Đái tháo đường và thai nghén trong sản khoa

Post key: 730351a0-bae9-56c0-a2fc-07d77072c410
Slug: đai-thao-duong-va-thai-nghen-trong-san-khoa
Excerpt: Đái tháo đường thai nghén (ĐTĐTN) là rối loạn dung nạp glucose hoặc đái tháo đường được phát hiện lần đầu trong khi mang thai. Đa số được chẩn đoán ở giai đoạn muộn; sau sinh có thể trở về bình thường nhưng nguy cơ tiến triển đái tháo đường typ 2 về sau vẫn tăng. 1) Phát hiện và tầm soát: phân tầng nguy cơ (nguy cơ thấp/ trung bình/ cao). Nhóm nguy cơ trung bình thực hiện xét nghiệm sàng lọc ở 24–28 tuần bằng phương pháp 2 bước (test 50 g, nếu dương tính làm nghiệm pháp dung nạp glucose) hoặc phương pháp 1 bước (làm nghiệm pháp dung nạp glucose trên tất cả). Nhóm nguy cơ cao cần làm sớm; nếu chưa chẩn đoán được thì làm lại ở 24–28 tuần hoặc bất kỳ thời điểm nào có biểu hiện tăng glucose máu. 2) Chẩn đoán: khuyến cáo sử dụng tiêu chuẩn Carpenter–Coustan với test 100 g glucose uống; chẩn đoán khi có ≥ 2 giá trị glucose huyết tương đạt hoặc vượt ngưỡng quy định. 3) Điều trị: theo dõi glucose mao mạch (đói, sau ăn), tìm ceton niệu (đặc biệt trước bữa ăn sáng; ở ĐTĐ từ trước khi glucose >150 mg/dL). Theo dõi HbA1c trong 3 tháng đầu. Điều trị nền tảng là dinh dưỡng (chia 3 bữa chính và 3 bữa phụ; xử trí hạ glucose máu đúng cách, có thể dùng glucagon khi hạ glucose kèm rối loạn tri giác). - Insulin: mục tiêu kiểm soát glucose chặt chẽ theo giai đoạn; người bệnh cần tự theo dõi nhiều lần/ngày để điều chỉnh liều. Có thể dùng phác đồ nhiều mũi hoặc insulin hỗn hợp tùy typ và đáp ứng. - Chuyển dạ và sau sinh: mục tiêu duy trì glucose gần sinh lý (70–120 mg/dL), theo dõi 1–4 giờ; thường điều chỉnh bằng truyền insulin theo nhu cầu (TM liên tục hoặc tiêm dưới da insulin nhanh). Nhu cầu insulin giảm nhanh sau sinh; nếu còn cao cần nghĩ đến nhiễm trùng hậu sản. 4) Biến chứng/tiến triển: nguy cơ cho thai nhi gồm dị tật bẩm sinh, thai to/đa ối, hội chứng suy hô hấp và rối loạn chuyển hóa (hạ glucose sơ sinh…); cho mẹ có thể nặng dần kèm nguy cơ nhiễm toan ceton (thường vào khoảng 6 tháng sau), rối loạn chuyển hóa và tăng nguy cơ bệnh tật. Tài liệu tham khảo: Quyết định số 315/QĐ-BYT ngày 29/01/2015 của Bộ Y tế về Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị các bệnh sản phụ khoa.
Recognized tags: bo-y-te, chan-doan, dieu-tri, theo-doi, tam-soat, thai-phu

GIỚI THIỆU

  • Đái tháo đường thai nghén (ĐTĐTN) là tình trạng suy giảm dung nạp glucose hoặc đái tháo đường được phát hiện lần đầu trong thời gian mang thai (không loại trừ trường hợp người bệnh đã có suy giảm dung nạp glucose hoặc đái tháo đường từ trước nhưng chưa được phát hiện).
  • ĐTĐTN thường được phát hiện chủ yếu ở giai đoạn muộn của thai kỳ; đa số trường hợp sau sinh, glucose có thể trở về bình thường. Tuy vậy, những thai phụ có tiền sử ĐTĐTN vẫn có nguy cơ phát triển thành đái tháo đường typ 2 trong tương lai.
Thảo luận riêng về cập nhật chẩn đoán và điều trị Đái tháo đường thai kỳ ở góc độ nội tiết.

PHÁT HIỆN ĐTĐTN

Chiến lược tầm soát để phát hiện ĐTĐTN dựa trên các nguy cơ

Nguy cơ thấp

Không yêu cầu làm test glucose thường quy nếu người bệnh đồng thời đáp ứng tất cả các tiêu chí sau:
  • Thuộc chủng tộc có tỷ lệ ĐTĐTN thấp.
  • Không có người thân thuộc gần (first degree) bị đái tháo đường.
  • Tuổi duới 25.
  • Thể trọng bình thường trước thai kỳ (BMI < 26kg/m2).
  • Không có tiền sử bất thường chuyển hoá glucose.
  • Không có tiền sử xấu về sản khoa.

Nguy cơ trung bình

Người bệnh thiếu ≥ 1 các đặc điểm nêu trên: thực hiện test glucose máu tại 24-28 tuần theo một trong hai cách sau:
  • Thủ tục 2 bước: tiến hành test 50g glucose; nếu glucose vượt ngưỡng sàng lọc, tiếp tục làm nghiệm pháp dung nạp glucose.
  • Thủ tục 1 bước: thực hiện nghiệm pháp dung nạp glucose cho tất cả các đối tượng.

Nguy cơ cao

Người bệnh có ≥ 1 trong các đặc điểm sau:
  • Béo phì rõ (BMI > 40kg/m2).
  • Tiền sử gia đình đái tháo đường týp 2 rõ.
  • Tiền sử bản thân bị ĐTĐTN, giảm dung nạp glucose, glucose niệu.
  • Thực hiện test glucose máu càng sớm càng tốt, áp dụng các bước thủ tục đã nêu ở phần sàng lọc theo nguy cơ.
  • Nếu ĐTĐTN chưa được chẩn đoán, cần làm lại vào 24-28 tuần hoặc tại bất kỳ thời điểm nào khi người bệnh có biểu hiện gợi ý tăng glucose máu.

Chẩn đoán

Hội nghị quốc tế ĐTĐTN lần thứ 4 khuyến nghị sử dụng tiêu chuẩn của Carpenter–Coustan với nghiệm pháp dùng test 100g glucose uống.
Tiêu chuẩn chẩn đoán đái tháo đường thai kỳ
O‟Sullivan-Mahan
Máu toàn SomogyNelson
(mg/dl[mmol/l])
Nhóm dữ kiện ĐTĐ
quốc gia
Huyết tƣơng –
Tự phân tích
(mg/dl[mmol/l])
Carpenter-Coustan
Huyết tƣơng-Glucose
oxidase
(mg/dl[mmol/l])
Đói90 [5,0]105[5,8]95[5,3]
1 giờ165[9,2]190[10,6]180[10,0]
2 giờ145[8,1]165[9,2]155[8,6]
3 giờ125[6,9]145[8,1]140[7,8]

Test với 100g glucose được thực hiện vào buổi sáng: nhịn đói qua đêm ít nhất 8 giờ nhưng không quá 14 giờ; sau 3 ngày ăn không kiêng (≥ 150g carbohydrate/ngày), hoạt động thể lực bình thường; trong thời gian làm test, đối tượng ngồi nghỉ và không hút thuốc. Người bệnh được chẩn đoán khi có ≥ 2 trị số glucose huyết tương bằng hoặc cao hơn trị số quy định.

ĐIỀU TRỊ ĐTĐ VÀ THAI NGHÉN

Theo dõi và điều trị thường quy

Theo dõi

  • Cần tìm ceton niệu trước bữa điểm tâm để đánh giá việc cung cấp carbohydrate có đáp ứng đủ nhu cầu hay không. Thai phụ có ĐTĐ từ trước cần tìm ceton niệu khi glucose >150mg/dL. Với ĐTĐTN, theo dõi glucose đói và glucose 1 giờ, 2 giờ sau ăn theo từng thời điểm. Đối với người bệnh dùng insulin, cần theo dõi glucose đói và glucose lúc đi ngủ để điều chỉnh liều.
  • Tất cả các đối tượng cần theo dõi HbA1c trong 3 tháng đầu mang thai nhằm đánh giá nguy cơ dị tật bẩm sinh.

Dinh dưỡng

  • Nguyên tắc cơ bản góp phần kiểm soát chặt chẽ ĐTĐ trong suốt quá trình mang thai là xây dựng chế độ và kế hoạch ăn uống phù hợp.
  • Mỗi ngày chia thành 3 bữa ăn chính và 3 bữa ăn phụ nhằm hạn chế hạ glucose huyết ban đêm và trước các bữa ăn.
  • Trường hợp bị hạ glucose huyết cần xử trí hợp lý, không lạm dụng làm tăng glucose thái quá gây ảnh hưởng bất lợi cho thai. Trường hợp hạ glucose huyết kèm rối loạn tri giác cần tiêm glucagon (có thể hướng dẫn cho người thân thực hiện khi cần thiết).

Điều trị insulin

Yêu cầu điều trị: Đối với ĐTĐTN, yêu cầu kiểm soát glucose chặt chẽ hơn so với người bệnh ĐTĐ nói chung, cụ thể như sau:
  • Glucose huyết lúc đói: 60-95mg/dL.
  • Glucose huyết sau ăn: 100-129mg/dL.
Người bệnh cần tự đo glucose huyết mao mạch nhiều lần mỗi ngày tại nhà hoặc nơi làm việc để điều chỉnh liều insulin một cách thích hợp.
Yêu cầu glucose huyết cụ thể theo các giai đoạn:
  • Trước khi mang thai: xác định glucose huyết sau ăn (GHSA).
  • Ba tháng đầu thai kỳ: GHSA < 160mg/dL, nhằm giảm nguy cơ sẩy thai, giảm nguy cơ dị tật và kiểm soát ceton máu.
  • Ba tháng giữa thai kỳ: GHSA < 130mg/dL, giúp kiểm soát leucine, threonine, acid béo tự do, tổng thể glucose huyết và giảm nguy cơ thai lớn.
  • Ba tháng cuối thai kỳ: GHSA < 130mg/dL, nhằm giảm nguy cơ hội chứng suy kiệt hô hấp, thai lưu, đồng thời kiểm soát ceton máu.
  • Sau sinh: GHSA < 180mg/dL.
Đối với týp 1:
  • Cần điều trị tích cực bằng nhiều mũi tiêm trong ngày: ví dụ 3 mũi insulin tác dụng nhanh trước 3 bữa ăn và 1 mũi insulin chậm lúc 21 giờ. Điều chỉnh liều lượng mỗi 1-2 tuần tùy theo nhu cầu; lưu ý rằng gần cuối 3 tháng đầu, nhu cầu insulin thường giảm, sau đó tăng dần ở 3 tháng cuối, có thể đạt đến gấp 3 lần liều lượng dùng trước lúc mang thai.
  • Cũng có thể tiêm 2 mũi/ngày loại insulin hỗn hợp: loại 70% insulin NPH và 30% insulin tác dụng nhanh cho trước ăn sáng chiếm 2/3 tổng liều của ngày; loại 50% insulin NPH và 50% insulin tác dụng nhanh cho trước ăn chiều chiếm 1/3 tổng liều của ngày.
Đối với týp 2:
  • Cần điều trị bằng insulin.
  • Đối với ĐTĐTN: chưa có 1 chuẩn mực nào thống nhất; tuy nhiên đa số đồng thuận dùng insulin ngay. Khi glucose huyết lúc đói ≥ 126mg/dL, kể cả trong trường hợp glucose huyết >105mg/dL và < 126mg/dL với 2 lần xét nghiệm cách biệt, cũng nên dùng insulin sau khi tiết thực thất bại.

Trong khi chuyển dạ và sau sinh

  • Đối với ĐTĐ nói chung, mục tiêu điều trị là duy trì glucose ở mức sinh lý (70-120mg/dL). Để tránh tăng glucose máu, người bệnh nên hạn chế ăn uống và chỉ truyền các dịch khác không chứa glucose. Truyền tĩnh mạch đường dextrose với tốc độ 5-8g/giờ, dùng đường 10% với tốc độ 50-80ml/giờ. Tất cả các dịch truyền khác phải không có glucose. Theo dõi glucose mỗi 1-4 giờ.
  • Insulin được chỉ định theo nhu cầu: hoặc truyền tĩnh mạch liên tục (0,01-0,04đv/kg cơ thể hiện tại/giờ), hoặc tiêm dưới da loại insulin nhanh mỗi 3-6 giờ.
  • Nhu cầu glucose và insulin được điều chỉnh dựa trên kết quả xét nghiệm glucose huyết từng thời điểm, thời gian và đường tiêm insulin cuối cùng, cũng như thời điểm lần cung cấp năng lượng trước lúc sinh.
  • Tác động của vận động thể lực trong lúc sinh nở có thể làm tăng tiêu thụ glucose, tuy nhiên có thể được điều chỉnh thông qua gây tê tuỷ sống liên tục trong cuộc sinh.
  • Với ĐTĐTN thường không cần sử dụng insulin trong lúc sinh, kể cả một số trường hợp ĐTĐ týp 2 nhẹ.
  • Nhu cầu insulin giảm nhanh chóng ngay sau khi sinh (có thể giảm đến 50-90%), do đó liều insulin/ngày cần giảm xuống còn khoảng 30% hoặc thấp hơn so với liều trước lúc sinh. Nếu nhu cầu insulin vẫn còn cao sau sinh có thể là dấu hiệu của nhiễm trùng hậu sản.
  • Insulin đường tĩnh mạch trước đó sẽ nhanh chóng hết tác dụng, vì vậy cần chuyển từ đường tĩnh mạch sang đường dưới da ngay sau khi sinh; thường thì nhu cầu insulin nhanh chóng trở lại như trước khi sinh.
  • Sản phụ ĐTĐ phụ thuộc insulin trong những ngày đầu sau sinh thường chỉ cần liều nhỏ, thậm chí không cần điều trị insulin.

Các phương tiện điều trị khác

  • Tập thể dục ở thai phụ cần thận trọng vì có thể gây co thắt tử cung, sinh non, tim thai chậm, đặc biệt ở các thai phụ trước đó chưa từng tập luyện.
  • Dù vậy, hoạt động thể lực mức độ nhẹ nhàng như đi xe đạp được cho là an toàn và hữu ích.

TIẾN TRIỂN VÀ BIẾN CHỨNG

Cho con

  • Sự phát triển của thai ở những người mẹ bị ĐTĐ nói chung có thể kèm theo các dị tật ảnh hưởng lớn đến tương lai của trẻ, bao gồm:
    • Tổn ống thần kinh.
    • Dị tật bẩm sinh ở tim và một số tổn thương khác.
  • Thai quá phát triển do tăng tích chứa mỡ, tăng chiều dài, gia tăng tỷ lệ bụng/đầu hoặc ngực/đầu.
  • Thai kém phát triển có thể gây nhiều biến chứng có hại cho thai.
  • Đa ối thường đi kèm với thai to, gây khó chịu và có thể dẫn đến sinh non.
  • Một số nguy cơ khác cho thai nhi có thể gặp do tăng insulin, gồm hội chứng suy hô hấp, hạ glucose huyết, tăng billirubin máu, hạ calci máu, kém ăn.

Cho mẹ

  • Phụ nữ có biến chứng tim mạch và/hoặc ĐTĐ là nhóm có nguy cơ bệnh tật và tử vong cao trong suốt quá trình mang thai.
  • Nhiều biến chứng bệnh tật liên quan đến ĐTĐ ở phụ nữ mang thai có thể kéo dài hoặc tái diễn, góp phần làm rối loạn thêm chuyển hoá và từ đó tác động bất lợi lên việc kiểm soát glucose huyết.
  • Nhiễm toan ceton thường xảy ra vào khoảng 6 tháng sau của thai kỳ; đây là giai đoạn thai kỳ có tác động mạnh nhất lên ĐTĐ. Nhiễm toan ceton là một nguy cơ gây tử vong cho mẹ cũng như tử vong chu sinh cho thai nhi.

Tài liệu tham khảo

  1. Quyết định số 315/QĐ-BYT ngày 29/01/2015 của Bộ Y tế ban hành tài liệu chuyên môn: Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị các bệnh sản phụ khoa