Metoprolol XL (succinate) N/A 50 - 400mg x 1 lần/ngày
Bisoprolo N/A 1.25 - 20 mg x 1 lần/ngày
Atenolol (3) N/A 25 - 100 mg x 1 lần/ngày
Esmolol Bolus 500 µg/kg TTM trong một phút, sau đó duy trì 50-300 µg/ kg/phút N/A
Landiolol Bolus 100 µg/kg TTM trong một phút, sau đó duy trì 10-40 µg/kg/ phút; ở bệnh nhân suy tim 1-10 µg/kg/phút N/A
Nebivolol N/A 2,5-10 mg x 1 lần/ngày
Carvedilol N/A 3,125-50 mg x 2 lần/ngày
Chẹn kênh calci nhóm non-dihydropyridine
Verapamil Bolus 2,5-10 mg TTM trong 5 phút 40 mg x 2 lần/ngày tới 480 mg (dạng phóng thích chậm) Chống chỉ định trong suy tim EF giảm. Chỉnh liều nếu bệnh nhân suy gan/thận
Diltiazem Bolus 0,25 mg/kg TTM trong 5 phút, sau đó duy trì 5-15 mg/h 60 mg x 3 lần/ngày tới 360 mg (dạng phóng thích chậm)
Digitalis glycoside
Digoxin Bolus 0.5 mg TTM (0,75 – 1,5 mg trong 24 giờ chia làm nhiều liều) 0,0625 – 0,25 mg x 1 lần/ ngày Nồng độ trong máu cao liên quan tới tăng tỷ lệ tử vong. Kiểm tra chức năng thận trước khi dùng thuốc và chỉnh liều trên bệnh nhân suy thận mạn.
Digitoxin 0,4 – 0,6 mg 0,05 – 0,1 mg x 1 lần/ngày Nồng độ trong máu cao liên quan tới tăng tỷ lệ tử vong.
Các thuốc khác
Amiodarone 300 mg TTM (pha với 250 mL Glucose 5%) truyền trong 30-60 phút (tốt nhất qua đường tĩnh mạch trung tâm), sau đó 900-1200 mg TTM trong 24 giờ (pha loãng 500-1000 mL, truyền qua tĩnh mạch trung tâm) 200 mg x 1 lần/ngày. sau khi nạp 3 x 200 mg trong 4 tuần, sau đó 200 mg mỗi ngày (4) (giảm liều các thuốc kiểm soát tần số khác theo tần số tim) Chỉ dùng khi không còn lựa chọn nào khác trên bệnh nhân có bệnh tuyến giáp

  • (1) Tất cả các thuốc kiểm soát tần số đều chống chỉ định trong hội chứng Wolff-Parkinson-White, kể cả aminodarone truyền tĩnh mạch.
  • (2) Các loại chẹn beta khác không được liệt kê vì không được khuyến cáo dùng trong kiểm soát tần số Rung nhĩ (ví dụ propranolol hay labetalol).
  • (3) Không có dữ liệu cho atenolol, không nên dùng trên bệnh nhân suy tim EF giảm.
  • (4) Có thể có nhiều phác đồ liều nạp, nên cân nhắc liều truyền đường tĩnh mạch khi tính toán tổng liều nạp.
Kiểm soát tần số trong tình huống cấp cứu:
  • Ở tình huống cấp cứu, luôn phải tìm các nguyên nhân gây tăng nhịp tim như nhiễm khuẩn hoặc thiếu máu.
  • Ưu tiên lựa chọn chẹn beta, diltiazem hoặc verapamil hơn là digoxin vì tác dụng nhanh và hiệu quả khi trương lực giao cảm cao.
  • Loại thuốc và tần số tim đích phụ thuộc vào đặc điểm bệnh nhân, triệu chứng, EF thất trái, huyết động; tuy nhiên kiểm soát tần số vừa phải thường vẫn chấp nhận được. Có thể phải phối hợp các thuốc với nhau.
  • Trên bệnh nhân suy tim EF giảm, nên sử dụng chẹn beta, digitalis hoặc phối hợp 2 nhóm này.
  • Có thể truyền amiodarone tĩnh mạch ở bệnh nhân tình trạng bệnh nặng hoặc chức năng tâm thu thất trái giảm nặng.
  • Ở bệnh nhân huyết động không ổn định cần cân nhắc chuyển nhịp cấp cứu.

Đốt nút nhĩ thất và cấy máy tạo nhịp:
  • Triệt đốt nút nhĩ thất và cấy máy tạo nhịp có thể giúp kiểm soát tần số thất khi dùng thuốc thất bại.
  • Thủ thuật tương đối an toàn và có tỷ lệ biến chứng lẫn tỷ lệ tử vong lâu dài thấp, đặc biệt nếu máy tạo nhịp được cấy trước khi đốt nút một vài tuần và tần số tạo nhịp ban đầu sau đốt cài đặt ở 70-90 lần/phút. Thủ thuật không làm giảm chức năng thất trái, thậm chí còn cải thiện EF trên một số bệnh nhân.
  • Đa số nghiên cứu tuyển chọn những bệnh nhân cao tuổi có kỳ vọng sống hạn chế. Trên bệnh nhân trẻ, chỉ nên cân nhắc đốt nút nhĩ-thất nếu cần kiểm soát tần số sớm và xem xét kỹ các biện pháp dùng thuốc lẫn không dùng thuốc khác.
  • Phương pháp tạo nhịp (tạo nhịp thất phải hoặc tạo nhịp hai buồng thất) phụ thuộc vào đặc điểm bệnh nhân.
  • Tạo nhịp bó His hoặc nhánh trái bó His sau đốt nút nhĩ-thất là phương án hứa hẹn và đang được đánh giá trong một số nghiên cứu.
  • Trên bệnh nhân Rung nhĩ vĩnh viễn có triệu chứng nặng và có ít nhất 1 lần nhập viện do suy tim, triệt đốt nút nhĩ-thất kèm cấy máy tái đồng bộ tim (CRT) có thể được ưu tiên.

Chuyển nhịp và duy trì nhịp xoang

Kiểm soát nhịp là chiến lược cố gắng phục hồi và duy trì nhịp xoang, có thể phối hợp nhiều phương pháp bao gồm: sốc điện chuyển nhịp, dùng thuốc chống loạn nhịp, triệt đốt qua đường ống thông. Chiến lược kiểm soát nhịp được thực hiện song song với kiểm soát tần số, dự phòng đột quỵ và dự phòng toàn diện các bệnh lý tim mạch (điều trị nguyên nhân, bao gồm thay đổi lối sống và kiểm soát ngừng thở khi ngủ).
Chỉ định chính của kiểm soát nhịp là giảm triệu chứng liên quan đến Rung nhĩ và cải thiện chất lượng cuộc sống. Trong trường hợp còn phân vân, có thể thử chuyển nhịp xoang rồi đánh giá đáp ứng của bệnh nhân. Cần cân nhắc các yếu tố ủng hộ chiến lược kiểm soát nhịp.

Chiến lược kiểm soát nhịp. LAVI: chỉ số thể tích nhĩ trái, PVI: cô lập TM phổi.
(a) Cân nhắc chuyển nhịp xoang để đánh giá trường hợp bệnh nhân đã thích nghi với giảm khả năng gắng sức/lao động trí óc với rung nhĩ hay không.
Chiến lược kiểm soát nhịp dùng để chỉ các phương pháp điều trị nhằm phục hồi và duy trì nhịp xoang. Chiến lược này có thể là sự phối hợp của nhiều phương pháp:
  • Chuyển nhịp
  • Điều trị thuốc chống loạn nhịp
  • Cắt đốt điện sinh lý
  • Điều trị phòng ngừa

Chuyển nhịp
Chuyển nhịp cấp cứu hoặc có chọn lọc:
  • Chuyển nhịp cấp cứu chỉ định trên bệnh nhân rung nhĩ có huyết động không ổn định, thường sử dụng shock điện chuyển nhịp đồng bộ. Chuyển nhịp có chuẩn bị là tình huống chuyển nhịp có thể lên kế hoạch để tiến hành sau nhiều giờ.
  • Huyết khối nhĩ trái là chống chỉ định của chuyển nhịp có chuẩn bị. Cần đánh giá nguy cơ huyết khối/tắc mạch quanh thủ thuật và duy trì chống đông đường uống bất kể phương pháp chuyển nhịp (bằng thuốc hay shock điện).
Lược đồ về quyết định chuyển nhịp RN tùy thuộc lâm sàng, thời điểm khởi phát, tình trạng chống đông và các yếu tố nguy cơ đột quỵ
Shock điện chuyển nhịp:
  • Có thể tiến hành shock điện chuyển nhịp an toàn trên bệnh nhân được an thần(tiền mê) với midazolam và/hoặc propofol hoặc etomidate. Trong những trường hợp khẩn cấp như đáp ứng thất quá nhanh, rối loạn huyết động(tụt huyết áp), chuyển nhịp bằng sốc điện được ưu tiên.
  • Máy shock điện 2 pha hiệu quả hơn 1 pha trong chuyển nhịp rung nhĩ và nên được dùng thường quy.
  • Chọn chế độ shock điện đồng bộ(nhận cảm sóng R) có hiệu quả hơn chuyển nhịp bằng thuốc đơn thuần. Có thể chọn mức năng lượng khởi đầu 100 Joules và có thể tăng dần tới 150-200 Joules (có thể bắt đầu từ liều 150 J, để tránh sốc điện nhiều lần) nếu lần shock đầu thất bại và kết hợp với dùng thuốc chống loạn nhịp.
  • Cần theo dõi huyết áp và SpO2 trong lúc làm thủ thuật.
  • Bỏng da là biến chứng ít gặp.
  • Cần chuẩn bị sẵn atropine, isoproterenol hoặc tạo nhịp tạm thời qua da phòng trường hợp nhịp chậm sau shock.
  • Một số dữ liệu thấy rằng bản cực shock đặt ở vị trí trước-sau giúp khôi phục nhịp xoang hiệu quả hơn. Tuy nhiên, một số nghiên cứu khác cho thấy các vị trí đặt bản cực shock khác nhau không quá ảnh hưởng đến hiệu quả của phát shock.
Chuyển nhịp bằng thuốc (bao gồm “thuốc bỏ túi”):
  • Chuyển nhịp có chuẩn bị bằng thuốc được chỉ định trên bệnh nhân huyết động ổn định. Hiệu quả thực sự của biện pháp này có thể bị nhiễu bởi 76-83% bệnh nhân nhập viện do RN mới khởi phát thường tự về nhịp xoang trong vòng 48 giờ (10-18% trong vòng 3 giờ, 55-66% trong 24 giờ, 69% trong 48 giờ).
  • Do vậy, chiến lược “chờ đợi và quan sát” (thường trong vòng < 24 giờ) có thể cân nhắc trên bệnh nhân mới xuất hiện rung nhĩ vì không kém hơn chuyển nhịp sớm.
  • Lựa chọn thuốc chuyển nhịp phụ thuộc vào chẩn đoán và mức độ bệnh tim mạch kèm theo, chuyển nhịp bằng thuốc thường hiệu quả hơn với RN mới xuất hiện.
  • Các thuốc được khuyến cáo sử dụng ở bệnh nhân rung nhĩ để duy trì nhịp xoang bao gồm: amiodaron, dofetilide, dronedaron, flecanid, propafenon và sotalol. Hạn chế lớn nhất khi chuyển nhịp bằng thuốc là có nguy cơ xoắn đỉnh do tác dụng phụ của thuốc chống loạn nhịp.
  • Nguy cơ huyết khối không có sự khác nhau giữa chuyển nhịp bằng thuốc và bằng sốc điện.
  • Có thể sử dụng kết hợp sốc điện với thuốc để chuyển nhịp tăng tỷ lệ thành công.
  • Theo dõi điện tâm đồ liên tục ít nhất 4 giờ sau khi chuyển nhịp.
  • Dronedarone phòng tái phát rung nhĩ.
Các thuốc chống loạn nhịp dùng để phục hồi nhịp xoang (chuyển nhịp bằng thuốc)
Thuốc Đường dùng Liều chuyển nhịp khởi đầu Liều chuyển nhịp tiếp theo Tỷ lệ thành công ngắn hạn và thời gian tới khi có nhịp xoang Chống chỉ định/thận trọng/chú ý
Flecainide (1) Uống (2) Truyền TM 200-300 mg
2 mg/kg trong 10 phút
- 59-78% (51% sau 3h, 72% sau 8h) Không nên dùng trên bệnh nhân thiếu máu cơ tim và/hoặc bệnh tim cấu trúc nặng
Propafenone (1) Uống (2) Truyền TM 450-600 mg
1,5 – 2 mg/ kg trong 10 phút
- Uống: 45-55% sau 3h, 69-78% sau 8h;
Truyền TM: 43-89%, sau tối đa 6h.
Có thể gây tụt huyết áp, xuất hiện cuồng nhĩ dẫn truyền 1:1 ở 3,5 – 5,0% bệnh nhân. Flecainide có thể làm QRS giãn nhẹ KHÔNG dùng để chuyển nhịp cuồng nhĩ.
Vernakalant (3) Truyền TM 3 mg/kg trong 10 phút 2 mg/kg trong 10 phút (sau liều đầu 10-15 phút) < 1 h (50% chuyển nhịp trong vòng 10 phút). Không dùng trên bệnh nhân tụt huyết áp (HA tâm thu < 100 mmHg), mới mắc hội chứng vành cấp (trong vòng 1 tháng), suy tim NYHA III-IV, QT dài, hẹp chủ khít. Có thể gây tụt áp, kéo dài đoạn QT, là QRS giãn rộng, gây tim nhanh thất không dai dẳng.
Amiodarone Truyền TM 5 – 7 mg/ kg trong 1-2 giờ 50 mg/kg (tối đa 1,2g trong 24h) 44% (Sau 8-12h hoặc vài ngày) Có thể gây viêm tĩnh mạch (nên truyền ở mạch ngoại vi lớn, tránh truyền liên tục quá 24h, nên dùng bơm duy trì tốc độ). Có thể gây tụt áp, nhịp chậm/block nhĩ-thất, kéo dài đoạn QT Nguy cơ nhiễm độc giáp → Chỉ dùng ở bệnh nhân có bệnh tuyến giáp khi không còn lựa chọn khác.
Ibutilide (3) Truyền TM 1 mg trong 10 phút 0,01 mg/kg nếu cân nặng < 60 kg 1 mg trong 10 phút (sau liều đầu 10-20 phút) 31-51% (rung nhĩ) 63-73% (Cuồng nhĩ) Sau ~1h Hiệu quả trong chuyển nhịp cuồng nhĩ. Không nên dùng trên bệnh nhân có QT dài, phì đại thất trái nặng, suy tim EF thấp. Nên dùng ở đơn vị chăm sóc tim mạch do có thể gây QT dài, nhanh thất đa hình thái (xoắn đỉnh). Theo dõi điện tâm đồ sau dùng thuốc ít nhất 4 giờ để phát hiện biến cố rối loạn nhịp.
(1) Thuốc chuyển nhịp RN phổ biến nhất, sẵn có ở hầu hết quốc gia.
(2) Có thể để bệnh nhân tự dùng trong chiến lược “thuốc bỏ túi”.
(3) Không sẵn có ở nhiều quốc gia.

Mục tiêu theo dõi sau chuyển nhịp RN
  • Phát hiện sớm RN tái phát bằng cách ghi điện tâm đồ sau chuyển nhịp
  • Đánh giá hiệu quả của kiểm soát nhịp thông qua đánh giá triệu chứng
  • Đánh giá nguy cơ rối loạn nhịp bằng cách kiểm tra thường xuyên khoảng PR, QRS, QTc ở bệnh nhân dùng thuốc chống rối loạn nhịp nhóm I hoặc III
  • Đánh giá sự cân bằng giữa triệu chứng và tác dụng không mong muốn của biện pháp điều trị, cân nhắc tới chất lượng sống và mức độ triệu chứng
  • Đánh giá các bệnh đồng mắc liên quan đến RN và tác dụng không mong muốn của thuốc chống RL nhịp lên bệnh tim mạch đồng mắc và chức năng thất trái.
  • Tối ưu hóa các điều kiện để duy trì nhịp xoang, bao gồm kiểm soát các yếu tố nguy cơ tim mạch (kiểm soát huyết áp, điều trị suy tim, tăng sức khỏe tim-phổi và các biện pháp khác).
Khuyến cáo lựa chọn kiểm soát nhịp để cải thiện triệu chứng và chất lượng cuộc sống của bệnh nhân RN có triệu chứng lâm sàng.
Được khuyến cáo
I
A
Để chuyển nhịp bằng thuốc với RN mới xuất hiện, khuyến cáo truyền TM vernakalant (chống chỉ định với bệnh nhân suy tim nặng hoặc vừa có hội chứng vành cấp), hoặc flecainide, hoặc propafenone (chống chỉ định với bệnh tim cấu trúc nặng).
Được khuyến cáo
I
A
Amiodarone truyền TM được dùng để chuyển nhịp trên bệnh nhân RN có suy tim hoặc bệnh tim cấu trúc, nếu bệnh nhân không cần chuyển nhịp gấp.
Được khuyến cáo
I
A
Chuyển nhịp RN (bằng thuốc hay shock điện) được khuyến cáo trên bệnh nhân RN dai dẳng có triệu chứng như một phần của chiến lược kiểm soát nhịp
Được khuyến cáo
I
B
Chuyển nhịp bằng thuốc thực hiện trên bệnh nhân RN có huyết động ổn định, sau khi đánh giá nguy cơ huyết khối-tắc mạch
Được khuyến cáo
I
B
Cân nhắc điều trị trước bằng thuốc chống loạn nhịp (amiodarone, flecainide, ibutilide, propafenone) để tăng khả năng chuyển nhịp thành công.
Nên cân nhắc dùng
IIa
B
Ở một số bệnh nhân RN mới xuất hiện mà cơn RN thưa, không có bệnh tim cấu trúc hay thiếu máu cơ tim đáng kể, có thể tự chuyển nhịp ngoại trú bằng flecainide hoặc propafenone đường uống (chiến lược “thuốc bỏ túi”), tuy nhiên trước đó phải đánh giá hiệu quả và tính an toàn.
Nên cân nhắc dùng
IIa
B
Trên bệnh nhân có hội chứng suy nút xoang, rối loạn dẫn truyền nhĩ-thất hoặc khoảng QTc dài (> 500ms), không nên chuyển nhịp bằng thuốc trừ khi đã cân nhắc tới nguy cơ gây rối loạn nhịp và nhịp chậm.
Không khuyến cáo
III
C
Điều trị thuốc chống loạn nhịp lâu dài trong kiểm soát nhịp
  • Các thuốc chống loạn nhịp: Mục tiêu điều trị thuốc chống loạn nhịp là để cải thiện triệu chứng liên quan đến RN. Do vậy nếu dùng thuốc chống loạn nhịp lâu dài cần phải cân bằng giữa gánh nặng triệu chứng, các tác dụng không mong muốn và sự lựa chọn của bệnh nhân. Thuốc chống loạn nhịp giúp tăng gấp đôi khả năng duy trì nhịp xoang. Sử dụng thuốc chống loạn nhịp ngắn hạn cũng giúp hạn chế tái phát RN sớm sau triệt đốt, tuy nhiên lợi ích vẫn còn tranh cãi.
  • Đánh giá và theo dõi lâu dài nguy cơ thúc đẩy rối loạn nhịp khi dùng các thuốc chống loạn nhịp.
Điều trị kiểm soát nhịp lâu dài trên bệnh nhân RN
Điều trị yếu tố có thể gây khởi phát rung nhĩ hoặc điều trị nguyên nhân có thể đảo ngược.
Các thuốc chống loạn nhịp dùng để duy trì nhịp xoang lâu dài trên bệnh nhân RN
Thuốc Đường dùng Liều Chống chỉ định/thận trọng/ghi chú
Amiodarone Uống 3 x 200 mg mỗi ngày trong 2 tuần, sau đó 200 mg/ngày
  • Thuốc chống loạn nhịp hiệu quả nhất
  • Tỷ lệ tái phát RN thấp hơn sotalol và drondarone trong các thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên
  • Giảm tần số thất (10-12 lần/phút), an toàn với bệnh nhân suy tim
  • Thận trọng khi dùng với các thuốc kéo dài khoảng QT khác
  • Thận trọng khi dùng với VKA hoặc digitalis (nên giảm liều các thuốc này)
  • Tăng nguy cơ bệnh viêm cơ khi dùng cùng statin
  • Cần khảo sát định kỳ độc tính trên gan, phổi, tuyến giáp
  • Làm chậm dẫn truyền nhĩ-thất, nhưng không nên dùng với mục đích ban đầu là kiểm soát tần số
  • Thường gặp QT dài nhưng hiếm khi gây xoắn đỉnh (< 0,5%)
  • Hiếm khi xuất hiện xoắn đỉnh khi điều trị amiodarone (theo dõi nguy cơ loạn nhịp ở khoảng QT và sóng T, U)
  • Nên dừng thuốc khi QT dài > 500 ms
  • Điện tâm đồ ban đầu và điện tâm đồ sau 4 tuần.
  • Chống chỉ định trên bệnh nhân cường giáp
  • Tác dụng không mong muốn ngoài tim nhiều và phổ biến, do vậy chỉ là lựa chọn thứ hai nếu có thể dùng các thuốc khác.
Flecainide Flecainide phóng thích chậm Uống 100-200 mg ngày 2 lần hoặc 200 mg ngày 1 lần (dạng phóng thích chậm)
  • Ngăn ngừa RN tái phát hiệu quả
  • Không nên dùng cho bệnh nhân độ thanh thải creatinine < 35mL/ phút/1,73m2 hoặc có bệnh gan nặng
  • Chống chỉ định trên bệnh cơ tim thiếu máu và suy tim EF giảm
  • Nên dừng thuốc nếu QRS giãn rộng > 25% so với ban đầu và bệnh nhân có block nhánh trái hoặc bất kì block dẫn truyền nào khác > 120 ms
  • Thận trọng khi có bất thường dẫn truyền xoang nhĩ hoặc dẫn truyền nhĩ thất (1)
  • Các thuốc ức chế CYP2D6 làm tăng nồng độ thuốc
  • Có thể giảm tần số nhĩ trong cuồng nhĩ, dẫn tới dẫn truyền nhĩ-thất 1:1 và tăng tần số thất. Dự phòng bằng cách dùng kèm một thuốc ức chế nút nhĩ-thất (chẹn beta hoặc chẹn kênh canxi loại non-dihydropyridin)
  • Ở bệnh nhân đã được sàng lọc nguy cơ thúc đẩy loạn nhịp, cả fleicainide và propafenone đều có nguy cơ gây loạn nhịp thấp.
  • Làm điện tim trước khi bắt đầu dùng thuốc và sau đó 1-2 tuần
Propafenone Propafenone phóng thích chậm Uống 150-300 mg x 3 lần/ ngày, hoặc 225 -425 mg x 2 lần/ ngày (dạng phóng thích chậm)
  • Không nên dùng trên bệnh nhân có bệnh lý gan/thận nặng, bệnh tim thiếu máu, giảm chức năng tâm thu thất trái hoặc hen phế quản.
  • Nên dừng thuốc nếu QRS giãn rộng > 25% so với ban đầu và bệnh nhân có block nhánh trái hoặc bất kì block dẫn truyền nào khác >120ms
  • Thận trọng khi có bất thường dẫn truyền xoang nhĩ/nhĩ thất (1)
  • Tăng nồng độ warfarin/acenocoumarin và digoxin trong máu khi dùng kèm các thuốc này
  • Có thể giảm tần số nhĩ trong cuồng nhĩ, thúc đẩy tỷ lệ dẫn truyền nhĩthất 1:1 và tăng tần số thất
  • Làm điện tim trước khi bắt đầu dùng thuốc và sau đó 1-2 tuần
Dronedarone Uống 400 mg x 2 lần/ngày
  • Kém hiệu quả hơn amiodarone trong kiểm soát nhịp nhưng có rất ít tác dụng phụ ngoài tim
  • Giảm nhập viện và tử vong do tim mạch trên bệnh nhân có rung/ cuồng nhĩ cơn hoặc dai dẳng và bệnh tim mạch đồng mắc
  • Liên quan tới tăng tử vong ở bệnh nhân mới có suy tim mất bù hoặc RN vĩnh viễn
  • Là thuốc có dữ liệu an toàn tốt nhất, có thể dùng điều trị đầu tay. Tuy nhiên không nên chỉ định cho bệnh nhân suy tim hoặc RN vĩnh viễn.
  • Không nên dùng trên bệnh nhân suy tim NYHA III-IV hoặc không ổn định, không dùng kèm các thuốc kéo dài khoảng QT hoặc ức chế CYP3A4 mạnh (ví dụ verapamil, diltiazem) hoặc bệnh nhân thanh thải creatinine < 30mL/phút
  • Chống chỉ định dùng kèm với dabigatran
  • Làm tăng đáng kể nồng độ digoxin trong máu khi dùng cùng nhau
  • Khi dùng cùng digitalis hoặc chẹn beta thì nên giảm liều các thuốc này
  • Cần ngừng thuốc khi QT kéo dài đáng kể (> 500 ms hoặc dài thêm > 60 ms so với ban đầu)
  • Nồng độ creatinine máu thường tăng chút ít khi dùng thuốc, phản ánh giảm độ thanh thải creatinine do thuốc hơn là suy giảm chức năng thận.
  • Làm chậm dẫn truyền qua nút nhĩ-thất
  • Làm điện tim trước khi bắt đầu dùng thuốc và sau đó 1-2 tuần
Sotalol(hỗn hợp đồng phân d, l, racemic) Uống 80-160 mg x 2 lần/ngày
  • Chỉ có tác dụng như thuốc nhóm III với liều > 160 mg/ngày
  • Sử dụng thận trọng, cân nhắc hiệu quả, tính an toàn và các lựa chọn thay thế khác
  • Không nên dùng trên bệnh nhân suy tim EF giảm, phì đại thất trái nặng, QT dài, hen phế quản, hạ kali máu hoặc độ thanh thải creatinine < 30 mL/phút.
  • Xoắn đỉnh liên quan tới liều có thể gặp ở > 2% bệnh nhân
  • Liều dùng càng cao thì tác dụng ức chế kênh kali càng cao, làm nguy cơ rối loạn nhịp (xoắn đỉnh) càng cao
  • Dữ liệu quan sát và một phân tích gộp gần đây cho thấy có liên quan tới tăng tử vong do mọi nguyên nhân. Tuy nhiên phân tích từ dữ liệu quốc gia và 2 thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên không cho thấy bằng chứng nào đáng lo ngại về tính an toàn của sotalol.
  • Làm điện tim trước khi bắt đầu dùng thuốc, sau một ngày và sau đó 1-2 tuần
Disopyramide Uống 100-400 mg x 2-3 lần/ngày (tối đa 800 mg/24 giờ)
  • Làm tăng đáng kể tử vong và thường kém dung nạp do tác dụng không mong muốn nên hiếm khi dùng trong kiểm soát nhịp ở bệnh nhân RN. Không nên dùng trên bệnh nhân có bệnh tim cấu trúc.
  • Có thể có ích trong trường hợp RN “phế vị” xuất hiện ở vận động viên hoặc khi ngủ
  • Giảm tắc nghẽn đường ra thất trái và triệu chứng ở bệnh nhân bị bệnh cơ tim phì đại.
(1) Thận trọng khi dùng bất kì thuốc chống loạn nhịp nào trên bệnh nhân có bệnh lý đường dẫn truyền.

Các thuốc không thuộc nhóm chống loạn nhịp nhưng có thể ngăn ngừa loạn nhịp tim (điều trị nền)
ThuốcNhận xét
Ức chế men chuyển (ƯCMC), chẹn thụ thể Angiotensin (ƯCTT) Hoạt hóa hệ thống renin-angiotensin-aldosterone được điều hòa tăng trong rung nhĩ. Các thuốc ƯCMC và ƯCTT cho kết quả hứa hẹn trong những nghiên cứu tiền lâm sàng.
Từ các phân tích hồi cứu và nghiên cứu và những nghiên cứu lấy RN làm chỉ tiêu phụ, ƯCMC/ƯCTT có thể ngăn ngừa RN mới xuất hiện ở bệnh nhân rối loạn chức năng thất trái, phì đại thất trái hoặc tăng huyết áp.
ƯCMC và ƯCTT vượt trội hơn các thuốc điều trị tăng huyết áp khác khi dùng điều trị đầu tay, tuy nhiên ƯCTT không làm giảm gánh nặng RN trên bệnh nhân không có bệnh tim cấu trúc. Mặc dù có hiệu quả trong một số nghiên cứu theo dõi dọc nhỏ và phân tích hồi cứu, các thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên lớn vẫn cho kết quả xung đột và chưa khẳng định được vai trò của ƯCMC và ƯCTT trong dự phòng thứ phát RN (dự phòng sau chuyển nhịp). Kết quả âm tính có thể do thiết kế nghiên cứu và tương tác giữa nhiều yếu tố gây ra RN, do vậy không nên ngần ngại sử dụng ƯCMC hoặc ƯCTT để dự phòng loạn nhịp trên bệnh nhân có bệnh tim cấu trúc.
Thuốc đối kháng thụ thể mineralocorticoid (MRA) Aldosterone có thể tham gia vào khởi kích và duy trì RN. Bằng chứng từ các thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên cho thấy các thuốc MRA giảm nguy cơ xuất hiện rối loạn nhịp nhĩ mới trên bệnh nhân suy tim EF giảm cũng như cải thiện các kết cục khác về tim mạch.
Thuốc đối kháng thụ thể mineralocorticoid (MRA) Gần đây, MRA đã chứng minh được tác động có lợi trên bệnh nhân suy tim EF bảo tồn bất kể tình trạng RN có hay không. Giống như các thuốc ức chế hệ reninangiotensin-aldosterone khác, vai trò của MRA trong điều trị đầu nguồn kiểu soát nhịp ở bệnh nhân suy tim và RN vẫn chưa rõ ràng. Do RN cũng là một chỉ dấu của mức độ suy tim, tác dụng giảm rối loạn nhịp có thể chỉ là gián tiếp do cải thiện tình trạng suy tim. Một thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên mới đây cho thấy MRA giúp giảm đáng kể RN mới xuất hiện và RN tái phát, tuy nhiên không ngăn ngừa được RN sau phẫu thuật.
Chẹn beta giao cảm Một số nghiên cứu nhỏ cho thấy chẹn beta giúp giảm nguy cơ tái phát RN với hiệu quả tương đương sotalol. Tuy nhiên đa số bằng chứng phủ nhận chẹn beta có vai trò đáng kể trong dự phòng RN. Hiệu quả của chẹn beta có thể do khiến RN có triệu chứng lâm sàng thành không triệu chứng nhờ kiểm soát nhịp tim.
Statin Statin là một ứng viên hứa hẹn trong điều trị đầu nguồn do vai trò của phản ứng viêm trong RN khá rõ ràng. Tuy nhiên trong một thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng được thiết kế chuẩn mực, statin không thể hiện tác dụng có lợi. Các nghiên cứu khác cũng không chứng minh được tác dụng dự phòng của statin. Những nhóm bệnh nhân cụ thể có thể được đảo ngược tái cấu trúc tâm nhĩ khi dùng statin vẫn chưa được xác định. Tuy nhiên kết quả từ nghiên cứu sổ bộ CARAF gợi ý rằng những bệnh nhân RN đang dùng chẹn beta có thể được hưởng lợi từ statin. Acid béo không bão hòa đa nối đôi cũng chưa chứng minh được hiệu quả trong dự phòng RN.
Amiodarone được khuyến cáo dùng để kiểm soát nhịp lâu dài trên mọi bệnh nhân RN, kể cả những người suy tim EF giảm. Tuy nhiên do có các độc tính ngoài tim, nên cân nhắc dùng các thuốc khác trước nếu có thể.
Được khuyến cáo
I
A
Dronedarone được khuyến cáo dùng kiểm soát nhịp lâu dài trên bệnh nhân RN có:
  • Chức năng thất trái bình thường hoặc giảm nhẹ (nhưng vẫn ổn định), hoặc
  • Suy tim EF bảo tồn, thiếu máu cơ tim hoặc bệnh van tim
Được khuyến cáo
I
A
Flecainide và propafenone được khuyến cáo trong kiểm soát nhịp lâu dài trên bệnh nhân RN có chức năng thất trái bình thường và không có bệnh tim cấu trúc, bao gồm phì đại thất trái đáng kể và thiếu máu cơ tim.
Được khuyến cáo
I
A
Ở bệnh nhân RN đang điều trị sotalol, cần theo dõi sát khoảng QT, nồng độ kali máu, chức năng thận và các yếu tố nguy cơ thúc đẩy loạn nhịp khác.
Được khuyến cáo
I
B
Cân nhắc dùng thêm các thuốc ức chế nút nhĩ-thất (nếu dung nạp) trên bệnh nhân RN đang được kiểm soát nhịp lâu dài với flecainide.
Nên cân nhắc dùng
IIa
B
Có thể cân nhắc dùng sotalol để kiểm soát nhịp lâu dài trên bệnh nhân chức năng thất trái bình thường và có bệnh tim thiếu máu nếu theo dõi sát được khoảng QT, nồng độ kali máu, chức năng thận và các yếu tố thúc đẩy loạn nhịp khác.
Có thể cân nhắc
IIb
A
Không khuyến cáo dùng thuốc chống loạn nhịp trên bệnh nhân RN vĩnh viễn đang điều trị kiểm soát tần số và bệnh nhân có rối loạn dẫn truyền tiến triển trừ khi có tạo nhịp chống nhịp chậm.
Không khuyến cáo
III
C

Điều trị rung nhĩ bằng triệt đốt qua catheter

Triệt đốt RN qua đường ống thông là phương pháp đáng tin cậy giúp dự phòng RN tái phát. Khi được tiến hành ở trung tâm và bởi nhóm bác sĩ thủ thuật có kinh nghiệm, triệt đốt catheter tỏ ra an toàn, có hiệu quả duy trì nhịp xoang cũng như cải thiện triệu chứng vượt trội so với dùng thuốc chống rối loạn nhịp. Cần lưu ý trao đổi kỹ lưỡng với người bệnh về hiệu quả cũng như các biến chứng tiềm tàng của kỹ thuật triệt đốt RN trước khi thực hiện thủ thuật.
Chỉ định triệt đốt qua đường ống thông đối với RN có triệu chứng
(a) Giãn lớn nhĩ trái, tuổi cao, RN kéo dài, rối loạn chức năng thận, các yếu tố tim mạch khác
(b) Ở một số ít trường hợp có thể cân nhắc triệt đốt như điều trị đầu tay.
(c) Khuyến cáo nhằm đảo ngược rối loạn chức năng thất trái khi nghi ngờ bệnh cơ tim do nhịp nhanh
(d) Nhằm cải thiện sống còn và giảm nhập viện.
  • Dựa vào cơ chế tĩnh mạch phổi là vị trí quan trọng khởi phát và tạo rất nhiều vòng vào lại nhỏ ở bệnh nhân nhĩ.
  • Triệt đốt bằng catheter là phương pháp có hiệu quả và là lựa chọn cho bệnh nhân rung nhĩ có triệu chứng điều trị nội khoa thất bại.
  • Tỷ lệ thành công từ 40 - 90%.
  • Tỷ lệ biến chứng của phương pháp này là 2-12%.
  • Những biến chứng gồm: tràn dịch màng tim, ép tim cấp, biến chứng mạch máu, hẹp t ĩnh mạch phổi, đột quỵ, dò nhĩ trái thực quản.
  • Tỷ lệ tử vong thấp < 0.1%.
Khuyến cáo chung: Khi lựa chọn triệt đốt RN qua đường ống thông, cần cân nhắc tới nguy cơ thủ thuật, các yếu tố nguy cơ tái phát chính sau thủ thuật và thảo luận với bệnh nhân.
Được khuyến cáo
I
B
Khuyến cáo chung: Cô lập lại TM phổi lần hai ở bệnh nhân bị tái phát RN nếu triệu chứng bệnh nhân được cải thiện ở lần triệt đốt đầu tiên.
Nên cân nhắc dùng
IIa
B
Triệt đốt RN sau khi điều trị thuốc thất bại
Khuyến cáo triệt đốt RN qua đường ống thông sau khi điều trị thuốc chống loạn nhịp nhóm I hoặc III thất bại hoặc không dung nạp, nhằm cải thiện triệu chứng của RN tái phát ở bệnh nhân:
RN cơn, hoặc
Được khuyến cáo
I
A
RN dai dẳng không có các yếu tố nguy cơ chính gây tái phát RN, hoặc
Được khuyến cáo
I
A
RN dai dẳng với các yếu tố nguy cơ chính gây tái phát RN.
Được khuyến cáo
I
B
Cân nhắc triệt đốt RN qua đường ống thông để kiểm soát nhịp sau điều trị chẹn beta thất bại/ không dung nạp nhằm cải thiện triệu chứng của RN tái phát trên bệnh nhân RN cơn hoặc RN dai dẳng.
Có thể cân nhắc
IIb
B
Điều trị đầu tay
Triệt đốt RN qua đường ống thông nên được lựa chọn như biện pháp kiểm soát nhịp đầu tay để cải thiện triệu chứng trên các bệnh nhân:
RN cơn có triệu chứng, hoặc
Nên cân nhắc dùng
IIa
B
RN dai dẳng có triệu chứng mà không có các yếu tố nguy cơ chính gây tái phát RN
Có thể cân nhắc
IIb
C
như là lựa chọn thay thế thuốc chống loạn nhịp nhóm I hoặc III, cân nhắc tới lựa chọn, lợi ích, nguy cơ của bệnh nhân.
Triệt đốt RN qua đường ống thông:
Được khuyến cáo để đảo ngược rối loạn chức năng thất trái trên bệnh nhân nghi ngờ bị bệnh cơ tim do nhịp nhanh, bất kể triệu chứng lâm sàng.
Được khuyến cáo
I
B
Nên cân nhắc trên một số bệnh nhân suy tim phân suất tống máu giảm để cải thiện sống còn và giảm nhập viện do suy tim.
Nên cân nhắc dùng
IIa
B
Cân nhắc triệt đốt RN cô lập TM phổi ở bệnh nhân nhịp chậm liên quan đến RN hoặc có khoảng ngừng xoang dài có triệu chứng sau cơn RN để tránh cấy máy tạo nhịp (cân nhắc tới tình huống lâm sàng)
Nên cân nhắc dùng
IIa
C

Kỹ thuật triệt đốt
Cô lập hoàn toàn tĩnh mạch phổi về điện học trong mọi thủ thuật triệt đốt RN.
Được khuyến cáo
I
A
Cân nhắc triệt đốt eo van ba lá – TM chủ dưới nếu bệnh nhân có tiền sử cuồng nhĩ phụ thuộc eo hoặc gây được cơn cuồng nhĩ điển hình khi làm thủ thuật.
Có thể cân nhắc
IIb
B
Các đường đốt khác ngoài cô lập TM phổi (vùng điện thế thấp, hoạt động phân mảnh, ổ ngoại vị, rotor, .v.v..) có thể cân nhắc nhưng chưa được chứng minh rõ ràng.
Có thể cân nhắc
IIb
B
Các biến chứng liên quan thủ thuật sau triệt đốt RN qua đường ống thông hoặc nội soi qua thành ngực
Mức độ biến chứng Loại biến chứng Tỷ lệ biến chứng
Triệt đốt qua catheter Triệt đốt qua nội soi
Đe dọa tính mạng Tử vong quanh phẫu thuật < 0,1% < 0,1%
Thủng/ rò thực quản < 0,5% N/A
Huyết khối/ tắc mạch quanh phẫu thuật < 0,1% < 1,5%
Chèn ép tim ~ 1% < 10%
Biến chứng nặng Hẹp TM phổi < 1,0% N/A
Liệt thần kinh hoành < 1,0% N/A
Biến chứng mạch máu 2-4 % N/A
Phải mở xương ức N/A < 1,7%
Tràn khí màng phổi N/A < 6,5%
Biến chứng nhẹ/trung bình Gồm nhiều loại 1-2% 1-3%
Biến chứng không rõ mức độ Huyết khối mạch não không triệu chứng 5-15% N/A

Thay đổi lối sống và các chiến lược khác để cải thiện kết cục triệt đốt
Giảm cân ở bệnh nhân béo phì mắc RN, đặc biệt nếu đang cân nhắc triệt đốt qua đường ống thông.
Được khuyến cáo
I
B
Kiểm soát chặt các yếu tố nguy cơ và khởi kích cơn RN là một phần của chiến lược kiểm soát nhịp.
Được khuyến cáo
I
B
Các yếu tố nguy cơ của RN góp phần thúc đẩy phát triển cơ chất bất thường, làm hạn chế hiệu quả của các chiến lược kiểm soát nhịp. Kiểm soát tích cực các yếu tố này giúp hạn chế tái phát RN sau triệt đốt qua đường ống thông.
Đánh giá nguy cơ tái phát RN sau triệt đốt
Tái phát RN sau triệt đốt là kết quả của tương tác phức tạp giữa nhiều yếu tố, bao gồm thời gian diễn biến RN, tuổi, kích thước nhĩ trái và các yếu tố cấu trúc khác như lớp mỡ màng ngoài tim dày, cơ chất tâm nhĩ trên các chỉ dấu điện học hoặc hình thái.
Các vấn đề chính khi theo dõi sau triệt đốt rung nhĩ
Phát hiện và xử trí biến chứng
  • Bệnh nhân phải được biết về triệu chứng của các biến chứng hiếm gặp nhưng nguy hiểm liên quan đến triệt đốt có thể gặp phải sau khi ra viện (ví dụ rò tâm nhĩ-thực quản, hẹp TM phổi)
Theo dõi nhịp tim
  • Giúp đánh giá hiệu quả thủ thuật và tương quan triệu chứng với nhịp ở bệnh nhân.
  • Tái phát RN ngoài một tháng sau thủ thuật thường tiên đoán các đợt tái phát muộn hơn, tuy nhiên tái phát triệu chứng có thể do các ngoại tâm thu hoặc rối loạn nhịp không dai dẳng khác. Ngược lại, RN không triệu chứng sau thủ thuật cũng khá thường gặp.
  • Có thể theo dõi nhịp tim bằng điện tâm đồ, đeo Holter, miếng dán theo dõi, thiết bị theo dõi gắn ngoài hoặc cấy dưới da, điện thoại thông minh (chưa được kiểm chứng cho chỉ định này).
  • Bệnh nhân cần tái khám ít nhất sau thủ thuật 3 tháng và hàng năm sau đó.
Sử dụng thuốc chống loạn nhịp và điều trị RN tái phát
  • Dùng thuốc chống loạn nhịp sau triệt đốt 6 tuần – 3 tháng giúp giảm tỷ lệ tái phát sớm RN, tái nhập viện và chuyển nhịp trong khoảng thời gian này.
  • Sau đó có thể giảm dần liều và ngừng thuốc chống loạn nhịp, tùy theo tình trạng triệu chứng và nhịp của bệnh nhân. Các nghiên cứu mới đây cho thấy những bệnh nhân dùng thuốc mà không bị tái phát RN trong giai đoạn “trống” (blanking period – giai đoạn sau triệt đốt mà tái phát RN không được coi mà thất bại thủ thuật, ~3 tháng) có thể giảm nguy cơ tái phát nếu tiếp tục dùng thuốc sau giai đoạn này.
Điều trị chống đông
  • Dùng chống đông đường uống kéo dài 2 tháng sau triệt đốt ở mọi bệnh nhân.
  • Sau giai đoạn này, quyết định dùng chống đông phụ thuộc vào điểm CHA2DS2 -VASc chứ không phải là tình trạng duy trì nhịp xoang của bệnh nhân.

Phẫu thuật điều trị rung nhĩ

Cox và cộng sự đã mở ra một cơ hội mới cho bệnh nhân rung nhĩ khi phát triển kỹ thuật maze trong phẫu thuật tim. Thủ thuật cắt-và-khâu truyền thống đã trải qua nhiều bước phát triển và dần được thay thế bởi các công cụ triệt đốt khi mổ tim hở. Phẫu thuật viên và bác sỹ điện sinh lý học tim cần phối hợp chặt chẽ để lựa chọn bệnh nhân phù hợp, chăm sóc sau thủ thuật, đặc biệt là xử trí loạn nhịp tái phát.
  • Phẫu thuật cô lập nhĩ trái (Maze proceduce) thường được chỉ định kết hợp với các phẫu thuật tim khác như mổ bắc cầu chủ vành, thay van tim, mổ sửa chữa trong bệnh tim bẩm sinh,..
  • Phẫu thuật sẽ tạo các đường cắt cô lập từng vùng cơ nhĩ, tiểu nhĩ và các tĩnh mạch phổi nhưng vẫn bảo tồn được các chức năng dẫn truyền trong nhĩ, nhờ vậy ngăn chặn được sự hình thành các vòng vào lại gây rung nhĩ.
Cân nhắc triệt đốt RN phối hợp khi bệnh nhân phẫu thuật tim với chỉ định khác, cân bằng giữa lợi ích ngăn ngừa rối loạn nhịp nhĩ và các yếu tố nguy cơ tái phát loạn nhịp (giãn nhĩ trái, RN diễn biến dài, tuổi, suy thận, các yếu tố tim mạch khác).
Nên cân nhắc dùng
IIa
A
Triệt đốt bằng nội soi qua thành ngực (bao gồm thủ thuật hybrid) nên được cân nhắc ở bệnh nhân RN cơn/dai dẳng có triệu chứng không đáp ứng với thuốc chống loạn nhịp và đã triệt đốt qua đường ống thông thất bại, hoặc có các yếu tố nguy cơ rõ ràng khiến triệt đốt thất bại. Chỉ định này cần được tiến hành bởi một đội ngũ bác sỹ phẫu thuật tim mạch và điện sinh lý tim có kinh nghiệm.
Nên cân nhắc dùng
IIa
B
Triệt đốt bằng nội soi qua thành ngực (bao gồm thủ thuật hybrid) nên được cân nhắc ở bệnh nhân RN dai dẳng kéo dài có triệu chứng và các yếu tố nguy cơ tái phát RN, đã ít nhất một lần điều trị thuốc thất bại và mong muốn theo đuổi kiểm soát nhịp.
Có thể cân nhắc
IIb
C

Dự phòng nguy cơ đột quỵ quanh thủ thuật ở bệnh nhân trải qua các can thiệp nhằm kiểm soát nhịp

Dự phòng nguy cơ đột quỵ và dùng chống đông đường uống ở bệnh nhân rung nhĩ được chuyển nhịp

Ở bệnh nhân RN được chuyển nhịp, NOAC được khuyến cáo với hiệu quả và an toàn ít nhất tương đương warfarin.
Được khuyến cáo
I
A
Cần dùng chống đông hiệu quả ít nhất 3 tuần trước khi chuyển nhịp cho rung/cuồng nhĩ.
Được khuyến cáo
I
B
Có thể siêu âm tim qua thực quản để loại trừ huyết khối nếu cần chuyển nhịp sớm thay vì đợi 3 tuần dùng chống đông.
Được khuyến cáo
I
B
Ở bệnh nhân có nguy cơ đột quỵ, dùng chống đông kéo dài sau chuyển nhịp tương tự như các bệnh nhân RN khác, nghĩa là không phụ thuộc vào phương pháp chuyển nhịp, khả năng duy trì nhịp xoang, hoặc đặc điểm cơn RN (ví dụ mới chẩn đoán lần đầu).
Được khuyến cáo
I
B
Khi phát hiện huyết khối trên siêu âm tim qua thực quản, cần dùng chống đông hiệu quả ít nhất 3 tuần trước khi đánh giá chuyển nhịp RN.
Được khuyến cáo
I
B
Cần nhấn mạnh tầm quan trọng của chống đông hiệu quả trước thủ thuật càng sớm càng tốt với mọi bệnh nhân dự định chuyển nhịp.
Được khuyến cáo
I
C
Cần bắt đầu dùng chống đông hiệu quả càng sớm càng tốt trước mọi thủ thuật chuyển nhịp rung/ cuồng nhĩ.
Nên cân nhắc dùng
IIa
B
Có thể chuyển nhịp sớm mà không cần siêu âm tim qua thực quản nếu RN kéo dài < 48 giờ.
Nên cân nhắc dùng
IIa
B
Ở bệnh nhân RN kéo dài > 24 giờ được chuyển nhịp, cần dùng chống đông liều điều trị ít nhất 4 tuần sau thủ thuật (sau thời gian này, quyết định dùng chống đông kéo dài phụ thuộc vào các yếu tố nguy cơ đột quỵ của bệnh nhân).
Nên cân nhắc dùng
IIa
B
Khi có huyết khối trên siêu âm tim qua thực quản, cần làm lại một siêu âm qua thực quản để đảm bảo huyết khối đã tiêu biến trước khi chuyển nhịp.
Nên cân nhắc dùng
IIa
C
Ở bệnh nhân chắc chắn RN kéo dài ≤ 24 giờ và nguy cơ đột quỵ rất thấp (CHA2DS2-VASc = 0 ở nam và 1 ở nữ) có thể không cần dùng chống đông sau chuyển nhịp 4 tuần.
Có thể cân nhắc
IIb
C

Dự phòng nguy cơ đột quỵ và dùng chống đông đường uống ở bệnh nhân rung nhĩ triệt đốt qua đường ống thông

Ở bệnh nhân RN có yếu tố nguy cơ đột quỵ mà chưa được dùng chống đông trước triệt đốt, khuyến cáo về kiểm soát nguy cơ đột quỵ trước thủ thuật bao gồm bắt đầu dùng chống đông và Tốt hơn hết, dùng chống đông đường uống liều điều trị ít nhất 3 tuần trước triệt đốt, hoặc
Được khuyến cáo
I
C
Ở bệnh nhân RN có yếu tố nguy cơ đột quỵ mà chưa được dùng chống đông trước triệt đốt, khuyến cáo về kiểm soát nguy cơ đột quỵ trước thủ thuật bao gồm bắt đầu dùng chống đông và Loại trừ huyết khối nhĩ trái bằng siêu âm qua thực quản trước thủ thuật.
Nên cân nhắc dùng
IIa
C
Khuyến cáo tiến hành thủ thuật triệt đốt mà không dừng chống đông ở bệnh nhân RN đang được điều trị đạt liều với warfarin, dabigatran, rivaroxaban, apixaban, edoxaban.
Được khuyến cáo
I
A
Khuyến cáo sau triệt đốt RN
  • Dùng chống đông warfarin hoặc NOAC ít nhất 2 tháng sau triệt đốt, và
  • Dùng chống đông kéo dài sau 2 tháng tùy theo nguy cơ đột quỵ của bệnh nhân, không liên quan tới thành công hay thất bại của thủ thuật.
Được khuyến cáo
I
C

Chống đông sau phẫu thuật điều trị rung nhĩ

Khuyến cáo dùng chống đông kéo dài ở bệnh nhân sau phẫu thuật điều trị RN và đóng tiểu nhĩ trái dựa theo nguy cơ huyết khối-tắc mạch của bệnh nhân tính bằng điểm CHA2DS2 -VASc.
Được khuyến cáo
I
C

Tránh dùng một số thuốc có nguy cơ gây rung nhĩ

  • Mức độ bằng chứng cao: Adenosin (thời gian bán thải ngắn nên thường không có ý nghĩa lâm sàng, ngoại trừ trường hợp bệnh nhân có đường dẫn truyền phụ như mắc hội chứng Wolff-Parkinson-White), Dobutamin, Aminophyllin/theophyllin.
  • Mức độ bằng chứng trung bình: Milrinon, Interleukin-2, Flecainid, Cisplatin, Melphalan, Amifostin

VIDEO

Tài liệu tham khảo

  1. Hướng dẫn của ESC 2020 về chẩn đoán và quản lý rung nhĩ
  2. Rung nhĩ. BV Nguyễn Tri Phương
  3. Đại cương về bệnh rung nhĩ không do bệnh van tim
  4. Khuyến cáo về Chẩn đoán và điều trị rung nhĩ 2016
  5. 2020 Guidelines for Management of Atrial Fibrillation. ECS
  6. Chẩn đoán và điều trị cơ bản rung nhĩ. Ts. Phạm Trần Linh. Viện Tim Mạch Quốc Gia Việt Nam
  7. ECS 2020. Thuốc chống loạn nhịp tim được sử dụng để duy trì nhịp xoang lâu dài ở bệnh nhân AF
  8. ECS 2020. Thuốc để kiểm soát tần số trong AF
  9. ECS 2020. Tiêu chí lựa chọn liều lượng cho NOAC