GIỚI THIỆU
Đỡ đẻ thường thai ngôi chỏm kiểu chẩm vệ là kỹ thuật tác động vào thì sổ thai nhằm giúp cuộc đẻ diễn tiến an toàn qua đường âm đạo, nhìn chung không phải can thiệp, ngoại trừ trường hợp cần cắt tầng sinh môn.
QUY TRÌNH KỸ THUẬT
Chỉ định và chống chỉ định
Chỉ định
- Thai ngôi chỏm, đầu đã lọt thấp, thập thò ở âm hộ và tình trạng sẵn sàng cho cuộc sổ thai.
Chống chỉ định
- Thai không có khả năng đẻ qua đường dưới.
- Ngôi chỏm chưa lọt.
Chuẩn bị
Phương tiện
- Bộ dụng cụ đỡ đẻ và bộ khăn vô khuẩn.
- Bộ dụng cụ cắt, khâu tầng sinh môn.
- Khăn, bông, băng, gạc hấp, chỉ khâu, kim khâu.
- Dụng cụ để hút nhớt và hồi sức sơ sinh (máy hút, ống nhựa)
- Thông đái.
Sản phụ
- Được động viên, hướng dẫn cách thở, cách rặn và thư giãn ngoài cơn rặn.
- Được hướng dẫn đi đại tiện hoặc thụt tháo phân lúc mới bắt đầu chuyển dạ; tiểu tiện khi sắp đẻ. Nếu có cầu bàng quang mà không tự đái được thì tiến hành thông tiểu.
- Rửa vùng sinh dục ngoài bằng nước chín.
- Sát khuẩn rộng vùng sinh dục và vùng bẹn, đùi; trải khăn vô khuẩn.
Tư thế sản phụ
- Nằm ngửa trên bàn đẻ; nâng giường đẻ để sản phụ ở tư thế nửa nằm nửa ngồi, đầu cao. Hai tay nắm vào hai thành bàn đẻ, hai đùi dang rộng; mông sát mép bàn. Hai cẳng chân gác trên hai cọc chống giữ chân.
Các bước tiến hành
Nguyên tắc
- Người đỡ đẻ phải tuân thủ nguyên tắc vô khuẩn trong quá trình đỡ đẻ; đồng thời cần kiên nhẫn theo dõi, hướng dẫn sản phụ rặn khi cổ tử cung mở hết và có cơn co tử cung. Không được nong cổ tử cung và âm đạo; không được đẩy bụng sản phụ.
- Trong các thì lọt, xuống và xoay: không can thiệp, chỉ theo dõi cơn co tử cung, tim thai, độ xóa mở cổ tử cung và độ lọt. Khi cổ tử cung mở hết và đầu lọt thấp mới cho sản phụ rặn.
- Thời gian rặn tối đa ở người con so là 60 phút; ở người con rạ là 30 phút. Nếu vượt quá các mốc thời gian này thì cần can thiệp để lấy thai ra bằng forceps hoặc giác kéo.
- Trong suốt thời gian sản phụ rặn, vẫn phải theo dõi tim thai thường xuyên, đặc biệt sau mỗi cơn rặn.
Kỹ thuật đỡ đẻ ngôi chỏm kiểu chẩm vệ
Người đỡ đẻ chỉ bắt tay vào đỡ khi có đủ các điều kiện sau
- Cổ tử cung mở hết.
- Ối đã vỡ (nếu chưa vỡ thì bấm ối).
- Ngôi thai đã lọt và thập thò ở âm môn, gây căng giãn tầng sinh môn và hậu môn loe rộng.
- Hướng dẫn sản phụ chỉ rặn khi có cảm giác mót rặn kèm theo sự xuất hiện của cơn co tử cung.
Các thao tác hầu hết thực hiện trong cơn rặn của sản phụ và cần phải
- Thao tác nhẹ nhàng.
- Hỗ trợ thai sổ ra từ từ.
- Kiên nhẫn động viên sản phụ, không thúc ép, không giục giã hay biểu hiện sốt ruột.
- Ghi nhớ đây là thao tác đỡ đẻ chứ không phải kéo thai.
Các thao tác đỡ đẻ gồm có
- Đỡ đầu
- Giúp đầu cúi tốt: ấn nhẹ nhàng vào vùng chẩm trong mỗi cơn co tử cung.
- Nếu cần thì cắt tầng sinh môn ở vị trí 5 giờ hoặc 7 giờ, thực hiện vào lúc tầng sinh môn giãn căng.
- Khi hạ chẩm tì dưới khớp vệ: cho sản phụ ngừng rặn, một tay giữ tầng sinh môn, một tay đẩy vào vùng trán ngược lên trên để giúp đầu ngửa dần; mắt, mũi, miệng, cằm lần lượt sổ ra ngoài.
- Chỉ hút dịch hoặc lau miệng thai nhi khi nước ối có phân su.
- Quan sát hướng quay của đầu thai để hỗ trợ chẩm quay về bên tương ứng (chẩm trái - ngang hoặc chẩm phải - ngang). Kiểm tra dây rốn nếu quấn cổ: gỡ hoặc cắt (khi chặt không gỡ được).
- Hai bàn tay ôm đầu thai nhi ở hai bên đỉnh thái dương, kéo thai xuống theo trục rốn - cụt để vai trước sổ trước. Khi bờ dưới cơ delta tì dưới khớp vệ thì một tay giữ đầu (cổ nằm giữa khe hai ngón cái và trỏ), tay kia giữ tầng sinh môn, nhấc thai lên phía trên và cho sổ vai sau. Ở thì này dễ gây rách tầng sinh môn; vì vậy cần giữ tầng sinh môn tốt và cho vai sổ từ từ.
- Khi đã sổ xong hai vai: bỏ tay đang giữ tầng sinh môn để thân thai sổ và khi thân ra ngoài thì bắt lấy hai bàn chân. Tiêm bắp 10 đv oxytocin ngay khi chắc chắn không còn thai nào trong tử cung (xem “Xử trí tích cực giai đoạn 3 của chuyển dạ”).
- Giữ thai ở tư thế ngang, đầu hơi thấp (hoặc đặt thai nằm nghiêng trên phần bàn đẻ đã được kéo ra hoặc cho nằm sấp trên bụng mẹ) rồi tiến hành cặp cắt rốn. Nếu người đỡ chính còn bế giữ thai thì động tác cặp cắt rốn do người đỡ phụ thực hiện.
- Chuyển thai ra bàn hồi sức, giao cho người phụ chăm sóc, làm rốn và đánh giá chỉ số Apgar phút thứ 1 và thứ 5.
Kỹ thuật đỡ đẻ kiểu chẩm cùng
Nội dung theo dõi trong đỡ đẻ cơ bản tương tự như đỡ đẻ ngôi chẩm vệ, song có một số điểm khác:
- Khi đỡ đầu: do ngôi chỏm sổ kiểu chẩm cùng mặt thai ngửa lên phía xương mu của người mẹ, cần giúp đầu cúi bằng cách dùng đầu ngón tay ấn vào đầu thai từ dưới lên.
- Khi hạ chẩm của thai đến mép sau âm hộ, cho đầu thai ngửa dần ra sau để lộ các phần trán, mắt, mũi, cằm.
- Khi đầu đã sổ hoàn toàn: chờ cho đầu tự quay về bên nào thì hỗ trợ thai quay hẳn sang bên đó (trái hoặc phải ngang).
- Tiếp tục đỡ vai và các phần khác của thai theo cách thực hiện tương tự đỡ ngôi chỏm chẩm vệ.
- Ngôi chỏm sổ chẩm cùng thường diễn biến lâu, sổ khó hơn và dễ gây sang chấn cho mẹ; do đó cần cắt rộng tầng sinh môn trước khi đỡ đầu thai nhi.
- Thai nhi sổ chẩm cùng cũng dễ bị ngạt, vì vậy phải hồi sức thai thật tốt.
Theo dõi và xử lý tai biến
Theo dõi
- Sau mỗi cơn rặn, người đỡ phụ nghe lại nhịp tim thai và báo cho người đỡ chính, nhằm phát hiện suy thai để có thái độ xử trí phù hợp.
- Luôn quan sát bụng sản phụ để phát hiện sớm dấu hiệu dọa vỡ.
- Hạ bàn đẻ nằm ngang khi thai đã sổ ra ngoài.
- Sau khi đỡ đẻ xong, người đỡ chính phải theo dõi sản phụ nhằm phát hiện kịp thời tình trạng chảy máu, vết rách và đánh giá mức co hồi tử cung để chuẩn bị xử trí tích cực giai đoạn 3 của chuyển dạ.
- Ghi lại toàn bộ diễn biến của cuộc đẻ vào hồ sơ.
Xử trí
- Ngay sau khi sổ thai, nếu rau bong dở dang dẫn đến băng huyết thì tiến hành bóc rau nhân tạo và kiểm soát tử cung ngay.
- Nếu có rách âm hộ, âm đạo, tầng sinh môn (hoặc thực hiện cắt chủ động tầng sinh môn): khâu lại sau khi đã sổ rau đồng thời kiểm tra bánh rau.
- Nếu băng huyết xảy ra do đờ tử cung: tập trung cấp cứu nhằm làm ngừng chảy máu và bù phụ lượng máu đã mất.
- Trường hợp thai ngạt: phải hồi sức thai.
Tài liệu tham khảo
- Hướng dẫn quốc gia về các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản 2009