GIỚI THIỆU
Than phiền chính: khởi phát đột ngột khó thở, co giật, hoặc ngừng tim.
CÁC DẤU HIỆU
| Các dấu hiệu cần nhận định khi tiếp cận ban đầu | |
|---|---|
| Thứ tự | Mô tả |
| A (đường thở) | Đánh giá đường thở, ho |
| B (hô hấp) | Giảm oxy máu |
| C (tuần hoàn) | ↓ Huyết áp (mẹ), ↑ nhịp tim (thai nhi) |
| D (khiếm khuyết thần kinh) | Ý thức thay đổi (V,P,U,D)* |
| E (bộ lộ thăm khám) | Đau đầu, co giật, vã mồ hôi, tím tái |
| LPC (xét nghiệm tại giường) | |
| UPC (siêu âm tại giường) | Suy thai |
*
A (tỉnh táo), V (đáp ứng lời nói), P (đáp ứng kích thích đau), U (bất tỉnh), D (mê sảng).
BỆNH SỬ
Dấu hiệu và triệu chứng
- AFE chủ yếu khởi phát trong quá trình chuyển dạ.
- Biểu hiện lâm sàng điển hình của AFE là tình trạng diễn tiến cấp tính với thiếu oxy trầm trọng, trụy tim mạch, hạ huyết áp, ngừng tim phổi và DIC.
- Các đặc điểm có thể gặp thêm gồm vã mồ hôi, run rẩy, khó thở, phù phổi hoặc ARDS, tím tái, co thắt phế quản và suy thai (nhịp tim chậm), co giật, mất trương lực, ho, nhức đầu, đau ngực, ..
Tình trạng nguy cơ
- Sinh mổ, khởi phát chuyển dạ.
- Sinh con được hỗ trợ bằng dụng cụ (Forceps hoặc hút chân không).
- Nhau tiền đạo, nhau lớn và bong.
- Tiền sản giật và sản giật.
Chẩn đoán phân biệt
- Thuyên tắc phổi/thuyên tắc khí, sốc phản vệ, hít sặc vào phổi, sốc nhiễm trùng, nhồi máu cơ tim và suy thất trái cấp tính.
- AFE là chẩn đoán loại trừ dựa trên biểu hiện cấp tính kịch tính của tổn thương tim mạch kèm rối loạn đông máu liên quan.
THĂM DÒ CHẨN ĐOÁN
Xét nghiệm
- Dữ liệu xét nghiệm ban đầu cần bao gồm: công thức máu, khí máu động mạch, điện giải đồ, ECG 12 chuyển đạo, men tim và bộ đông máu.
Chẩn đoán hình ảnh
- Chụp X quang/CT ngực.
- Siêu âm tim qua thực quản (dãn thất phải nặng và đổ đầy thất trái thấp).
Tiêu chí chẩn đoán
- Hạ huyết áp cấp tính hoặc ngừng tuần hoàn hô hấp.
- Đông máu nội mạch lan tỏa (DCI).
- Khởi phát các biểu hiện nêu trên trong quá trình chuyển dạ, mổ lấy thai, nong và hút thai, hoặc trong vòng 30 phút sau khi sinh.
- Không có bất kỳ tình trạng gây nhiễu đáng kể nào khác hoặc không có khả năng giải thích phù hợp cho các dấu hiệu và triệu chứng quan sát được.
CAN THIỆP ĐIỀU TRỊ
Do AFE thường biểu hiện trong khi sinh hoặc sớm sau sinh, đa số bệnh nhân sẽ được đánh giá và xử trí giai đoạn ban đầu tại phòng sinh hoặc phòng mổ bởi đội ngũ sản khoa và gây mê hiện diện, tuy nhiên vẫn cần có sự tham gia sớm của nhân viên hồi sức tích cực.
Ổn định tình trạng tuần hoàn - hô hấp của bệnh nhân
- Thực hiện phác đồ BLS/ACLS và hồi sức ngừng tim trong thai kỳ. Xem: ACLS - ngừng tim ở phụ nữ có thai trong bệnh viện.
- Nhận biết sớm và tiến hành hồi sức kịp thời; cân nhắc đặt nội khí quản. Lưu ý về quản lý đường thở trong thai kỳ bao gồm giảm dung tích cặn chức năng (xấu hơn ở tư thế nằm ngửa) và tăng nguy cơ hít sặc do tử cung mang thai, đồng thời tăng nhu cầu oxy.
- Cân nhắc đặt nội khí quản sớm.
- Thiết lập đường truyền tĩnh mạch (IV) cỡ lớn hoặc đường truyền trong xương (IO) khi cần.
- Đặt bệnh nhân ở tư thế nằm nghiêng sang bên trái nhằm hạn chế chèn ép IVC (sự đè nén làm giảm khả năng hồi lưu tĩnh mạch).
- Có thể sử dụng thuốc vận mạch trong quản lý AFE, gồm dopamine, norepinephrine, ephedrine, digoxin, hydrocortisone natri succinate.
- Bảo đảm các chế phẩm máu cần thiết để điều trị DIC.
- Nếu AFE xảy ra trước sinh, sau khi người mẹ ổn định ban đầu, cân nhắc tiến hành chuyển dạ sinh cấp cứu.
Các phương pháp điều trị khác
- Gây thuyên tắc động mạch tử cung và yếu tố tái tổ hợp VII đã được sử dụng trong một số trường hợp rối loạn đông máu nghiêm trọng kháng lại truyền bổ sung máu và các chế phẩm máu thông thường.
- Nếu còn chảy máu âm đạo sau sinh dai dẳng, có thể cần can thiệp cắt bỏ tử cung.
- Những báo cáo ca khác đã mô tả việc sử dụng siêu lọc - tách thẩm tách liên tục, oxy hóa qua màng ngoài cơ thể (ECMO) và đặt bóng đối xung trong động mạch chủ trong các trường hợp AFE.
Tài liệu tham khảo
- Pregnancy-Amniotic fluid embolism (AFE). CERTAIN