Hạ thân nhiệt trẻ sơ sinh trong sản khoa

Post key: 6decb919-617a-5a9b-8a8c-5a818d3f4781
Slug: ha-than-nhiet-tre-so-sinh-trong-san-khoa
Excerpt: Hạ thân nhiệt là tình trạng bệnh lý thường gặp ở trẻ sơ sinh, đặc biệt ở trẻ đẻ non, khi nhiệt độ cơ thể <35°C (nhẹ: 32–35°C; nặng: <32°C) do mất cân bằng giữa sinh nhiệt và tản nhiệt. Bài viết trình bày cơ chế mất nhiệt (bay hơi, truyền nhiệt, đối lưu, bức xạ) và các nguyên nhân: đẻ non (diện tích da/cân nặng lớn, mỡ nâu ít, dự trữ năng lượng kém), đẻ ngạt/thiếu oxy, nuôi hoặc cấp cứu trong môi trường lạnh (gió lùa, không ủ ấm, tã ướt, tắm lạnh, thủ thuật/truyền dịch kéo dài không giữ ấm), và nhiễm trùng hoặc bệnh lý làm cạn kiệt năng lượng. Biểu hiện có thể gồm rối loạn tim mạch (nhịp nhanh giai đoạn đầu, sau đó nhịp chậm), suy hô hấp/toan chuyển hóa, rối loạn thần kinh trung ương (kích thích rồi li bì/hôn mê/co giật), rối loạn thận và huyết học. Xử trí theo hướng: cấp cứu và hỗ trợ các chức năng sống; phục hồi thân nhiệt bằng ủ ấm theo mức độ (phòng ấm 26–28°C, lau khô, thay tã áo ấm, làm ấm các chi/đồ dùng ở 38–40°C trước khi mặc, da kề da; theo dõi thân nhiệt mỗi giờ và cảnh giác dấu hiệu nguy hiểm; trường hợp hạ thân nhiệt nặng đặt lồng ấp cao hơn thân nhiệt 1–1,5°C, kiểm tra nhiệt độ lồng ấp và theo dõi đáp ứng tăng thân nhiệt 0,5°C/giờ trong 3 giờ; nếu không đạt cần kiểm tra hệ thống sưởi/tăng nhiệt thêm 0,5°C/giờ). Đồng thời điều trị nguyên nhân và hỗ trợ: xử trí suy hô hấp và nhiễm trùng, đảm bảo năng lượng/dinh dưỡng (bú mẹ nếu có thể; nếu không bú được cho ăn qua ống thông; truyền tĩnh mạch khi cần và lưu ý dịch/sữa/chế phẩm máu phải được làm ấm 40–42°C trong suốt quá trình truyền). Phần dự phòng nhấn mạnh chăm sóc thai nghén để giảm đẻ non/đẻ ngạt và đảm bảo môi trường chăm sóc trẻ (25–28°C, không gió lùa, thời gian tắm <10 phút, quần áo/tã được làm ấm trước khi mặc), cùng với nâng cao chất lượng điều trị trẻ sơ sinh bệnh lý.
Recognized tags: so-sinh, tre-em, dieu-tri, du-phong, cap-cuu, bo-y-te

GIỚI THIỆU

- Hạ thân nhiệt là tình trạng bệnh lý thường gặp ở trẻ sơ sinh, đặc biệt ở trẻ đẻ non, khi cơ chế điều hòa thân nhiệt bị mất cân bằng giữa sinh nhiệt và tản nhiệt.
- Sinh nhiệt: chuyển hóa và cơ.
- Tản nhiệt: thông qua 4 cơ chế.
  • Cơ chế bay hơi
  • Cơ chế truyền nhiệt
  • Cơ chế đối lưu
  • Cơ chế bức xạ
- Định nghĩa hạ thân nhiệt: khi nhiệt độ của trẻ < 35oC (95oF) gọi là hạ thân nhiệt.
- Mức độ hạ thân nhiệt:
  • Nhẹ: nhiệt độ 32 - 35oC
  • Nặng: nhiệt độ < 32oC

NGUYÊN NHÂN

Hạ thân nhiệt ở trẻ sơ sinh thường do các nguyên nhân sau:
- Trẻ đẻ non, do:
  • Tỉ lệ diện tích da/cân nặng lớn hơn trẻ đủ tháng → trẻ đẻ non dễ bị hạ thân nhiệt.
  • Lượng mỡ dưới da, đặc biệt lớp mỡ nâu ít → khả năng sinh nhiệt kém.
  • Thiếu năng lượng để chuyển hóa và sinh nhiệt.
  • Dễ mắc suy hô hấp do các vấn đề ở phổi.
- Trẻ đẻ ngạt gây thiếu oxy cho chuyển hóa tế bào.
- Trẻ đẻ hoặc được nuôi trong môi trường lạnh: nhiệt độ trong phòng lạnh, gió lùa; trẻ không được ủ ấm; áo tã bị ướt do đái/ỉa; tắm trẻ quá lâu; nước tắm lạnh.
- Cấp cứu hồi sức hoặc tiêm truyền cho trẻ trong thời gian kéo dài mà trẻ không được ủ ấm.
- Trẻ bị nhiễm trùng và/hoặc các bệnh lý khác làm trẻ cạn kiệt năng lượng và gây hạ thân nhiệt.

TRIỆU CHỨNG

- Tim mạch:
  • Giai đoạn đầu: tăng nhịp tim, co mạch ngoại biên để duy trì tưới máu cơ quan.
  • Giai đoạn sau: nhịp tim chậm, rung nhĩ, rung thất …
- Hô hấp: lúc đầu trẻ thở nhanh; khi hạ thân nhiệt nặng, trẻ thở chậm dần và có toan chuyển hóa.
- Thần kinh trung ương: tưới máu não giảm nên giai đoạn đầu trẻ kích thích, bứt rứt; sau đó trẻ li bì, hôn mê, co giật…
- Thận: giai đoạn đầu trẻ tăng bài niệu; giai đoạn sau trẻ thiểu niệu, tăng ure máu, hoại tử ống thận.
- Huyết học: giảm BC, TC, rối loạn đông máu, xuất huyết phổi.

XỬ TRÍ

Điều trị cấp cứu các chức năng sống cơ bản

- Hô hấp:
  • Làm thông thoáng đường thở: đặt trẻ ở tư thế trung gian.
  • Hỗ trợ hô hấp nếu trẻ tím tái, ngừng thở.
- Tuần hoàn: truyền dịch và dùng thuốc khi trẻ có suy tuần hoàn.

Phục hồi thân nhiệt cho trẻ

Hạ thân nhiệt nhẹ

  • Đặt trẻ trong phòng ấm (26-28oC), có lò sưởi hoặc đèn sưởi.
  • Cởi bỏ áo tã ướt.
  • Lau khô toàn thân trẻ, đồng thời lau khô đờm dãi và các chất tiết.
  • Quần áo, tã, mũ, tất và các chi được làm ấm ở nhiệt độ 38-40oC trước khi mặc cho trẻ.
  • Ủ ấm trẻ theo phương pháp da kề da.
  • Đo thân nhiệt mỗi giờ và theo dõi các dấu hiệu nguy hiểm.

Hạ thân nhiệt nặng

- Thực hiện tương tự như 3 bước đầu của phần hạ thân nhiệt nhẹ.
- Đưa trẻ vào lồng ấp: đặt nhiệt độ lồng ấp cao hơn thân nhiệt trẻ 1-1.5oC.
- Kiểm tra nhiệt độ lồng ấp mỗi giờ một lần trong vòng 8 giờ đầu; sau đó mỗi 3 giờ một lần.
- Đo thân nhiệt của trẻ mỗi giờ.
  • Nếu thân nhiệt của trẻ tăng thêm 0.5oC/1 giờ và duy trì liên tục trong 3 giờ được xem là tiên lượng tốt. Khi thân nhiệt của trẻ ổn định trong giới hạn bình thường, tiếp tục theo dõi 3 giờ/lần trong 12 giờ.
  • Nếu thân nhiệt của trẻ không tăng hoặc tăng dưới 0.5oC/giờ → kiểm tra hệ thống sưởi, tăng nhiệt độ lồng ấp 0.5oC/giờ.

Điều trị nguyên nhân và các hỗ trợ khác

- Điều trị suy hô hấp và các bệnh lý nhiễm trùng.
- Đảm bảo năng lượng và dinh dưỡng.
  • Cho trẻ bú mẹ nếu trẻ còn bú được.
  • Nếu trẻ không bú được → cho ăn qua ống thông dạ dày.
- Truyền dịch nuôi dưỡng đường tĩnh mạch; theo dõi chặt đường máu và không để hạ đường máu.
Chú ý: dịch nuôi dưỡng, sữa và chế phẩm máu đều phải được làm ấm 40-42oC trong suốt quá trình truyền cho trẻ.

PHÒNG NGỪA

  • Chăm sóc và quản lý tốt thai nghén để dự phòng trẻ đẻ non và đẻ ngạt.
  • Đảm bảo môi trường chăm sóc trẻ có nhiệt độ 25o-28oC, không có gió lùa; thời gian tắm trẻ < 10 phút; tã lót và quần áo trẻ phải được làm ấm trước khi mặc.
  • Nâng cao chất lượng chăm sóc và điều trị trẻ sơ sinh bệnh lý.

Tài liệu tham khảo

  1. Quyết định số 315/QĐ-BYT ngày 29/01/2015 của Bộ Y tế ban hành tài liệu chuyên môn: Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị các bệnh sản phụ khoa