GIỚI THIỆU
- Dung dịch tiêm: 10 mg/ml, 25 mg/ml
- Tên biệt dược tại Hoa Kỳ: US Duramorph; Infumorph 200; Infumorph 500; Mitigo; MS Contin
- Tên biệt dược tại Canada: BAR-Morphine SR [DSC - đã ngừng sản xuất]; Doloral; Kadian; Kadian SR; M-Ediat; M-Eslon; Morphine HP; Morphine LP Epidural; Morphine Sulfate SDZ; MS Contin; MS/IR; PMS-Morphine Sulfate; SANDOZ Morphine SR; Statex; TEVA-Morphine SR
- Morphin (dạng tiêm và các dạng giải phóng tức thì/giải phóng kéo dài) là opioid gắn vào các thụ thể opioid tại hệ thần kinh trung ương, từ đó ức chế các đường dẫn truyền đau hướng tâm. Thuốc đồng thời làm thay đổi nhận thức và đáp ứng với đau, gây ức chế thần kinh trung ương toàn thân.
-
Khởi phát tác dụng
(phụ thuộc từng người bệnh; cần cá thể hóa liều):
- Đường uống (giải phóng tức thì): ~30 phút
- Đường tĩnh mạch: 5 đến 10 phút
-
Thời gian tác dụng
(phụ thuộc từng người bệnh; cần cá thể hóa liều) – giảm đau:
- Dạng giải phóng tức thì (viên nén, dung dịch uống, tiêm): 3 đến 5 giờ
- Viên nang và viên nén giải phóng kéo dài: 8 đến 24 giờ (tùy chế phẩm)
- Đường ngoài màng cứng hoặc nội tủy: liều đơn, đến 24 giờ
- Viên đạn đặt trực tràng: 3 đến 7 giờ
- Hấp thu: Thay đổi.
-
Phân bố:
Phân bố vào cơ xương, gan, thận, phổi, đường tiêu hóa, lách và não. Thể tích phân bố (Vd):
- Trẻ sơ sinh non tháng: 2,04 ± 1,01 L/kg (0,6 đến 3,68 L/kg)
- Trẻ sơ sinh đủ tháng: 2,07 ± 1,26 L/kg (0,24 đến 3,34 L/kg)
- Trẻ mắc ung thư (1,7 đến 18,7 tuổi): trung vị 5,2 L/kg; cao hơn đáng kể ở trẻ <11 tuổi (trung vị 7,1 L/kg) so với >11 tuổi (trung vị 4,7 L/kg)
- Người lớn: 1 đến 6 L/kg; gắn với thụ thể opioid ở hệ thần kinh trung ương và ngoại vi (ví dụ: đường tiêu hóa)
-
Gắn protein huyết tương:
- Trẻ sinh non: 18% đến 22%
- Người lớn: 20% đến 35%
-
Chuyển hóa:
- Tại gan, liên hợp với acid glucuronic; chủ yếu tạo morphin-6-glucuronid (M6G, còn hoạt tính giảm đau) và morphin-3-glucuronid (M3G, không có tác dụng giảm đau; có thể góp phần kích thích thần kinh trung ương).
- Chất chuyển hóa phụ: morphin-3-6-diglucuronid; normorphin (còn hoạt tính) và morphin-3-ether sulfat.
- Do hệ enzym gan chưa trưởng thành, trẻ sơ sinh có tốc độ glucuronid hóa thấp hơn ít nhất 50% so với trẻ lớn.
-
Sinh khả dụng:
- Đường uống: 17% đến 33% (bị hạn chế bởi chuyển hóa bước một tại gan)
- Khí dung: 5,5 ± 3,2%
-
Nhi khoa
(giá trị dựa trên dùng đường tĩnh mạch):
- Trẻ sơ sinh non tháng: 10,6 ± 2,7 giờ (5,5 đến 13,3 giờ)
- Trẻ sơ sinh đủ tháng: 7,6 ± 2,6 giờ (4,5 đến 11 giờ)
- Trẻ nhũ nhi 1 đến 3 tháng: trung vị 6,2 giờ (5 đến 9,9 giờ)
- Trẻ nhũ nhi 3 đến 6 tháng: trung vị 4,5 giờ (3,8 đến 7,3 giờ)
- Trẻ nhũ nhi 6 tháng đến trẻ 2,5 tuổi: trung vị 2,9 giờ (1,4 đến 7,8 giờ)
- Trẻ mẫu giáo: 1 đến 2 giờ
- Trẻ bệnh hồng cầu hình liềm (6 đến 19 tuổi): ~1,3 giờ
-
Người lớn:
-
Dạng giải phóng kéo dài:
- Viên nang (1 hoặc 2 lần/ngày, vi hạt bao polymer): thời gian bán thải pha cuối 11 đến 13 giờ
- Viên nang (1 lần/ngày, vi hạt): thời gian bán thải pha cuối khoảng 24 giờ
- Viên nén: chưa có báo cáo
- Dạng giải phóng tức thì: 2 đến 4 giờ
-
Dạng giải phóng kéo dài:
-
Huyết tương:
- Viên nang ER (1 hoặc 2 lần/ngày, vi hạt bao polymer): ~10 giờ
- Viên nang ER (1 lần/ngày, vi hạt): gồm thành phần IR và ER; sau liều đơn 60 mg, đạt nồng độ trong 30 phút và duy trì trong 24 giờ
- Viên nén ER: 3 đến 4 giờ
- Viên nén IR, dung dịch uống, ngoài màng cứng: 1 giờ
- Viên đạn: 20 đến 60 phút
- Dưới da: 50 đến 90 phút
- Tiêm bắp: 30 đến 60 phút
- Tĩnh mạch: 20 phút
-
Dịch não tủy:
- Sau liều uống dạng giải phóng kiểm soát, nồng độ morphin đạt đỉnh sau 8 giờ ở cả người có chức năng thận bình thường và suy giảm.
- M6G và M3G vào hệ thần kinh trung ương chậm hơn, đạt đỉnh sau 12 giờ ở người có chức năng thận bình thường hoặc đến 24 giờ ở người bệnh suy thận giai đoạn cuối; nồng độ đỉnh M6G cao gấp ~15 lần so với người có chức năng thận bình thường.
-
Thải trừ:
- Nước tiểu (chủ yếu dưới dạng morphin-3-glucuronid; trẻ sơ sinh: 3% đến 15%; người lớn: ~2% đến 12% thải trừ dạng không đổi)
- Phân (~7% đến 10%)
- Sự tích lũy morphin-6-glucuronid có thể gây độc tính ở người suy thận.
- Tất cả các chất chuyển hóa (M3G, M6G và normorphin) đều có thể liên quan đến độc tính thần kinh (ví dụ: giật cơ).
-
Độ thanh thải:
Ở nhi khoa, đạt giá trị người lớn vào khoảng 6 tháng đến 2,5 tuổi.
- Sinh non: 0,5 đến 3 mL/phút/kg
- Trẻ sơ sinh 1 đến 7 ngày: trung vị 5,5 mL/phút/kg (3,2 đến 8,4)
- Trẻ sơ sinh 8 đến 30 ngày: trung vị 7,4 mL/phút/kg (3,4 đến 13,8)
- Trẻ nhũ nhi 1 đến 3 tháng: trung vị 10,5 mL/phút/kg (9,8 đến 20,1)
- Trẻ nhũ nhi 3 đến 6 tháng: trung vị 13,9 mL/phút/kg (8,3 đến 24,1)
- Trẻ nhũ nhi 6 tháng đến trẻ 2,5 tuổi: trung vị 21,7 mL/phút/kg (5,8 đến 28,6)
- Trẻ mẫu giáo: 20 đến 40 mL/phút/kg
- Trẻ mắc ung thư (1,7 đến 18,7 tuổi): trung vị 23,1 mL/phút/kg; cao hơn ở trẻ <11 tuổi (37,4) so với >11 tuổi (21,9)
- Trẻ bệnh hồng cầu hình liềm (6 đến 19 tuổi): ~36 mL/phút/kg (6 đến 59)
- Người lớn: 20 đến 30 mL/phút/kg
LIỀU DÙNG
Trẻ sơ sinh
- An toàn: Sử dụng liều thấp nhất có hiệu quả và hiệu chỉnh liều thận trọng, cân nhắc lợi ích và nguy cơ của việc tăng thêm phơi nhiễm opioid; dùng trong thời gian ngắn nhất để đạt mục tiêu điều trị.
- Trẻ sơ sinh có thể nhạy cảm hơn với ức chế hô hấp do morphin; cần cân nhắc theo dõi hô hấp–tuần hoàn thường xuyên hoặc liên tục và sử dụng thuốc tại cơ sở có khả năng xử trí nhanh suy hô hấp.
- Thận trọng khi thay đổi đường dùng, vì hiệu lực có thể khác nhau giữa một số chế phẩm.
- Để giảm lượng tá dược, ưu tiên sử dụng dạng không chứa chất bảo quản khi có thể.
Bệnh viện Nhi Đồng 2
Giảm đau:
- Tiêm bắp, tĩnh mạch (ưu tiên), dưới da: Khởi đầu 0.05-0.1 mg/kg/liều, thường mỗi 4-6 giờ; chỉnh liều cẩn thận để đạt hiệu quả, với liều tối đa 0.1 mg/kg/liều.
- Truyền tĩnh mạch liên tục: Khởi đầu 0.01 mg/kg/giờ (10 mcg/kg/giờ); chỉnh liều cẩn thận để đạt hiệu quả, với liều tối đa 0.03 mg/kg/giờ (30 mcg/kg/giờ).
Đặt nội khí quản, không cấp cứu:
- Tiêm bắp, tiêm tĩnh mạch: 0.05-0.1 mg/kg, tiêm trong 5 phút trước thủ thuật ít nhất 5 phút để thuốc bắt đầu phát huy tác dụng giảm đau; có thể phối hợp với các thuốc khác.
Đau cấp tính
-
Đau cấp tính:
- Lưu ý: Thường nên áp dụng chiến lược đa mô thức (ví dụ: phối hợp các biện pháp dùng thuốc và không dùng thuốc) để kiểm soát đau. Mức độ đau cần được theo dõi bằng các công cụ đánh giá đau ở trẻ sơ sinh đã được thẩm định.
- Đường uống: 0,05 đến 0,1 mg/kg/liều mỗi 4 đến 8 giờ khi cần.
- Tiêm bắp, tiêm tĩnh mạch (ưu tiên), tiêm dưới da: Liều khởi đầu: 0,05 đến 0,1 mg/kg/liều mỗi 4 đến 8 giờ khi cần; sử dụng liều thấp nhất có hiệu quả và điều chỉnh liều thận trọng theo chỉ định lâm sàng.
-
Truyền tĩnh mạch liên tục:
- Lưu ý: Thận trọng nếu người bệnh có nguy cơ hạ huyết áp; một số chuyên gia khuyến cáo không dùng ở trẻ sơ sinh có tuổi thai <27 tuần.
- Trẻ sơ sinh non tháng và đủ tháng: Liều khởi đầu: 0,01 mg/kg/giờ (10 microgam/kg/giờ); hiệu chỉnh liều thận trọng dựa trên đáp ứng của người bệnh và cân nhắc lợi ích so với nguy cơ tăng thêm phơi nhiễm opioid; khoảng liều thường dùng: 0,01 đến 0,05 mg/kg/giờ (10 đến 50 microgam/kg/giờ); một số người bệnh có thể cần liều cao hơn.
Đặt nội khí quản, không cấp cứu
- Lưu ý: Morphin không phải thuốc được ưu tiên trong bối cảnh này; chỉ sử dụng khi không có sẵn các opioid khác.
- Trẻ sơ sinh non tháng và đủ tháng: Tiêm bắp, tiêm tĩnh mạch: 0,05 đến 0,1 mg/kg; tiêm trong 5 phút; chờ ít nhất 5 phút để khởi phát tác dụng giảm đau; có thể dùng phối hợp với các thuốc khác.
Hội chứng cai opioid ở trẻ sơ sinh
- Dữ liệu còn hạn chế; phác đồ liều có thể khác nhau.
- Lưu ý: Trong phần lớn các nghiên cứu, thang điểm Finnegan được dùng để đánh giá hội chứng cai ở trẻ sơ sinh nhằm xác định mức độ nặng của triệu chứng cai. Điều trị bằng morphin được khởi trị khi có 3 lần chấm điểm liên tiếp ≥8 hoặc 2 lần liên tiếp ≥12; liều được tăng theo cùng tiêu chí này. Ngoài ra, các công cụ đánh giá khác (ví dụ: Eat, Sleep, Console [ESC]) cũng đã được sử dụng.
-
Liều khởi đầu và tăng liều để kiểm soát triệu chứng:
- Trẻ sơ sinh non tháng và đủ tháng: Đường uống: liều khởi đầu 0,03 đến 0,05 mg/kg/liều mỗi 3 đến 4 giờ; có thể cần liều khởi đầu cao hơn nếu người bệnh có triệu chứng nặng. Nếu triệu chứng chưa được kiểm soát, có thể tăng thêm 0,03 đến 0,05 mg/kg/liều khi cần; liều tối đa thường dùng: 0,2 mg/kg/liều. Mặc dù có khuyến cáo liều tối đa từ AAP, nhìn chung chưa có sự đồng thuận hoặc bằng chứng vững chắc về một liều tối đa cụ thể; một số báo cáo sử dụng liều cao hơn, trong khi các báo cáo khác lựa chọn bổ sung điều trị hỗ trợ.
- Các nghiên cứu khác cũng ghi nhận nhiều cách tiếp cận khác nhau, bao gồm sử dụng điểm Finnegan để xác định liều morphin khởi đầu và áp dụng phác đồ morphin theo triệu chứng dựa trên công cụ đánh giá ESC.
-
Giảm liều sau khi đã kiểm soát triệu chứng:
- Lưu ý: Liều và lịch giảm liều cần được cá thể hóa dựa trên đáp ứng của người bệnh; theo dõi sát các triệu chứng cai cũng như dấu hiệu tích lũy thuốc. Việc giảm liều morphin thường được thực hiện sau khi các triệu chứng cai đã được kiểm soát; thông thường bắt đầu giảm liều sau 24 đến 72 giờ khi điểm số cai ổn định.
- Trẻ sơ sinh non tháng và đủ tháng: Đường uống: không có phác đồ giảm liều chuẩn; việc giảm liều rất thay đổi và phụ thuộc từng người bệnh. Một cách tiếp cận đã được báo cáo là giảm 10% đến 20% liều tối đa mỗi 24 đến 48 giờ nếu dung nạp; cũng có báo cáo giảm liều và/hoặc giảm tần suất dùng hằng ngày. Tham khảo các nghiên cứu cụ thể hoặc quy trình tại cơ sở điều trị để biết chi tiết giảm liều.
Trẻ em
- An toàn: Điều chỉnh liều theo đáp ứng lâm sàng phù hợp; sử dụng liều thấp nhất có hiệu quả trong thời gian ngắn nhất để đạt mục tiêu điều trị.
- Đánh giá nhu cầu và trao đổi với người bệnh và/hoặc người chăm sóc về tính sẵn có của naloxon nhằm xử trí cấp cứu khi quá liều opioid tại thời điểm khởi trị và khi gia hạn điều trị.
- Các dạng bào chế (đường tiêm và đường uống) có nhiều nồng độ khác nhau; cần thận trọng để tránh nhầm lẫn giữa các nồng độ. Đơn thuốc phải ghi rõ nồng độ của chế phẩm và liều dùng phải được thể hiện rõ ràng bằng miligam (mg) morphin, không ghi theo thể tích (mL).
- Thận trọng khi thay đổi đường dùng vì hiệu lực có thể khác nhau giữa một số chế phẩm.
Bệnh viện Nhi Đồng 1
- TB, TM: 0.1 mg/kg/liều
- Liều truyền tĩnh mạch 5 - 40 mcg/kg/giờ
Đau cấp tính, mức độ nặng (người bệnh chưa từng dùng opioid)
- Lưu ý: Tiêm dưới da lặp lại có thể gây kích ứng mô tại chỗ, đau và xơ cứng. Hiện nay không còn khuyến cáo tiêm bắp, đặc biệt khi dùng lặp lại do gây đau, hấp thu thất thường và chậm đạt nồng độ đỉnh; các đường dùng khác đáng tin cậy hơn và ít đau hơn.
-
Trẻ nhũ nhi ≤6 tháng tuổi:
- Lưu ý: Trẻ nhũ nhi <3 tháng tuổi nhạy cảm hơn với ức chế hô hấp và tác dụng không mong muốn trên tim mạch; cần đặc biệt thận trọng, cân nhắc theo dõi hô hấp–tuần hoàn thường xuyên hoặc liên tục và sử dụng thuốc tại cơ sở có khả năng xử trí nhanh suy hô hấp.
-
Dùng ngắt quãng:
- Đường uống: Dung dịch uống (2 mg/mL hoặc 4 mg/mL): Liều khởi đầu: 0,08 đến 0,1 mg/kg/liều mỗi 3 đến 4 giờ.
- Tiêm tĩnh mạch hoặc tiêm dưới da: Liều khởi đầu: 0,025 đến 0,05 mg/kg/liều mỗi 2 đến 4 giờ.
- Truyền tĩnh mạch liên tục: Liều khởi đầu: 0,008 đến 0,02 mg/kg/giờ (8 đến 20 microgam/kg/giờ); chỉnh liều thận trọng theo đáp ứng. Ở người bệnh nặng trong ICU, một số khuyến cáo sử dụng liều khởi đầu cao hơn 0,05 mg/kg/giờ (50 microgam/kg/giờ).
-
Trẻ nhũ nhi >6 tháng, Trẻ em và Thanh thiếu niên:
-
Dùng ngắt quãng:
-
Đường uống:
- Cân nặng <50 kg: Viên giải phóng nhanh, dung dịch uống: Liều khởi đầu: 0,15 đến 0,3 mg/kg/liều mỗi 3 đến 4 giờ khi cần; một số chuyên gia khuyến cáo liều khởi đầu cao hơn đến 0,5 mg/kg; liều tối đa khởi đầu thường dùng: 10 đến 20 mg/liều.
- Cân nặng ≥50 kg: Viên giải phóng nhanh, dung dịch uống: 10 đến 20 mg mỗi 3 đến 4 giờ khi cần.
-
Tiêm tĩnh mạch, tiêm dưới da:
- Cân nặng <50 kg: Liều khởi đầu: 0,05 đến 0,1 mg/kg/liều mỗi 2 đến 4 giờ; chỉnh liều theo đáp ứng người bệnh.
- Cân nặng ≥50 kg: Liều khởi đầu: 2 đến 5 mg mỗi 2 đến 4 giờ khi cần. Ở người bệnh chưa từng dùng opioid, dùng mức thấp của khoảng liều; một số khuyến cáo liều cao hơn (5 đến 8 mg mỗi 2 đến 4 giờ khi cần).
-
Đường uống:
-
Truyền tĩnh mạch liên tục, truyền dưới da liên tục:
- Lưu ý: Người bệnh cần được theo dõi hô hấp liên tục (ví dụ: đo SpO₂) và điều trị tại cơ sở có khả năng xử trí nhanh suy hô hấp.
- Cân nặng <50 kg: Liều khởi đầu: 0,01 mg/kg/giờ (10 microgam/kg/giờ); chỉnh liều thận trọng theo đáp ứng; khoảng liều: 0,01 đến 0,04 mg/kg/giờ (10 đến 40 microgam/kg/giờ). Ở người bệnh nặng trong ICU, một số khuyến cáo liều khởi đầu cao hơn 0,05 mg/kg/giờ (50 microgam/kg/giờ).
- Cân nặng ≥50 kg: Liều khởi đầu: 1,5 mg/giờ; chỉnh liều thận trọng theo đáp ứng lâm sàng; liều duy trì thường dùng: 0,8 đến 3 mg/giờ. Ở người bệnh nặng trong ICU, một số khuyến cáo liều khởi đầu cao hơn 2 mg/giờ.
- Chuyển đổi từ morphin tiêm tĩnh mạch ngắt quãng: Truyền liên tục trong 24 giờ với tổng liều morphin tĩnh mạch đã dùng trong 24 giờ trước đó; chỉnh liều theo đáp ứng phù hợp.
-
Giảm liều sau điều trị kéo dài (có lệ thuộc thể chất):
- Lưu ý: Không ngừng morphin đột ngột; chưa có lịch giảm liều tối ưu được xác lập; cá thể hóa theo đáp ứng người bệnh; khuyến cáo sử dụng công cụ đánh giá triệu chứng cai.
- Truyền tĩnh mạch liên tục: Trẻ nhũ nhi, Trẻ em và Thanh thiếu niên: Giảm 25% đến 50% liều mỗi 2 đến 4 ngày; theo dõi sát dấu hiệu và triệu chứng cai sau mỗi lần giảm liều.
- Dung dịch uống: Trẻ em ≥2 tuổi và Thanh thiếu niên: Giảm không quá 10% đến 25% tổng liều hằng ngày mỗi 2 đến 4 tuần; theo dõi sát dấu hiệu và triệu chứng cai sau mỗi lần giảm liều. Người bệnh dùng opioid trong thời gian ngắn có thể dung nạp lịch giảm liều nhanh hơn.
-
Dùng ngắt quãng:
Đau mạn tính
- Lưu ý: Không có liều tối ưu hoặc liều tối đa cố định của morphin trong điều trị đau mạn tính. Liều phù hợp là liều giúp kiểm soát đau trong suốt khoảng cách liều mà không gây tác dụng không mong muốn không thể dung nạp. Khi kê đơn, cần cân nhắc tổng liều hằng ngày, hiệu lực thuốc, tiền sử sử dụng opioid, mức độ quen thuốc và dung nạp opioid, chuyển đổi từ opioid trước đó (bao gồm cả dạng bào chế), tình trạng chung của người bệnh, thuốc dùng đồng thời, cũng như loại và mức độ nặng của đau. Đánh giá nhu cầu và trao đổi với người bệnh và/hoặc người chăm sóc về tính sẵn có của naloxon để xử trí cấp cứu khi quá liều opioid tại thời điểm khởi trị và khi gia hạn điều trị.
-
Đường uống:
- Lưu ý: Nhu cầu morphin của người bệnh nên được xác định bằng các dạng giải phóng nhanh. Có thể cân nhắc chuyển sang các chế phẩm tác dụng kéo dài khi cần điều trị mạn tính, liên tục. Liều cao chỉ nên dùng cho người bệnh đã dung nạp opioid.
-
Viên nén giải phóng kéo dài (ví dụ: MS Contin):
Dữ liệu còn hạn chế; áp dụng cho Trẻ em và Thanh thiếu niên có khả năng nuốt nguyên viên:
-
Liều cố định:
- Cân nặng 20 đến <35 kg: 10 đến 15 mg mỗi 8 đến 12 giờ. Lưu ý: Hàm lượng 10 mg không có sẵn tại Hoa Kỳ.
- Cân nặng 35 đến <50 kg: 15 đến 30 mg mỗi 8 đến 12 giờ.
- Cân nặng ≥50 kg: 30 đến 45 mg mỗi 8 đến 12 giờ.
- Liều theo cân nặng: 0,3 đến 0,6 mg/kg/liều mỗi 12 giờ.
-
Liều cố định:
- Ngừng các dạng giải phóng kéo dài: Nói chung, giảm liều từ từ (ví dụ: giảm 10% đến 25% mỗi 2 đến 4 tuần). Không ngừng thuốc đột ngột.
- Chuyển từ morphin đường tiêm hoặc opioid khác sang dạng giải phóng kéo dài: Có sự khác biệt lớn giữa các người bệnh về hiệu lực tương đối. Do đó, an toàn hơn khi ước tính thấp hơn nhu cầu morphin uống hằng ngày so với ước tính quá cao. Cân nhắc tỷ lệ chuyển đổi morphin tiêm sang morphin uống hoặc chuyển đổi từ opioid tiêm khác sang morphin uống; chia tổng liều morphin uống hằng ngày theo khoảng cách liều phù hợp với chế phẩm giải phóng kéo dài dự định sử dụng.
- Chuyển từ dạng morphin uống khác sang dạng giải phóng kéo dài: Trẻ em và Thanh thiếu niên có thể nuốt nguyên viên: Tổng liều morphin uống hằng ngày có thể chia thành 2 lần/ngày (mỗi 12 giờ) hoặc 3 lần/ngày (mỗi 8 giờ).
- Truyền tĩnh mạch liên tục: Trẻ em và Thanh thiếu niên: Liều khởi đầu: 0,01 đến 0,04 mg/kg/giờ (10 đến 40 microgam/kg/giờ); người bệnh đã dung nạp opioid có thể cần liều cao hơn.
Ngoài màng cứng
- Dữ liệu còn hạn chế
- Lưu ý: Phải sử dụng dạng thuốc không chứa chất bảo quản
-
Tiêm ngắt quãng:
:
- Trẻ nhũ nhi, Trẻ em và Thanh thiếu niên : Ngoài màng cứng : 0,015 đến 0,05 mg/kg/liều (15 đến 50 mcg/kg/liều); đường dùng ngoài màng cứng có thể giảm đau trong 12 đến 24 giờ.
- Liều tối đa : 0,1 mg/kg (100 mcg/kg) hoặc 5 mg trong 24 giờ.
-
Truyền ngoài màng cứng liên tục
:
- Trẻ nhũ nhi >6 tháng, Trẻ em và Thanh thiếu niên : Ngoài màng cứng : 0,001 đến 0,005 mg/kg/giờ (1 đến 5 mcg/kg/giờ).
Chăm sóc giảm nhẹ, xử trí khó thở
-
Đường hít
(khí dung; sử dụng dung dịch tiêm không chứa chất bảo quản):
- Lưu ý: Liều cần được cá thể hóa và phụ thuộc vào mức độ phơi nhiễm opioid toàn thân trước đây hoặc hiện tại của người bệnh; liều dùng không nhằm mục đích giảm đau; cần tiếp tục liệu pháp giảm đau toàn thân hiện tại.
- Trẻ nhũ nhi, Trẻ em và Thanh thiếu niên : Dữ liệu rất hạn chế, hiệu quả ghi nhận không đồng nhất.
- Liều khởi đầu : Đường hít: Tương đương với nhu cầu morphin toàn thân trong 4 giờ của người bệnh (ví dụ: liều đường tĩnh mạch hoặc đường uống); điều chỉnh liều theo đáp ứng; có khuyến nghị dùng mỗi 4 đến 6 giờ.
- Trong báo cáo ca bệnh nhi khoa duy nhất (xơ nang giai đoạn cuối, 10 tuổi, cân nặng 20 kg), liều khởi đầu là 2,5 mg và liều cuối cùng là 10 mg mỗi 4 đến 6 giờ.
-
Đường uống
:
- Trẻ nhũ nhi, Trẻ em và Thanh thiếu niên : Dữ liệu còn hạn chế.
- Dạng giải phóng nhanh : Đường uống: Liều khởi đầu: 0,075 đến 0,15 mg/kg/liều mỗi 4 giờ khi cần; điều chỉnh liều nhằm đảm bảo sự dễ chịu cho người bệnh.
-
Truyền tĩnh mạch liên tục hoặc truyền dưới da liên tục
:
- Lưu ý: Khuyến nghị sử dụng khi điều trị đường uống không hiệu quả.
- Trẻ nhũ nhi, Trẻ em và Thanh thiếu niên : Dữ liệu còn hạn chế.
- Liều khởi đầu : 0,005 mg/kg/giờ (5 mcg/kg/giờ); điều chỉnh liều nhằm đảm bảo sự dễ chịu cho người bệnh; liều dùng dựa trên xử trí giảm nhẹ ở trẻ nhũ nhi giai đoạn cuối mắc teo cơ tủy sống (type 1).
Giảm đau do người bệnh tự kiểm soát (PCA), chưa từng sử dụng opioid trước đó
- Lưu ý: Tất cả người bệnh cần được dùng một liều nạp thuốc giảm đau ban đầu (để đạt kiểm soát đau đầy đủ) trước khi bắt đầu PCA để duy trì. Điều chỉnh liều, số lần khóa và giới hạn dựa trên liều nạp cần thiết, độ tuổi, tình trạng sức khỏe và sự hiện diện của dung nạp opioid. Đánh giá người bệnh và mức độ kiểm soát đau định kỳ và điều chỉnh cài đặt khi cần.
-
Trẻ em ≥5 tuổi và Thanh thiếu niên, cân nặng <50 kg
:
- Lưu ý: PCA đã được sử dụng ở trẻ từ 5 tuổi; tuy nhiên, cần đánh giá trẻ từ 5 đến 8 tuổi để xác định khả năng sử dụng thiết bị PCA đúng cách.
- Nồng độ tĩnh mạch thường dùng: 1 mg/mL.
- Liều yêu cầu (demand dose) : Liều khởi đầu thường dùng: Tiêm tĩnh mạch: 0,02 mg/kg/liều; khoảng liều thường dùng: 0,01 đến 0,03 mg/kg/liều.
- Giới hạn số liều (lockout theo giờ): Khởi đầu thường dùng: 5 liều/giờ.
- Thời gian khóa giữa các liều (lockout interval): Khoảng: 6 đến 8 phút.
- Tốc độ nền thường dùng: Truyền tĩnh mạch: 0 đến 0,03 mg/kg/giờ.
-
Trẻ em ≥5 tuổi và Thanh thiếu niên, cân nặng ≥50 kg
:
- Lưu ý: PCA đã được sử dụng ở trẻ từ 5 tuổi; tuy nhiên, cần đánh giá trẻ từ 5 đến 8 tuổi để xác định khả năng sử dụng thiết bị PCA đúng cách.
- Nồng độ tĩnh mạch thường dùng: 1 mg/mL.
- Liều yêu cầu (demand dose) : Liều khởi đầu thường dùng: Tiêm tĩnh mạch: 1 mg; khoảng liều thường dùng: 0,5 đến 2,5 mg.
- Thời gian khóa giữa các liều (lockout interval): Khởi đầu thường dùng: 6 phút; khoảng thường dùng: 5 đến 10 phút.
Đau do thủ thuật và an thần
-
Trẻ nhũ nhi, Trẻ em và Thanh thiếu niên
:
- Đường tĩnh mạch : 0,05 đến 0,1 mg/kg/liều; cân nhắc sử dụng liều thấp nhất ở trẻ lớn và thanh thiếu niên.
- Dùng thuốc 5 phút trước khi thực hiện thủ thuật.
- Liều tối đa: 4 mg/liều.
- Có thể lặp lại liều sau 5 phút nếu cần thiết.
Tứ chứng Fallot, cơn tím cấp (co thắt phễu thất phải)
Dữ liệu còn hạn chế
-
Trẻ nhũ nhi và Trẻ em
:
- Đường tĩnh mạch: 0,1 mg/kg liều duy nhất.
- Đường tiêm bắp: 0,1 đến 0,2 mg/kg liều duy nhất.
- Đường tiêm dưới da: 0,2 mg/kg liều duy nhất.
Điều chỉnh liều khi dùng đồng thời với thuốc khác
- Tồn tại các tương tác thuốc có ý nghĩa lâm sàng, có thể yêu cầu điều chỉnh liều/tần suất dùng hoặc tránh phối hợp.
- Tra cứu cơ sở dữ liệu tương tác thuốc để biết thêm thông tin chi tiết.
Chỉnh liều dùng: Suy thận (bệnh nhân nhi)
-
Trẻ nhũ nhi, Trẻ em và Thanh thiếu niên
:
- Không có khuyến cáo điều chỉnh liều cụ thể trong thông tin kê đơn của nhà sản xuất.
- Nói chung, nhà sản xuất khuyến nghị khởi đầu thận trọng với liều thấp hơn, tăng liều chậm và theo dõi chặt chẽ tác dụng không mong muốn.
- Tuy nhiên, lựa chọn một thuốc thay thế có thể là hợp lý ở người bệnh có suy giảm chức năng thận nền hoặc chức năng thận thay đổi nhanh, đặc biệt khi các thuốc giảm đau khác có thể an toàn hơn và việc giảm liều morphin ban đầu có thể dẫn đến giảm hiệu quả giảm đau.
- Mặc dù độ thanh thải morphin tương tự như ở người có chức năng thận bình thường, các chất chuyển hóa glucuronid của morphin (M3G [không có hoạt tính giảm đau; có thể góp phần gây kích thích hệ thần kinh trung ương] và M6G [có hoạt tính giảm đau]) tích lũy khi suy thận, làm tăng độ nhạy cảm với thuốc; người bệnh có thể gặp ức chế hô hấp nặng và kéo dài, thậm chí có thể xuất hiện muộn.
Chỉnh liều dùng: Suy gan (bệnh nhân nhi)
-
Trẻ nhũ nhi, Trẻ em và Thanh thiếu niên
:
- Không có khuyến cáo điều chỉnh liều trong thông tin kê đơn của nhà sản xuất.
- Dược động học không thay đổi ở bệnh gan mức độ nhẹ; có thể xảy ra chuyển hóa đáng kể ngoài gan.
- Ở người bệnh xơ gan, nhà sản xuất khuyến nghị khởi đầu thận trọng với liều thấp hơn, tăng liều chậm và theo dõi chặt chẽ các tác dụng không mong muốn.
Người lớn
Hướng dẫn liều dùng
- An toàn:
- Cân nhắc chỉ định naloxon hoặc nalmefen như thuốc giải độc trong bối cảnh quá liều opioid. Việc kê đơn nên hướng tới người bệnh có yếu tố làm tăng nguy cơ quá liều, bao gồm: tiền sử quá liều hoặc rối loạn sử dụng chất; người bệnh có rối loạn hô hấp khi ngủ; người bệnh đang dùng liều opioid cao (≥50 miligam tương đương morphin [MME]/ngày đường uống) và/hoặc dùng đồng thời benzodiazepin.
- Nguyên tắc liều dùng:
- Các liều nêu trong hướng dẫn dựa trên liều thường dùng; thực hành có thể yêu cầu điều chỉnh tăng hoặc giảm tùy người bệnh.
- Cần cá thể hóa liều dựa trên các đặc điểm riêng của từng người bệnh (ví dụ: bệnh kèm, mức độ đau, mức độ đã từng sử dụng/dung nạp opioid) và chỉnh liều theo mục tiêu điều trị cụ thể (ví dụ: cải thiện chức năng và chất lượng cuộc sống, giảm đau theo thang điểm đau đã được chuẩn hóa).
- Sử dụng liều thấp nhất có hiệu quả trong thời gian ngắn nhất cần thiết.
- Lưu ý lâm sàng:
- Opioid có thể được xem là một phần của kế hoạch điều trị toàn diện, đa mô thức và cá thể hóa cho đau mức độ vừa đến nặng.
- Ưu tiên tối ưu hóa các biện pháp giảm đau không dùng opioid (khi phù hợp) trước khi khởi đầu điều trị bằng opioid.
Hội chứng mạch vành cấp, đau ngực do thiếu máu cơ tim kháng trị
- Lưu ý:
- Chỉ sử dụng cho người bệnh vẫn còn đau ngực do thiếu máu cơ tim mặc dù đã dùng các thuốc chống thiếu máu cơ tim ở liều tối đa dung nạp.
- Việc sử dụng thường quy trong hội chứng mạch vành cấp có liên quan đến kết cục lâm sàng xấu hơn; đồng thời sử dụng với các thuốc ức chế P2Y12 đường uống có thể làm giảm tác dụng kháng kết tập tiểu cầu.
- Đường tĩnh mạch (IV):
- Khởi đầu 2 đến 4 mg, sau đó dùng 2 đến 8 mg mỗi 5 đến 15 phút khi cần.
Đau cấp ở bệnh nhân chưa từng dùng opioid (opioid-naive)
- Nguyên tắc chung:
- Đối với đau cấp không do ung thư nhưng đủ mức độ để cần opioid, cần thực hiện kiểm soát đau đa mô thức; tối ưu hóa thuốc giảm đau không opioid; đồng thời giới hạn số lượng thuốc kê đơn theo thời gian dự kiến còn đau nặng cần opioid.
- Thông thường tránh dùng các chế phẩm tác dụng kéo dài để điều trị đau cấp ở bệnh nhân chưa từng dùng opioid.
- Đường uống – Bệnh nhân chưa từng dùng opioid:
- Dạng giải phóng nhanh: dung dịch uống, viên nén
- Lưu ý: Cân nhắc lựa chọn các opioid đường uống thường được kê đơn hơn (ví dụ: oxycodone) thay cho morphin. Dung dịch uống đậm đặc 100 mg/5 mL (tương đương 20 mg/mL) không được chỉ định cho bệnh nhân chưa từng dùng opioid.
- Liều khởi đầu: 7,5 đến 15 mg mỗi 3 đến 4 giờ khi cần; nếu chưa giảm đau đủ, có thể tăng liều theo mức dung nạp.
- Khoảng liều thông thường: 7,5 đến 15 mg mỗi 3 đến 4 giờ khi cần.
- Có thể dùng tới 30 mg mỗi 4 giờ khi cần đối với đau cấp nặng ở bệnh nhân nội trú có nguy cơ suy hô hấp thấp.
- Đường tĩnh mạch (IV) – Bệnh nhân chưa từng dùng opioid:
- Tiêm ngắt quãng:
- Liều khởi đầu: 1 đến 4 mg mỗi 1 đến 4 giờ khi cần; nếu chưa đạt hiệu quả giảm đau, có thể tăng liều theo mức dung nạp.
- Có thể dùng tới 10 mg mỗi 4 giờ khi cần trong đau cấp nặng ở bệnh nhân nội trú có nguy cơ suy hô hấp thấp.
- Trong một số cơn đau cấp nặng (ví dụ: chấn thương), ban đầu có thể nhắc lại thường xuyên hơn (mỗi 5 đến 15 phút) để đạt kiểm soát đau, sau đó giảm tần suất (ví dụ: mỗi 3 đến 4 giờ khi cần).
- Giảm đau do bệnh nhân tự kiểm soát (PCA – Patient-Controlled Analgesia):
- Chỉ định nhằm duy trì kiểm soát đau sau khi đã đạt giảm đau ban đầu. Nếu giảm đau chưa đủ, có thể điều chỉnh liều và bổ sung liều bolus cứu nguy.
- Nồng độ thường dùng: 1 mg/mL
- Liều nhấn (demand dose): thường 0,5 đến 2 mg
- Liều nền (basal infusion): nhìn chung không khuyến cáo ở bệnh nhân chưa từng sử dụng opioid do nguy cơ suy hô hấp. Chỉ cân nhắc ở bệnh nhân chọn lọc kỹ (ví dụ: đã dung nạp opioid) và/hoặc điều trị tại đơn vị hồi sức tích cực.
- Khoảng khóa (lockout interval): 6 đến 10 phút
- Tiêm bắp (IM) – Không khuyến cáo sử dụng thường quy:
- Liều khởi đầu: 5 đến 10 mg mỗi 3 đến 4 giờ khi cần; có thể tăng liều theo mức dung nạp nếu chưa đủ giảm đau.
- Lưu ý: Đường tiêm bắp thường không được khuyến cáo do đau tại chỗ tiêm, hấp thu thay đổi và thời gian đạt đỉnh tác dụng chậm.
- Đường trực tràng (có thể thay thế đường IV hoặc uống):
- Liều khởi đầu: 10 mg mỗi 4 giờ, dùng theo lịch hoặc khi cần.
- Có thể tăng hoặc giảm liều theo mức dung nạp, tuân theo các thận trọng tương tự như đường uống; tối đa đến 30 mg mỗi 4 giờ, dùng theo lịch hoặc khi cần.
Đau cấp ở bệnh nhân đã dung nạp opioid (ví dụ: đau bùng phát do ung thư)
- Đường uống, IV, dưới da (SUBQ):
- Dùng ngắt quãng – Liều thường dùng: Phối hợp với opioid tác dụng kéo dài dùng theo lịch; sử dụng morphin dạng giải phóng nhanh khi cần với liều bằng 5% đến 20% tổng nhu cầu morphin nền hằng ngày (tính theo mg tương đương morphin – MME).
- Điều chỉnh liều tiếp theo dựa trên đáp ứng lâm sàng.
- Giảm đau do bệnh nhân tự kiểm soát (PCA – Patient-Controlled Analgesia): a
- Morphin: Ví dụ khoảng liều PCA khởi đầu cho bệnh nhân đã dung nạp opioid
- Nồng độ thường dùng: 1 mg/mL
- Liều nhấn (demand dose): b : khoảng thường dùng 0,5 đến 2 mg
- Liều nền (truyền liên tục): nhìn chung không khuyến cáo truyền liên tục ở bệnh nhân chưa từng sử dụng opioid; do nguy cơ suy hô hấp, chỉ nên áp dụng liều nền ở các bệnh nhân đã dung nạp opioid được lựa chọn cẩn thận và/hoặc đang điều trị tại đơn vị hồi sức tích cực.
- Khoảng khóa (lockout interval): b : 6 đến 10 phút
- a PCA được sử dụng để duy trì kiểm soát đau sau khi đã đạt được giảm đau ban đầu. Nếu giảm đau chưa đầy đủ, có thể điều chỉnh liều và bổ sung liều bolus cứu nguy.
- b Ở bệnh nhân đang sử dụng opioid liều cao mạn tính (ví dụ: >50 MME/ngày) hoặc đang điều trị rối loạn sử dụng opioid (ví dụ: methadone hoặc buprenorphine), có thể khởi đầu với liều nhấn ở mức cao của khoảng liều và khoảng khóa ở mức thấp của khoảng khuyến cáo, đồng thời tiếp tục opioid nền. Cần theo dõi chặt chẽ hiệu quả giảm đau và các tác dụng không mong muốn liên quan đến opioid để điều chỉnh PCA phù hợp.
Đau cấp sau phẫu thuật – tại đơn vị chăm sóc sau gây mê (PACU)
- Lưu ý:
- Tối ưu hóa chiến lược giảm đau đa mô thức chu phẫu (ví dụ: gây tê vùng hoặc tại chỗ, phong bế thần kinh, thuốc giảm đau không opioid và các thuốc hỗ trợ khác) nhằm giảm nhu cầu sử dụng opioid.
- Tham khảo phác đồ điều trị của từng cơ sở.
- Đường tĩnh mạch (IV):
- Dùng 1 đến 3 mg; có thể nhắc lại mỗi 5 phút cho đến khi đạt giảm đau đầy đủ hoặc xuất hiện tác dụng không mong muốn (ví dụ: suy hô hấp, giảm bão hòa oxy, hạ huyết áp).
- Sau khi kiểm soát đau ban đầu, giảm tần suất dùng và điều chỉnh liều dựa trên mức độ dung nạp opioid của người bệnh (xem mục “Đau cấp ở bệnh nhân chưa dùng opioid trước đó” hoặc “Đau cấp ở bệnh nhân đã dung nạp opioid” ở trên).
Đau cấp do cơn tắc mạch (vaso-occlusive) trong bệnh hồng cầu hình liềm
- Lưu ý:
- Liều trình bày dưới đây áp dụng cho người bệnh không có sẵn kế hoạch điều trị đau cá thể hóa và chưa rõ liều opioid đã dùng hiệu quả trong các đợt trước.
- Nếu có thông tin về liều opioid đã sử dụng trong đợt trước, chọn liều khởi đầu dựa trên mức độ đau hiện tại so với đợt trước và liều đã từng có hiệu quả.
- Tham khảo phác đồ kiểm soát đau cá nhân của người bệnh hoặc phác đồ của cơ sở điều trị nếu có.
- Đường tĩnh mạch (IV):
- Liều khởi đầu: 3 đến 7 mg (liều khởi đầu tối đa: 10 mg) dùng một lần càng sớm càng tốt (ví dụ: trong vòng 30 đến 60 phút kể từ khi nhập viện).
- Nếu đau nặng vẫn tiếp diễn, có thể lặp lại cùng liều hoặc dùng liều bằng 50% liều ban đầu mỗi khoảng 20 phút.
- Có thể tăng liều thêm tối đa 25% nếu cần.
- Theo dõi sát tình trạng an thần và suy hô hấp.
Đau mạn tính, bao gồm đau do ung thư mạn tính
-
Nguyên tắc chung khi cân nhắc điều trị opioid kéo dài:
- Trước khi bắt đầu liệu pháp opioid cho đau mạn, cần xác lập mục tiêu điều trị khả thi nhằm giảm đau và cải thiện chức năng, đồng thời hoạch định phương án ngừng điều trị nếu lợi ích không vượt trội so với rủi ro.
- Opioid, bao gồm morphin, không phải là lựa chọn ưu tiên cho đau mạn không do ung thư vì bằng chứng về lợi ích còn hạn chế và nguy cơ gây hại nghiêm trọng. Do đó, ưu tiên các biện pháp không dùng thuốc và các thuốc giảm đau không opioid, ngoại trừ đau mạn do bệnh hồng cầu hình liềm và chăm sóc cuối đời.
- Chỉ xem xét sử dụng opioid khi người bệnh đạt được cải thiện có ý nghĩa lâm sàng về mức độ đau và chức năng, vượt trội nguy cơ an toàn.
Bệnh nhân chưa từng dùng opioid: Trong đau không do ung thư, nhu cầu morphin cần được đánh giá ban đầu bằng dạng giải phóng tức thì (IR). Đối với đau do ung thư, có thể chuyển sang dạng tác dụng kéo dài sớm hơn trong quá trình điều trị.
-
Đường uống – Dạng giải phóng tức thì (dung dịch uống, viên nén):
- Lưu ý: Dung dịch uống đậm độ cao 100 mg/5 mL (20 mg/mL) không áp dụng cho bệnh nhân chưa từng dùng opioid.
- Đau không do ung thư hoặc đau do ung thư: Khởi đầu 5 đến 15 mg mỗi 4 giờ khi cần hoặc dùng đều đặn theo giờ ở một số trường hợp (ví dụ: đau do ung thư).
- Đối với đau mạn không do ung thư, đa số người bệnh kiểm soát đau với liều khởi đầu <50 mg/ngày.
-
Đường tĩnh mạch (IV) và dưới da (SUBQ):
- Thường áp dụng cho giai đoạn kịch phát cấp hoặc khi không dung nạp đường uống.
- Ở người bệnh đang tiến triển (ví dụ: ung thư), có thể sử dụng truyền liên tục IV hoặc SUBQ, có hoặc không kèm PCA, trong bối cảnh nhu cầu giảm đau tăng.
- Liều SUBQ nhìn chung tương đương liều IV.
- Cá thể hóa liều dựa trên lượng opioid trước đó và các quy đổi tương đương giảm đau; đồng thời chỉnh liều theo mức độ đau.
- Đau không do ung thư hoặc đau do ung thư – IV: Khởi đầu 2 đến 5 mg mỗi 2 đến 4 giờ khi cần.
- Đau do ung thư hoặc chăm sóc giảm nhẹ – SUBQ: Khởi đầu 2 đến 5 mg mỗi 3 đến 4 giờ khi cần. Nếu sử dụng truyền SUBQ liên tục, tham khảo phác đồ cơ sở; liều được báo cáo có thể dao động đáng kể tùy thực hành và nhu cầu người bệnh.
- Chỉnh liều (titration):
-
Đau không do ung thư:
- Điều chỉnh dựa trên đáp ứng. Nếu cần tăng liều, tăng chậm, mỗi lần không vượt quá 25% đến 50% tổng liều ngày.
- Liều ≥50 MME/ngày thường không làm tăng thêm lợi ích về giảm đau hoặc chức năng so với tổng nguy cơ.
- Khi đã tăng đến ≥50 MME/ngày (trừ bệnh hồng cầu hình liềm và chăm sóc giảm nhẹ), cần đánh giá lại mức độ đau và cân nhắc lợi ích – nguy cơ theo từng người bệnh.
-
Đau do ung thư:
- Điều chỉnh theo đáp ứng. Nếu cần, tăng liều cố định theo giờ thêm 30% đến 100% tổng liều đã dùng trong 24 giờ trước đó (bao gồm cả liều cứu hộ).
- Nếu điểm đau giảm và chức năng cải thiện, duy trì liều hiện tại đã chứng minh hiệu quả.
Bệnh nhân đã dung nạp opioid (xem mục quy đổi liều trong kiểm soát đau)
-
Đường uống – Dạng giải phóng kéo dài (ER):
- Mặc dù hướng dẫn nhà sản xuất mô tả khởi trị ER ở bệnh nhân chưa dùng opioid, các chế phẩm này không nên được sử dụng làm điều trị ban đầu. Nên khởi đầu bằng dạng IR để xác định chính xác nhu cầu opioid hằng ngày và giảm nguy cơ quá liều.
- Trừ trường hợp đau liên quan ung thư, chăm sóc giảm nhẹ hoặc bệnh hồng cầu hình liềm, chỉ dùng opioid ER cho người bệnh đã dùng opioid dạng IR hằng ngày ≥1 tuần nhưng vẫn còn đau nặng, dai dẳng.
- Viên nang ER (uống 1 hoặc 2 lần/ngày – vi hạt bao polymer): Liều tính toán có thể dùng 1 lần/ngày hoặc chia 2 lần mỗi 12 giờ; có thể xem xét giảm liều trong vài liều đầu khi chuyển từ IR. Ví dụ liều khởi đầu: 30 mg ngày 1 lần hoặc 15 mg mỗi 12 giờ. Có thể chỉnh liều mỗi 1 đến 2 ngày.
- Viên nén ER (MS Contin): Liều tính toán chia 2 lần (mỗi 12 giờ) hoặc 3 lần (mỗi 8 giờ); cân nhắc giảm liều trong vài liều đầu khi chuyển từ IR. Ví dụ liều khởi đầu: 15 mg mỗi 8 hoặc 12 giờ. Có thể chỉnh liều mỗi 1 đến 2 ngày.
- Từ morphin uống sang morphin tiêm: Tương đương xấp xỉ 30 mg uống : 10 mg IV/SUBQ.
-
Từ morphin IR uống sang morphin ER uống:
- Viên nang ER uống 1 lần/ngày (vi hạt): Tổng liều morphin uống/ngày dùng 1 lần; không dùng thường xuyên hơn mỗi 24 giờ.
- Viên nang ER uống 1 hoặc 2 lần/ngày (vi hạt bao polymer): Tổng liều/ngày dùng 1 lần; nếu kiểm soát đau không đủ, có thể chia 2 lần mỗi 12 giờ.
- Viên nén ER (MS Contin): Tổng liều/ngày chia 2 lần (mỗi 12 giờ) hoặc 3 lần (mỗi 8 giờ).
- Từ morphin uống sang morphin đặt trực tràng: Sinh khả dụng trực tràng được xem là gần tương đương đường uống (1:1) nhưng hấp thu biến thiên; do đó có thể cần giảm liều khi chuyển.
- Chuyển đổi giữa morphin và opioid khác: Tham khảo bảng quy đổi tương đương giảm đau đã công bố hoặc phác đồ cơ sở. Các tỷ lệ chỉ mang tính ước tính; nên giảm 25% đến 50% liều tính toán của opioid mới (trừ methadon) để bù cho tình trạng thiếu dung nạp chéo hoàn toàn trên thụ thể mu.
-
Ngừng thuốc hoặc giảm liều dần:
- Khi giảm liều hoặc ngừng opioid kéo dài, cần giảm liều từ từ. Chưa có lịch giảm liều tối ưu; cá thể hóa dựa trên trao đổi với người bệnh, mục tiêu điều trị và dược động học của thuốc.
- Các lịch trình đề xuất dao động từ chậm (ví dụ: giảm 10% mỗi tuần hoặc mỗi tháng tùy thời gian điều trị) đến nhanh (giảm 25% đến 50% mỗi vài ngày).
- Giảm chậm phù hợp hơn sau sử dụng dài hạn (>1 năm); giảm nhanh hơn có thể áp dụng khi có tác dụng phụ nghiêm trọng.
- Trong giai đoạn giảm liều, nguy cơ quá liều tăng nếu người bệnh quay lại liều cũ hoặc sử dụng opioid bất hợp pháp do mất dung nạp nhanh. Cân nhắc kê thuốc đảo ngược quá liều opioid (ví dụ: naloxon, nalmefen).
- Theo dõi sát triệu chứng cai. Nếu xuất hiện, có thể làm chậm tiến độ giảm liều bằng cách kéo dài khoảng giữa các lần giảm, giảm mức giảm mỗi lần, tạm ngừng và khởi động lại khi sẵn sàng, và/hoặc phối hợp thuốc chủ vận alpha-2 (ví dụ: clonidin) để giảm triệu chứng thần kinh tự động; đồng thời có thể phối hợp các thuốc hỗ trợ khác để điều trị triệu chứng tiêu hóa và co cơ khi cần.
- Tiếp tục cung cấp thuốc giảm đau không opioid khi cần trong suốt quá trình giảm liều.
Ho ở một số bệnh nhân (thuốc thay thế) (sử dụng ngoài chỉ định được phê duyệt)
-
Lưu ý áp dụng:
- Chỉ sử dụng cho bệnh nhân ho mạn tính không rõ nguyên nhân kéo dài >3 tháng, không đáp ứng với các biện pháp không dùng thuốc, đã điều trị thử các nguyên nhân thường gặp của ho mạn và các thuốc giảm ho không đặc hiệu (ví dụ: dextromethorphan, benzonatat), hoặc ho mức độ trung bình đến nặng trong bối cảnh chăm sóc giảm nhẹ.
- Ngoài bối cảnh chăm sóc giảm nhẹ, một số chuyên gia khuyến cáo chỉ dùng thử trong thời gian giới hạn (ví dụ: 4 đến 6 tuần).
- Ngừng điều trị nếu không ghi nhận cải thiện lâm sàng sau 1 đến 2 tuần điều trị.
Dạng giải phóng kéo dài
-
Viên nang giải phóng kéo dài
(uống 1 hoặc 2 lần/ngày – vi hạt bao polymer):
- Khởi đầu: uống 10 mg/ngày.
- Có thể tăng lên 10 mg x 2 lần/ngày hoặc 20 mg ngày 1 lần dựa trên đáp ứng và khả năng dung nạp sau ≥1 tuần.
-
Viên nén giải phóng kéo dài:
- Khởi đầu: uống 15 mg ngày 1 lần (dựa trên thời điểm triệu chứng nặng nhất).
- Có thể tăng lên 15 mg x 2 lần/ngày dựa trên đáp ứng và khả năng dung nạp sau ≥1 tuần.
Dạng giải phóng tức thì
-
Dung dịch uống:
- Khởi đầu: uống 5 mg mỗi 4 giờ khi cần để kiểm soát triệu chứng.
- Lưu ý: Một số chuyên gia chỉ sử dụng phác đồ này cho bệnh nhân chưa từng dùng opioid trong bối cảnh chăm sóc giảm nhẹ.
Khó thở ở bệnh nhân chăm sóc giảm nhẹ (sử dụng ngoài chỉ định được phê duyệt)
Bệnh nhân chưa từng dùng opioid:
-
Khó thở mức độ trung bình đến nặng
(ví dụ: khi đi bộ quãng ngắn):
-
Đường uống, ngậm dưới lưỡi – Dạng giải phóng tức thì
(có thể sử dụng dung dịch 100 mg/5 mL [20 mg/mL]):
- Khởi đầu: 2 mg mỗi 2 giờ khi cần hoặc 5 mg mỗi 4 giờ kèm 2,5 mg mỗi 2 giờ khi cần hoặc theo nguyên tắc “đề nghị dùng, có thể từ chối” (đa số bệnh nhân không cần dùng mọi liều).
-
Đường dưới da (SUBQ):
- Khởi đầu: 2 mg mỗi 2 giờ khi cần hoặc theo nguyên tắc “đề nghị dùng, có thể từ chối” (đa số bệnh nhân không cần dùng mọi liều).
-
Đường uống, ngậm dưới lưỡi – Dạng giải phóng tức thì
(có thể sử dụng dung dịch 100 mg/5 mL [20 mg/mL]):
-
Khó thở nặng
(ví dụ: khi nghỉ ngơi hoặc gắng sức tối thiểu):
-
SUBQ, IV:
- Khởi đầu: 2,5 mg.
- Nếu khó thở vẫn còn và liều đầu dung nạp tốt, có thể lặp lại mỗi 30 đến 60 phút (SUBQ) hoặc mỗi 15 đến 30 phút (IV).
- Nếu đã dung nạp tốt 2 liều nhưng không cải thiện đủ triệu chứng, có thể tăng gấp đôi liều.
-
SUBQ, IV:
- Lưu ý: Thường cần liều khởi đầu cao hơn.
-
Khó thở trung bình hoặc nặng
(ví dụ: khi đi bộ quãng ngắn):
-
Dạng giải phóng tức thì – Đường uống:
- Dùng 10% đến 15% tổng liều opioid nền hằng ngày (quy đổi tương đương morphin) mỗi 2 giờ khi cần hoặc theo nguyên tắc “đề nghị dùng, có thể từ chối”.
- Cân nhắc tăng liều nền hằng ngày khoảng 25%, có tính đến các liều cứu hộ đã sử dụng trong 24 giờ trước đó.
-
Dạng giải phóng tức thì – Đường uống:
-
Khó thở nặng
(ví dụ: khi nghỉ ngơi hoặc gắng sức tối thiểu):
-
SUBQ, IV:
- Dùng 5% tổng liều opioid nền đường uống hằng ngày (quy đổi tương đương morphin) mỗi 1 giờ khi cần hoặc theo nguyên tắc “đề nghị dùng, có thể từ chối”.
- Với cơn khó thở bộc phát, nếu bệnh nhân đã dùng opioid đường tiêm, có thể dùng khoảng 10% tổng liều opioid đường tiêm hằng ngày hiện tại.
-
SUBQ, IV:
Giảm đau trục thần kinh (giảm đau neuraxial)
-
Ngoài màng cứng (epidural):
- Lưu ý: Chỉ áp dụng cho những trường hợp đau mức độ nặng (ví dụ: sau phẫu thuật, đau do ung thư). Việc thực hiện phải do nhân viên y tế có kinh nghiệm trong chăm sóc người bệnh sử dụng opioid đường trong tủy sống. Sử dụng loại thuốc không chứa chất bảo quản dành cho đường trục thần kinh. Các phác đồ ví dụ và liều thông thường được cung cấp dưới đây; phác đồ và liều cụ thể có thể thay đổi tùy loại phẫu thuật, bệnh đồng mắc và chính sách thực hành của từng cơ sở.
-
Liều đơn (dung dịch không chất bảo quản 0,5 hoặc 1 mg/mL):
- Người bệnh chưa từng dùng opioid: liều thường dùng khoảng 1,5 đến 3,75 mg (có thể thay đổi tùy bệnh đồng mắc).
-
Truyền liên tục (dung dịch không chất bảo quản 0,5 hoặc 1 mg/mL):
- Người bệnh chưa từng dùng opioid: morphin thường phối hợp với thuốc tê tại chỗ ở nồng độ morphin thông thường 20 đến 40 microgam/mL. Tốc độ truyền (ví dụ: 3 đến 14 mL/giờ) thay đổi theo nhu cầu kiểm soát đau, phương thức sử dụng (ví dụ: giảm đau ngoài màng cứng do người bệnh tự kiểm soát) hoặc mức cột sống đặt catheter ngoài màng cứng. Nồng độ thấp hơn 5 đến 10 microgam/mL có thể được sử dụng ở người bệnh suy nhược hoặc có nguy cơ ức chế hô hấp sau mổ.
-
Vi truyền liên tục (dùng thiết bị chuyên dụng cho vi truyền liên tục):
- Lưu ý: Phải dùng dung dịch không chất bảo quản 10 hoặc 25 mg/mL (ví dụ: Infumorph); có thể cần pha loãng.
- Liều khởi đầu: 3 đến 7,5 mg trong 24 giờ.
-
Nội tủy (intrathecal):
- Lưu ý: Chỉ áp dụng cho đau mức độ nặng (ví dụ: sau phẫu thuật, đau do ung thư). Việc thực hiện phải do nhân viên y tế có kinh nghiệm trong chăm sóc người bệnh dùng opioid đường trong tủy sống. Sử dụng dạng thuốc không chứa chất bảo quản dành cho đường trục thần kinh. Liều nội tủy thường bằng một phần mười liều ngoài màng cứng.
-
Liều đơn (dung dịch không chất bảo quản 0,5 hoặc 1 mg/mL):
- Khoảng liều thường dùng: 0,075 đến 0,3 mg đồng thời với thuốc tê tại chỗ; không khuyến cáo lặp lại liều. Nếu đau tái phát, khuyến cáo sử dụng đường dùng khác.
- Lưu ý: Liều cần được điều chỉnh theo tình huống lâm sàng và các thuốc khác trong chiến lược giảm đau đa mô thức. Nguy cơ tác dụng không mong muốn (ví dụ: buồn nôn, ngứa, ức chế hô hấp) cao hơn khi dùng liều >0,3 mg; tuy nhiên, một số người bệnh đau mạn tính khó kiểm soát (ví dụ: đau do ung thư) có thể cần liều đến 0,5 mg.
-
Vi truyền liên tục (dùng thiết bị chuyên dụng cho vi truyền liên tục):
- Lưu ý: Phải dùng dung dịch không chất bảo quản 10 hoặc 25 mg/mL (ví dụ: Infumorph); có thể cần pha loãng.
- Liều khởi đầu: 0,2 đến 1 mg trong 24 giờ.
Giảm đau và an thần; người bệnh nặng tại khoa hồi sức tích cực (sử dụng ngoài chỉ định được phê duyệt)
- Lưu ý: Trong bối cảnh này, thường cần áp dụng chiến lược đa mô thức (ví dụ: phối hợp nhiều thuốc giảm đau và các kỹ thuật khác nhau) nhằm kiểm soát đau. Mức độ đau phải được theo dõi bằng các thang điểm đã được thẩm định (ví dụ: thang điểm đau hành vi, công cụ quan sát trong hồi sức tích cực) ở người bệnh ICU nội khoa, sau phẫu thuật hoặc chấn thương (không bao gồm chấn thương não) không thể tự mô tả mức độ đau.
-
Đường tĩnh mạch:
- Liều nạp: 2 đến 10 mg, sau đó chuyển sang liều duy trì. Lưu ý: Có thể cần dùng hơn 1 liều nạp. Thời gian khởi phát tác dụng sau khi dùng đường tĩnh mạch là 5 đến 10 phút. Ở một số người bệnh chọn lọc (ví dụ: người cao tuổi, giảm thể tích tuần hoàn, nguy cơ mất ổn định huyết động), có thể cân nhắc giảm liều hoặc bỏ qua liều nạp ban đầu.
- Liều duy trì: 2 đến 4 mg mỗi 1 đến 2 giờ hoặc 4 đến 8 mg mỗi 3 đến 4 giờ.
Điều chỉnh liều khi dùng đồng thời với thuốc khác
- Có thể tồn tại các tương tác thuốc có ý nghĩa lâm sàng; khi đó cần cân nhắc điều chỉnh liều/tần suất dùng hoặc tránh phối hợp.
- Tham khảo cơ sở dữ liệu tương tác thuốc để có thêm thông tin chi tiết.
Chỉnh liều dùng: Suy thận (người lớn)
- Các khuyến cáo hiệu chỉnh liều ở người bệnh suy thận được xây dựng dựa trên bằng chứng hiện có tốt nhất và kinh nghiệm lâm sàng của chuyên gia.
- Lưu ý: Độ thanh thải morphin tương tự giữa người bệnh suy giảm chức năng thận và người có chức năng thận bình thường. Tuy nhiên, các chất chuyển hóa dạng glucuronid (M3G [không có tác dụng giảm đau; có thể góp phần kích thích hệ thần kinh trung ương và làm giảm ngưỡng co giật] và M6G [có hoạt tính giảm đau]) tích lũy đáng kể ở người bệnh suy giảm chức năng thận. Khi chức năng thận suy giảm hơn nữa, tỷ trọng M6G trong tác dụng giảm đau tăng lên và thời gian đạt trạng thái ổn định bị kéo dài; vì vậy người bệnh có thể gặp ức chế hệ thần kinh trung ương, an thần và ức chế hô hấp nặng, kéo dài, có thể khởi phát muộn.
-
Đường uống, tiêm bắp, tiêm tĩnh mạch, tiêm dưới da, trực tràng:
- Lưu ý: Không có khuyến cáo hiệu chỉnh liều cụ thể trong thông tin sản phẩm của nhà sản xuất. Nên tránh dùng các dạng giải phóng kéo dài ở người bệnh suy giảm chức năng thận. Các khuyến cáo dưới đây dựa trên ý kiến chuyên gia và một số tài liệu chọn lọc:
- CrCl ≥60 mL/phút: Không cần hiệu chỉnh liều.
- CrCl 30 đến <60 mL/phút: Cân nhắc sử dụng thuốc giảm đau opioid thay thế. Nếu cần thiết, dùng 50% đến 75% liều khởi đầu thông thường; đồng thời có thể cân nhắc kéo dài khoảng cách liều. Điều chỉnh liều thận trọng theo đáp ứng.
- CrCl 15 đến <30 mL/phút: Tránh sử dụng. Nếu bắt buộc, dùng 25% đến 50% liều khởi đầu thông thường; đồng thời có thể cân nhắc kéo dài khoảng cách liều. Điều chỉnh liều thận trọng theo đáp ứng.
- CrCl <15 mL/phút: Tránh sử dụng.
-
Ngoài màng cứng/nội tủy:
- Suy giảm mức độ trung bình đến nặng: không có khuyến cáo hiệu chỉnh liều cụ thể; tuy nhiên cần thận trọng và theo dõi sát. Ở người bệnh suy giảm nặng hơn, có thể ưu tiên dùng thuốc giảm đau opioid thay thế.
-
Đường uống, tiêm bắp, tiêm tĩnh mạch, tiêm dưới da, trực tràng (ở người bệnh thẩm tách máu ngắt quãng):
- Lưu ý: Không có khuyến cáo hiệu chỉnh liều cụ thể trong thông tin sản phẩm của nhà sản xuất. Nên tránh dùng các dạng giải phóng kéo dài ở người bệnh suy giảm chức năng thận. Các khuyến cáo sau dựa trên ý kiến chuyên gia và một số tài liệu chọn lọc:
- Tránh sử dụng; cân nhắc thuốc giảm đau opioid thay thế. Nếu bắt buộc dùng, sử dụng 25% đến 50% liều thông thường; đồng thời có thể cân nhắc kéo dài khoảng cách liều. Điều chỉnh liều thận trọng theo đáp ứng.
-
Ngoài màng cứng/nội tủy (ở người bệnh thẩm tách máu ngắt quãng):
- Không có khuyến cáo hiệu chỉnh liều cụ thể; tuy nhiên cần thận trọng và theo dõi sát. Có thể ưu tiên dùng thuốc giảm đau thay thế.
CRRT (liệu pháp thay thế thận liên tục): Nên ưu tiên các opioid khác (ví dụ: hydromorphon, fentanyl) do có đặc tính dược động học đáng tin cậy hơn. Morphin không bị loại bỏ đáng kể qua siêu lọc hoặc thẩm tách máu liên tục, và mức độ loại bỏ M3G, M6G chưa rõ.
PIRRT (ví dụ: thẩm tách–siêu lọc hiệu suất thấp kéo dài): Nên ưu tiên các opioid khác (ví dụ: hydromorphon, fentanyl) do có đặc tính dược động học đáng tin cậy hơn. Mức độ loại bỏ morphin, M3G và M6G chưa rõ.
Chỉnh liều dùng: Suy gan (người lớn)
- Các khuyến cáo hiệu chỉnh liều ở người bệnh suy gan được xây dựng trên cơ sở bằng chứng hiện có tốt nhất và kinh nghiệm lâm sàng của chuyên gia.
- Lưu ý: Nên tránh dùng các dạng giải phóng kéo dài ở người bệnh suy gan. Cần đảm bảo dự phòng thích hợp táo bón và bệnh não gan (ví dụ: lactulose). Theo dõi tình trạng an thần quá mức và/hoặc sự khởi phát hoặc nặng lên của bệnh não gan trong quá trình sử dụng và sau mỗi lần chỉnh liều.
- Ở người bệnh xơ gan, AUC và thời gian bán thải thải trừ của morphin tăng khoảng gấp đôi do giảm liên hợp glucuronid trong chuyển hóa lần đầu, hậu quả của giảm lưu lượng máu qua gan do shunt cửa–chủ; ngoài ra, morphin-3-glucuronid (chất chuyển hóa gây độc thần kinh) và morphin-6-glucuronid (chất chuyển hóa có hoạt tính giảm đau) tích lũy, đặc biệt ở người bệnh đồng thời suy thận.
-
Khởi trị hoặc hiệu chỉnh liều ở người bệnh xơ gan sẵn có:
- Child–Turcotte–Pugh lớp A: Đường uống, đường tiêm, trực tràng: không cần hiệu chỉnh liều; tuy nhiên có thể kéo dài khoảng cách liều đến tần suất phù hợp lâm sàng dựa trên chỉ định và đường dùng (ví dụ: nếu khoảng cách liều thông thường là mỗi 2 đến 4 giờ, có thể kéo dài thành mỗi 4 đến 6 giờ).
- Child–Turcotte–Pugh lớp B: Đường uống, đường tiêm, trực tràng: giảm liều còn 50% so với liều thông thường theo chỉ định và kéo dài khoảng cách liều đến tần suất phù hợp lâm sàng dựa trên chỉ định và đường dùng (ví dụ: nếu liều và tần suất thông thường là 2 mg tĩnh mạch mỗi 2 đến 4 giờ, có thể giảm còn 1 mg tĩnh mạch và kéo dài khoảng cách liều thành mỗi 4 đến 6 giờ).
- Child–Turcotte–Pugh lớp C: Đường uống, đường tiêm, trực tràng: không khuyến cáo sử dụng; cân nhắc thuốc thay thế không có chất chuyển hóa còn hoạt tính. Nếu vẫn cần thiết phải dùng morphin, giảm liều còn ≥50% so với liều thông thường theo chỉ định và kéo dài khoảng cách liều đến tần suất phù hợp lâm sàng dựa trên chỉ định và đường dùng (ví dụ: nếu liều và tần suất thông thường là 2 mg tĩnh mạch mỗi 2 đến 4 giờ, có thể giảm còn 1 mg tĩnh mạch và kéo dài khoảng cách liều thành mỗi 6 đến 8 giờ).
-
Tiến triển mạn tính của bệnh gan (ví dụ: điều trị ngoại trú):
- Từ nền ban đầu đến Child–Turcotte–Pugh lớp A đến C: đường uống, đường tiêm, trực tràng: không bắt buộc hiệu chỉnh liều ngay. Theo dõi sát tình trạng an thần quá mức và/hoặc sự xuất hiện mới hay nặng lên bệnh não gan; nếu có, cân nhắc chuyển sang thuốc thay thế. Nếu vẫn cần thiết phải dùng morphin, giảm liều và kéo dài khoảng cách liều còn ≥50% so với liều và tần suất thông thường theo chỉ định (ví dụ: nếu liều và tần suất thông thường là 2 mg tĩnh mạch mỗi 3 đến 4 giờ, có thể giảm còn 1 mg tĩnh mạch và kéo dài khoảng cách liều thành mỗi 6 đến 8 giờ).
-
Đợt cấp làm xấu chức năng gan (ví dụ: cần nhập viện):
- Từ nền ban đầu đến Child–Turcotte–Pugh lớp A đến C: đường uống, đường tiêm, trực tràng: tránh sử dụng; chuyển sang thuốc thay thế không có chất chuyển hóa còn hoạt tính.
Chỉnh liều dùng: Người cao tuổi
- Lưu ý: Hạn chế tối đa chỉ định opioid ở người cao tuổi, ngoại trừ trường hợp thật sự cần thiết để kiểm soát đau cấp tính mức độ nặng. Opioid có liên quan đến tăng nguy cơ té ngã đồng thời có thể khởi phát hoặc làm nặng thêm tình trạng mê sảng ở người cao tuổi.
- Thực hiện tham chiếu liều dùng của người lớn. Khi kê đơn cần theo dõi và sử dụng thận trọng; có thể phải giảm liều.
CHỈ ĐỊNH VÀ CHỐNG CHỈ ĐỊNH
Chỉ định
Trẻ em
Đường uống:
-
Dạng giải phóng tức thì (dung dịch uống và viên nén):
-
Điều trị đau cấp mức độ nặng khi các phương án thay thế không đáp ứng đầy đủ (ví dụ: thuốc giảm đau không opioid).
- Viên nén giải phóng tức thì: Được FDA phê duyệt cho trẻ em ≥50 kg và người lớn.
- Dung dịch uống (2 mg/mL, 4 mg/mL): Được FDA phê duyệt cho trẻ ≥2 tuổi và người lớn.
-
Điều trị đau mạn mức độ nặng khi các phương án thay thế không đáp ứng đầy đủ.
- Viên nén giải phóng tức thì: Được FDA phê duyệt cho người lớn.
- Dung dịch uống (2 mg/mL, 4 mg/mL): Được FDA phê duyệt cho người ≥18 tuổi và người lớn.
-
Điều trị đau cấp và đau mạn ở người bệnh đã dung nạp opioid.
- Dung dịch uống (20 mg/mL): Được FDA phê duyệt cho người ≥18 tuổi và người lớn.
- Morphin cũng đã được sử dụng để điều trị hội chứng cai ở trẻ sơ sinh, hội chứng cai opioid do điều trị y khoa và kiểm soát khó thở trong chăm sóc giảm nhẹ.
-
Điều trị đau cấp mức độ nặng khi các phương án thay thế không đáp ứng đầy đủ (ví dụ: thuốc giảm đau không opioid).
-
Các chế phẩm giải phóng có kiểm soát và giải phóng kéo dài (ví dụ: MS Contin):
- Điều trị đau nặng và kéo dài cần điều trị opioid hằng ngày trong thời gian dài khi các phương án thay thế không đáp ứng đầy đủ (được FDA phê duyệt cho người ≥18 tuổi và người lớn).
-
Đường tĩnh mạch:
- Điều trị đau cấp mức độ nặng khi cần sử dụng opioid và khi các lựa chọn thay thế không đáp ứng đầy đủ (được FDA phê duyệt cho mọi lứa tuổi).
- Tiền mê an thần trước gây mê (được FDA phê duyệt cho bệnh nhi [không nêu rõ độ tuổi] và người lớn).
- Morphin cũng được dùng để xử trí các cơn tím nặng liên quan đến tứ chứng Fallot và kiểm soát khó thở trong chăm sóc giảm nhẹ (bao gồm khí dung).
-
Đường ngoài màng cứng:
- Điều trị đau mà không gây mất chức năng vận động, cảm giác hoặc giao cảm. Lưu ý: Không dùng với thiết bị vi truyền liên tục (Duramorph: được FDA phê duyệt cho người lớn).
- Điều trị đau mạn tính kháng trị mức độ nặng cần opioid bằng truyền ngoài màng cứng qua thiết bị vi truyền khi các biện pháp kiểm soát đau ít xâm lấn hơn không đáp ứng đầy đủ (Infumorph, Mitigo: được FDA phê duyệt cho người lớn).
-
Đường nội tủy:
- Điều trị đau mà không gây mất chức năng vận động, cảm giác hoặc giao cảm. Lưu ý: Không dùng với thiết bị vi truyền liên tục (Duramorph: được FDA phê duyệt cho người lớn).
- Điều trị đau mạn tính kháng trị mức độ nặng cần opioid bằng truyền liên tục qua thiết bị vi truyền khi các biện pháp kiểm soát đau ít xâm lấn hơn không đáp ứng đầy đủ (Infumorph, Mitigo: được FDA phê duyệt cho người lớn).
- Viên đạn đặt: Điều trị đau cấp và đau mạn mức độ nặng khi cần opioid và khi các lựa chọn điều trị thay thế không đáp ứng đầy đủ (được FDA phê duyệt cho người lớn).
-
Giới hạn sử dụng:
- Do nguy cơ rối loạn sử dụng chất, lạm dụng và sử dụng sai mục đích với opioid—có thể xảy ra ở bất kỳ liều lượng hoặc thời gian sử dụng nào—chỉ nên dùng morphin cho những người bệnh mà các lựa chọn điều trị thay thế (ví dụ: thuốc giảm đau không opioid, thuốc phối hợp opioid) không dung nạp, dự kiến không dung nạp, không hiệu quả hoặc dự kiến không đủ hiệu quả giảm đau.
- Các dạng giải phóng tức thì không được sử dụng kéo dài trừ khi cơn đau vẫn đủ nặng cần opioid và các lựa chọn thay thế vẫn không đáp ứng đầy đủ.
- Các dạng giải phóng kéo dài không được chỉ định dùng khi cần (PRN).
Người lớn
Chỉ định đã được phê duyệt ở người lớn
-
Dạng tiêm:
- Điều trị đau mức độ nặng cần dùng thuốc giảm đau opioid và khi các phương pháp điều trị thay thế không đáp ứng đầy đủ.
-
Chỉ sử dụng dung dịch không chứa chất bảo quản:
- Duramorph: Giảm đau qua đường ngoài màng cứng hoặc nội tủy mà không gây mất chức năng vận động, cảm giác hoặc giao cảm. Lưu ý: Không dùng với thiết bị vi truyền liên tục.
- Infumorph, Mitigo: Dùng với thiết bị vi truyền liên tục qua đường nội tủy hoặc ngoài màng cứng để điều trị đau mạn tính kháng trị mức độ nặng cần opioid và khi các biện pháp kiểm soát đau ít xâm lấn hơn không đáp ứng đầy đủ. Lưu ý: Không dùng đường tiêm tĩnh mạch, tiêm bắp, tiêm dưới da liều đơn hoặc tiêm thần kinh trung ương liều đơn.
-
Đường uống:
- Giải phóng kéo dài (ER): Điều trị đau nặng và kéo dài cần dùng opioid và không thể kiểm soát đầy đủ bằng các lựa chọn thay thế, bao gồm opioid giải phóng tức thì.
-
Giải phóng tức thì (IR):
- Dung dịch uống: Điều trị đau cấp (trẻ em ≥2 tuổi và người lớn) và đau mạn (chỉ người lớn) mức độ nặng cần opioid và khi các phương pháp điều trị thay thế không đáp ứng đầy đủ. Dung dịch uống 100 mg/5 mL (20 mg/mL) chỉ dành cho người lớn đã dung nạp opioid.
- Viên nén: Điều trị đau cấp (trẻ em ≥50 kg và người lớn) và đau mạn (chỉ người lớn) mức độ nặng cần opioid và khi các phương pháp điều trị thay thế không đáp ứng đầy đủ.
-
Đường trực tràng:
- Điều trị đau cấp và đau mạn mức độ nặng cần opioid và khi các phương pháp điều trị thay thế không đáp ứng đầy đủ.
-
Giới hạn sử dụng:
- Do nguy cơ rối loạn sử dụng chất, lạm dụng và sử dụng sai mục đích với opioid—có thể xảy ra ở bất kỳ liều lượng hoặc thời gian dùng nào và kéo dài trong suốt quá trình điều trị—chỉ nên dành thuốc giảm đau opioid, bao gồm morphin, cho những người bệnh mà các lựa chọn điều trị thay thế không hiệu quả, không dung nạp hoặc không đủ để kiểm soát đau.
- Các dạng giải phóng kéo dài không được chỉ định dùng khi cần (PRN).
- Định nghĩa người bệnh đã dung nạp opioid:
-
Người bệnh đang dùng ít nhất một trong các mức sau trong ≥1 tuần:
- Morphin uống 60 mg/ngày, hoặc
- Fentanyl qua da 25 mcg/giờ, hoặc
- Oxycodon uống 30 mg/ngày, hoặc
- Hydromorphon uống 8 mg/ngày, hoặc
- Oxymorphon uống 25 mg/ngày, hoặc
- Hydrocodon uống 60 mg/ngày, hoặc
- Liều tương đương giảm đau của một opioid khác.
- Giảm ho ở một số người bệnh chọn lọc.
- Người bệnh nặng điều trị tại đơn vị hồi sức tích cực (giảm đau và an thần).
- Khó thở ở người bệnh chăm sóc giảm nhẹ.
Chống chỉ định
- Quá mẫn (ví dụ: phản vệ) với morphin hoặc với bất kỳ thành phần nào của chế phẩm.
- Ức chế hô hấp đáng kể.
- Hen phế quản cấp tính hoặc nặng trong bối cảnh không được theo dõi hoặc không có sẵn phương tiện hồi sức.
- Dùng đồng thời thuốc ức chế monoamin oxidase (MAOI) hoặc đã dùng MAOI trong vòng 14 ngày qua.
- Tắc nghẽn đường tiêu hóa, bao gồm liệt ruột (đã biết hoặc nghi ngờ).
- Có các tương tác thuốc quan trọng trên lâm sàng; cần điều chỉnh liều/tần suất dùng hoặc tránh phối hợp. Tham khảo cơ sở dữ liệu tương tác thuốc để có thêm chi tiết.
-
Đường ngoài màng cứng/nội tủy:
- Nhiễm trùng tại vị trí truyền.
- Đang điều trị đồng thời bằng thuốc chống đông.
- Rối loạn chảy máu chưa kiểm soát.
- Đang có điều trị hoặc tình trạng bệnh lý khác khiến việc sử dụng thuốc trở nên nguy hiểm.
- Tắc nghẽn đường hô hấp trên.
- Chống chỉ định có thể khác nhau tùy theo nhãn của từng sản phẩm; cần tham khảo thông tin kê đơn cụ thể của từng chế phẩm.
- Nghi ngờ bệnh lý bụng ngoại khoa (ví dụ: viêm ruột thừa cấp, viêm tụy).
- Bệnh lý/tình trạng ảnh hưởng đến nhu động ruột (đã biết hoặc nghi ngờ).
- Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính đường thở.
- Cơn hen ác tính (status asthmaticus).
- Điều trị đau cấp, bao gồm sử dụng trong phẫu thuật ngoại trú hoặc phẫu thuật trong ngày.
- Đau nhẹ, từng cơn hoặc ngắn hạn có thể kiểm soát bằng các thuốc giảm đau khác.
- Ức chế hô hấp cấp.
- Tăng CO₂ máu.
- Tâm phế mạn.
- Ngộ độc rượu cấp.
- Hội chứng cai rượu có sảng (delirium tremens).
- Rối loạn co giật.
- Ức chế thần kinh trung ương nặng.
- Tăng áp lực dịch não tủy.
- Tăng áp lực nội sọ.
- U não.
- Chấn thương đầu.
- Rối loạn nhịp tim.
- Thai kỳ.
- Sử dụng trong chuyển dạ và sinh.
- Cho con bú.
- Sử dụng rượu hoặc thuốc có chứa rượu (theo chuyên luận sản phẩm Kadian, M-Eslon).
- Loạn thần nhiễm độc và gù vẹo cột sống nặng (theo chuyên luận sản phẩm Kadian).
- Xơ gan nặng (theo chuyên luận sản phẩm M-Ediat).
- Hạ huyết áp (theo chuyên luận sản phẩm M-Eslon).
- Bất ổn cảm xúc và/hoặc ý tưởng tự sát (theo chuyên luận sản phẩm Statex).
- Nối ruột/phẫu thuật tạo miệng nối đường tiêu hóa (theo chuyên luận morphin sulfat tiêm Sandoz).
CÁCH DÙNG
Trẻ em
-
Đường uống:
- Dùng cùng thức ăn.
-
Dạng giải phóng tức thì:
-
Dung dịch uống:
- Có nhiều hàm lượng khác nhau, bao gồm dung dịch uống đậm đặc (20 mg/mL).
- Cần thận trọng để tránh nhầm lẫn giữa các nồng độ khác nhau; y lệnh (đơn thuốc) phải ghi rõ nồng độ và liều dùng dưới dạng miligam (mg) morphin, không ghi theo thể tích (mL).
- Sử dụng dụng cụ đo chính xác (bơm tiêm uống có chia vạch hoặc cốc đong thuốc); không dùng thìa cà phê hoặc thìa canh gia dụng để đong liều (có thể gây quá liều).
-
Dung dịch uống đậm đặc:
- Chỉ dùng cho người bệnh đã dung nạp opioid (ví dụ: người lớn dùng ≥60 mg morphin/ngày hoặc tương đương trong ≥1 tuần).
- Chỉ dùng bơm tiêm uống có chia vạch được cung cấp kèm theo dung dịch đậm đặc để đảm bảo đo và sử dụng đúng liều.
-
Dung dịch uống:
-
Các chế phẩm giải phóng kéo dài/giải phóng có kiểm soát:
- Không nhai, nghiền, bẻ hoặc hòa tan vì có thể gây giải phóng thuốc không kiểm soát, dẫn đến quá liều hoặc tử vong; phải nuốt nguyên viên.
-
Đường tiêm:
- Lưu ý: Dung dịch tiêm phải được quan sát bằng mắt thường để phát hiện tiểu phân hoặc đổi màu trước khi sử dụng. Không sử dụng nếu có kết tủa, sẫm màu hơn vàng nhạt hoặc đổi màu bất thường theo bất kỳ cách nào.
- Cần thận trọng để tránh nhầm lẫn giữa các nồng độ khác nhau; y lệnh (đơn thuốc) phải ghi rõ nồng độ và liều dùng dưới dạng miligam (mg) morphin, không ghi theo thể tích (mL).
-
Tiêm tĩnh mạch chậm (IV push):
- Dùng dung dịch không pha loãng hoặc đã pha loãng, tiêm trong 4 đến 5 phút; tiêm tĩnh mạch nhanh có thể làm tăng tác dụng không mong muốn.
- Ở trẻ sơ sinh, có thể tiêm bolus tĩnh mạch trong 5 đến 15 phút bằng bơm tiêm điện.
-
Truyền tĩnh mạch ngắt quãng:
- Pha loãng thêm và truyền trong 15 đến 30 phút.
-
Truyền tĩnh mạch liên tục:
- Truyền liên tục bằng bơm truyền dịch.
- Nồng độ truyền tĩnh mạch thường dùng: 0.2 mg/mL, 0.1 mg/mL, 0.5 mg/mL, hoặc 1 mg/mL.
-
Đường ngoài màng cứng và nội tủy:
- Chỉ sử dụng dạng tiêm không chứa chất bảo quản.
-
Đường hít:
- Dữ liệu còn hạn chế; sử dụng morphin dạng tiêm không chứa chất bảo quản và pha loãng thêm trước khi dùng.
Người lớn
-
Đường uống:
- Không nghiền, nhai hoặc hòa tan các dạng giải phóng kéo dài (ER); phải nuốt nguyên viên.
- Việc cắt, bẻ, nghiền, nhai hoặc hòa tan các dạng ER có thể làm giải phóng morphin không kiểm soát, gây quá liều và tử vong.
-
Hướng dẫn sử dụng theo từng chế phẩm:
-
Viên nang ER (dùng 1 lần/ngày [vi hạt]):
- Có thể mở viên nang, rắc vi hạt lên táo nghiền và dùng ngay, không nhai.
- Không nghiền, hòa tan hoặc nhai các vi hạt vì có thể gây giải phóng nhanh một liều morphin có khả năng gây tử vong.
- Đảm bảo đã nuốt hết vi hạt bằng cách súc miệng.
- Không sử dụng qua ống thông dạ dày hoặc ống thông mũi–dạ dày.
-
Viên nang ER (dùng 1 hoặc 2 lần/ngày [vi hạt bao polymer]):
- Có thể mở viên nang, rắc vi hạt lên táo nghiền và dùng ngay, không nhai.
- Không nghiền, hòa tan hoặc nhai các vi hạt vì có thể gây giải phóng nhanh một liều morphin có khả năng gây tử vong.
- Đảm bảo đã nuốt hết vi hạt bằng cách súc miệng.
- Có thể mở viên nang, rắc vi hạt vào 10 mL nước và bơm qua ống mở thông dạ dày cỡ 16F đã làm ướt trước đó; dùng động tác xoay tròn để đổ vi hạt và nước vào ống qua phễu.
- Tráng cốc bằng thêm 10 mL nước rồi đổ vào phễu; lặp lại việc tráng cho đến khi không còn vi hạt trong cốc.
- Không sử dụng qua ống thông mũi–dạ dày.
-
Viên nang ER (dùng 1 lần/ngày [vi hạt]):
-
Phẫu thuật giảm cân (bariatric): Viên nén giải phóng kéo dài
- Một số cơ sở có thể có quy trình riêng khác với các khuyến cáo này; tham khảo quy trình của cơ sở khi phù hợp.
- Viên nén ER phải được nuốt nguyên viên.
- Không bẻ, nghiền, cắt, nhai, hòa tan, ngâm trước, làm ướt hoặc chia nhỏ vì có thể gây giải phóng morphin không kiểm soát, dẫn đến quá liều hoặc tử vong.
- Dùng từng liều có cơ chế chống lạm dụng một cách riêng lẻ và với đủ nước để tránh viên thuốc trở nên dính và khó nuốt.
- Có sẵn dạng viên nén giải phóng tức thì (IR), dung dịch uống và viên đạn đặt trực tràng.
- Nếu có thể đánh giá hiệu quả và an toàn đầy đủ, không bắt buộc phải thay đổi dạng thuốc hoặc cách dùng sau phẫu thuật giảm cân; tuy nhiên, cần lưu ý rằng morphin đường uống đã được ghi nhận có Cmax tăng đáng kể và Tmax giảm cả trong giai đoạn sớm (1 đến 2 tuần) và dài hạn (6 tháng) sau phẫu thuật giảm cân.
-
Đường tĩnh mạch (IV):
- Sử dụng bơm tiêm/ống tiêm nạp sẵn liều dùng một lần bằng cách tiêm tĩnh mạch chậm trong 4 đến 5 phút (tiêm nhanh có thể gây cứng thành ngực).
- Có sẵn lọ thuốc nồng độ cao để pha truyền tĩnh mạch liên tục hoặc giảm đau do người bệnh tự kiểm soát (PCA); tham khảo tốc độ truyền theo chỉ định cụ thể trong phần liều dùng để biết khuyến cáo chi tiết.
- Nồng độ truyền tĩnh mạch thường dùng: 1 mg/mL.
-
Đường ngoài màng cứng, nội tủy:
- Chỉ sử dụng dung dịch không chứa chất bảo quản được chỉ định cho đường nội tủy hoặc ngoài màng cứng; tham khảo tốc độ truyền theo chỉ định cụ thể trong phần liều dùng để biết khuyến cáo chi tiết.
-
Đường trực tràng:
- Lấy viên đạn ra khỏi vỏ nhựa và làm ẩm bằng nước để tránh kích ứng.
- Nhẹ nhàng đưa viên đạn (đầu tròn trước) vào trực tràng khoảng một chiều dài ngón tay, hướng về phía rốn và áp sát thành trực tràng; sau khi đặt, giữ hai mông khép lại cho đến khi hết cảm giác mót rặn.
-
Truyền dưới da liên tục (SUBQ):
- Thay vị trí truyền mỗi 3 đến 7 ngày hoặc khi xuất hiện ban đỏ.
- Để duy trì sự dễ chịu, tốc độ truyền dưới da thường không nên vượt quá 5 mL/giờ.
CẢNH BÁO
-
Nguy cơ khi sử dụng qua đường thần kinh trung ương (Duramorph, Infumorph, Mitigo):
- Một liều duy nhất qua đường tủy sống hoặc ngoài màng cứng có thể gây ức chế hô hấp cấp tính hoặc muộn, kéo dài đến 24 giờ.
- Do có nguy cơ xảy ra phản ứng có hại nghiêm trọng khi dùng qua đường ngoài màng cứng hoặc nội tủy, người bệnh phải được theo dõi trong môi trường có đầy đủ trang thiết bị và nhân lực trong ít nhất 24 giờ sau liều đầu tiên.
-
Sử dụng ethanol (viên nang giải phóng kéo dài):
- Hướng dẫn người bệnh không sử dụng đồ uống có cồn hoặc các sản phẩm kê đơn/không kê đơn có chứa cồn trong thời gian dùng viên nang morphin giải phóng kéo dài (ER).
- Việc dùng đồng thời cồn với morphin ER có thể làm tăng nồng độ thuốc trong huyết tương và gây quá liều morphin có khả năng tử vong.
-
Nghiện, lạm dụng và sử dụng sai mục đích:
- Việc sử dụng morphin khiến người bệnh và những người khác có nguy cơ nghiện opioid, lạm dụng và sử dụng sai mục đích, có thể dẫn đến quá liều và tử vong.
- Cần đánh giá nguy cơ của từng người bệnh trước khi kê đơn và đánh giá lại định kỳ để phát hiện sự xuất hiện của các hành vi và tình trạng này.
-
Chương trình REMS đối với thuốc giảm đau opioid (dạng uống):
- Nhân viên y tế được khuyến cáo mạnh mẽ hoàn thành chương trình đào tạo phù hợp REMS.
- Tư vấn cho người bệnh và người chăm sóc về các nguy cơ nghiêm trọng, cách sử dụng an toàn và tầm quan trọng của việc đọc Hướng dẫn sử dụng thuốc mỗi khi nhận đơn thuốc.
-
Ức chế hô hấp đe dọa tính mạng:
- Ức chế hô hấp nghiêm trọng, đe dọa tính mạng hoặc gây tử vong có thể xảy ra khi sử dụng morphin, đặc biệt trong giai đoạn khởi đầu điều trị hoặc sau khi tăng liều.
- Để giảm nguy cơ ức chế hô hấp, cần dùng liều phù hợp và điều chỉnh liều thận trọng.
- Hướng dẫn người bệnh nuốt nguyên viên nang hoặc viên nén morphin ER. Có thể rắc các vi hạt trong viên nang ER lên táo nghiền và nuốt ngay, không nhai.
- Nghiền, nhai hoặc hòa tan viên thuốc hoặc vi hạt trong viên nang có thể làm giải phóng và hấp thu nhanh một liều morphin có khả năng gây tử vong.
- Do tác dụng tối đa trên hệ thần kinh trung ương bị chậm khi dùng đường tĩnh mạch (khoảng 30 phút), tiêm tĩnh mạch nhanh có thể dẫn đến quá liều.
- Theo dõi người bệnh trong môi trường có đầy đủ trang thiết bị và nhân lực ít nhất 24 giờ sau mỗi liều thử Mitigo và, khi cần, trong vài ngày đầu sau phẫu thuật.
-
Hội chứng cai opioid ở trẻ sơ sinh:
- Tư vấn cho phụ nữ mang thai sử dụng opioid kéo dài về nguy cơ Hội chứng cai opioid ở trẻ sơ sinh, tình trạng có thể đe dọa tính mạng nếu không được nhận biết và điều trị kịp thời.
- Đảm bảo có sẵn chuyên gia sơ sinh để xử trí khi sinh.
-
Nuốt nhầm (dạng uống và đặt trực tràng):
- Nuốt nhầm dù chỉ một liều morphin, đặc biệt ở trẻ em, có thể gây quá liều tử vong.
-
Nguy cơ sai sót thuốc (dung dịch uống):
- Đảm bảo tính chính xác khi kê đơn, cấp phát và sử dụng dung dịch morphin uống.
- Sai sót liều do nhầm lẫn giữa mg và mL hoặc giữa các dung dịch morphin có nồng độ khác nhau có thể dẫn đến quá liều ngoài ý muốn và tử vong.
-
Nguy cơ khi dùng đồng thời với benzodiazepin hoặc các thuốc ức chế thần kinh trung ương khác:
- Dùng đồng thời opioid với benzodiazepin hoặc các thuốc ức chế thần kinh trung ương khác, bao gồm cả rượu, có thể gây an thần sâu, ức chế hô hấp, hôn mê và tử vong.
- Chỉ cân nhắc kê đơn đồng thời morphin với benzodiazepin hoặc thuốc ức chế thần kinh trung ương khác ở những người bệnh mà các lựa chọn điều trị thay thế không đáp ứng đầy đủ.
CÁC CÂN NHẮC BỔ SUNG
Các cân nhắc về sinh sản
- Sử dụng opioid mạn tính có thể gây suy sinh dục và tăng prolactin máu, có thể làm giảm khả năng sinh sản ở người bệnh còn khả năng sinh sản. Đã ghi nhận rối loạn chu kỳ kinh nguyệt (bao gồm vô kinh), rối loạn cương dương và bất lực. Tỷ lệ suy sinh dục có thể tăng khi sử dụng opioid liều cao hoặc các dạng bào chế opioid tác dụng kéo dài. Chưa rõ các ảnh hưởng lên khả năng sinh sản có hồi phục hay không. Cần theo dõi người bệnh điều trị dài hạn (de Vries 2020; Gadelha 2022).
- Cần cân nhắc kế hoạch hóa gia đình, biện pháp tránh thai và các ảnh hưởng lên khả năng sinh sản trước khi kê đơn opioid điều trị đau mạn tính cho người bệnh có thể mang thai (ACOG 2017; CDC [Dowell 2022]).
Các cân nhắc khi mang thai
- Morphin có thể qua được nhau thai.
- Việc người mẹ sử dụng opioid có thể liên quan đến thai chậm tăng trưởng trong tử cung, thai chết lưu và sinh non (CDC [Dowell 2022]). Opioid được dùng trong giảm đau/gây mê sản khoa trong chuyển dạ và sinh có thể gây ảnh hưởng tạm thời đến nhịp tim thai (ACOG 2019).
- Hội chứng cai nghiện ở trẻ sơ sinh (NAS)/hội chứng cai opioid ở trẻ sơ sinh (NOWS) có thể xảy ra sau khi thai nhi phơi nhiễm opioid kéo dài trong tử cung (CDC [Dowell 2022]). NAS/NOWS có nguy cơ đe dọa tính mạng nếu không được nhận biết và điều trị, do đó cần được xử trí theo các phác đồ do chuyên gia sơ sinh xây dựng. Biểu hiện triệu chứng thay đổi tùy theo đặc tính của opioid (ví dụ: dạng giải phóng nhanh, dạng giải phóng kéo dài), thời điểm dùng liều cuối trước sinh, chuyển hóa thuốc (ở mẹ, nhau thai và trẻ nhũ nhi), mức độ vận chuyển qua nhau thai và các yếu tố khác (AAP [Hudak 2012]; AAP [Patrick 2020]). Những dấu hiệu lâm sàng điển hình của tình trạng cai thuốc sau phơi nhiễm opioid trong tử cung gồm: khóc nhiều hoặc dễ kích thích, ngủ ngắt quãng (<2 đến 3 giờ sau bú), run, tăng trương lực cơ, rối loạn chức năng tiêu hóa (ăn quá mức, bú kém, không dung nạp thức ăn, phân lỏng hoặc tiêu chảy nước) (Jilani 2022). NAS/NOWS thường xuất hiện sau phơi nhiễm opioid mạn tính và không được dự đoán xảy ra khi chỉ sử dụng opioid trong lúc sinh (AAP [Patrick 2020]).
- Cần theo dõi trẻ sơ sinh có mẹ điều trị opioid kéo dài/mạn tính về các triệu chứng cai thuốc. Thời điểm khởi phát triệu chứng phụ thuộc vào thời gian bán thải của opioid đã sử dụng. Theo dõi ít nhất 3 ngày đối với phơi nhiễm opioid dạng giải phóng nhanh; theo dõi ít nhất 4 đến 7 ngày đối với phơi nhiễm opioid dạng giải phóng kéo dài (AAP [Patrick 2020]; CDC [Dowell 2022]). Đồng thời theo dõi trẻ sơ sinh về tình trạng an thần quá mức và ức chế hô hấp khi opioid được dùng trong chuyển dạ.
- Khi cần dùng opioid để điều trị đau cấp ở người bệnh đang mang thai, cần kê liều thấp nhất có hiệu quả và chỉ trong thời gian dự kiến còn đau (CDC [Dowell 2022]).
- Tiêm morphin thường được sử dụng để điều trị đau trong chuyển dạ và ngay sau sinh (ACOG 209 2019). Lưu ý không phải mọi dạng bào chế đều phù hợp cho chỉ định này. Việc sử dụng opioid để điều trị đau sau sinh đường âm đạo hoặc mổ lấy thai cần được thực hiện theo quy trình ra quyết định chung với người bệnh. Khuyến cáo áp dụng phương pháp tiếp cận từng bước, đa mô thức trong kiểm soát đau sau sinh. Có thể dùng opioid liều thấp, hiệu lực thấp, tác dụng ngắn như morphin để điều trị đau cấp liên quan đến sinh khi cần thiết (ACOG 2021).
- Opioid không phải là lựa chọn ưu tiên để điều trị đau mạn tính không do ung thư trong thai kỳ; cần cân nhắc các chiến lược nhằm giảm thiểu hoặc tránh sử dụng opioid. Tư vấn cho người bệnh mang thai sử dụng opioid dài hạn cần nhấn mạnh nguy cơ NAS/NOWS và đảm bảo điều trị thích hợp cho trẻ sơ sinh sau sinh. NAS/NOWS là tình trạng có thể dự đoán và điều trị được sau sử dụng opioid mạn tính trong thai kỳ, vì vậy không nên là lý do duy nhất để tránh điều trị đau bằng opioid ở người bệnh mang thai (ACOG 2017; CDC [Dowell 2022]). Không được ngừng opioid đột ngột trong thai kỳ; nếu phù hợp, cần giảm liều dần trước khi ngừng hẳn và cân nhắc nguy cơ đối với mẹ và thai nhi khi xảy ra hội chứng cai ở mẹ (CDC [Dowell 2022]).
Các cân nhắc khi cho con bú
- Morphin có mặt trong sữa mẹ. M6G, một chất chuyển hóa có hoạt tính của morphin, cũng có thể được phát hiện trong sữa mẹ (Baka 2002).
- Nồng độ morphin ghi nhận trong sữa mẹ có thể thay đổi theo từng trường hợp.
- Morphin đã được phát hiện trong nước tiểu của một trẻ nhũ nhi bú mẹ sau khi người mẹ sử dụng thuốc ngoài màng cứng sau mổ lấy thai (Zakowski 1993) và trong huyết thanh của một trẻ nhũ nhi sau khi người mẹ dùng morphin đường uống mạn tính (Robieux 1990).
- Trong điều trị đau ở người bệnh đang cho con bú giai đoạn quanh sinh hoặc khi phẫu thuật ngoài thời kỳ hậu sản, thuốc giảm đau không opioid được ưu tiên sử dụng. Trường hợp cần dùng opioid cho người bệnh đang cho con bú, phải dùng liều thấp nhất có hiệu quả trong thời gian ngắn nhất để hạn chế tác dụng bất lợi cho mẹ và trẻ nhũ nhi. Khi cần lựa chọn opioid để điều trị đau cho mẹ, morphin là một trong những thuốc được ưu tiên. Việc sử dụng thuốc theo phương thức người bệnh tự kiểm soát hoặc qua đường ngoài màng cứng giúp giảm mức độ phơi nhiễm thuốc ở trẻ nhũ nhi (AAP [Sachs 2013]; ABM [Martin 2018]; ABM [Reece-Stremtan 2017]; WHO 2002).
- Nếu opioid mạn tính đã được kê đơn từ trước sinh và tiếp tục sử dụng sau sinh, có thể bắt đầu cho con bú nhằm góp phần giảm nhẹ các biểu hiện cai thuốc tiềm tàng ở trẻ sơ sinh; đồng thời cần theo dõi cả mẹ và trẻ nhũ nhi (AAP [Meek 2022]; AAP [Patrick 2020]).
- Theo dõi trẻ nhũ nhi phơi nhiễm opioid qua sữa mẹ về các dấu hiệu buồn ngủ, an thần, khó bú hoặc giảm trương lực cơ (ACOG 2019). Các triệu chứng cai thuốc có thể xuất hiện khi người mẹ ngừng opioid hoặc khi ngừng cho con bú.
Các cân nhắc về chế độ ăn uống
- Morphin có thể gây khó chịu đường tiêu hóa; do đó nên dùng cùng thức ăn nếu xuất hiện triệu chứng khó chịu tiêu hóa. Cần duy trì sự nhất quán về cách dùng morphin khi dùng kèm hoặc không kèm bữa ăn.
Tài liệu tham khảo
- Phác đồ điều trị bệnh viện Nhi Đồng 1 - 2
- Morphine: Drug information. Uptodate 2026
- FDA is requiring opioid pain medicine manufacturers to update prescribing information regarding long-term use. FDA 31-07-2025