GIỚI THIỆU
Trong giai đoạn sốc còn bù, những chỉ số tuần hoàn vĩ mô như huyết áp động mạch và cung lượng tim (CO) có thể vẫn nằm trong giới hạn bình thường, dù việc cung cấp và sử dụng oxy ở mức mô đã bị rối loạn rõ rệt. Vì vậy, đã có sự phát triển các phương tiện nhằm đo lường các chỉ dấu liên quan đến sốc ở cấp độ mô.
Hiện nay, rối loạn chức năng vi tuần hoàn do sốc nhận được sự quan tâm đặc biệt, đặc biệt trong bối cảnh nhiễm trùng huyết.
TƯỚI MÁU MÔ
Đo độ bão hòa oxy của mô
- Đo độ bão hòa oxy của mô (StO 2 ) bằng quang phổ cận hồng ngoại (NIRS) đã được đề xuất như một phương thức theo dõi huyết động dòng thấp (mao mạch) nhằm khảo sát vi tuần hoàn và đánh giá sự tương xứng giữa cung cấp oxy và tiêu thụ oxy tại cấp độ mô.
- StO 2 được đo qua da thông qua NIRS bằng một số thiết bị thương mại sẵn có; các thiết bị này xác định các giá trị độ hấp thụ của mô trong một dải bước sóng được xác định.
- StO 2 khi kết hợp với test tắc mạch máu (VOT) đã được chứng minh có khả năng dự đoán kết cục và rối loạn chức năng cơ quan ở những bệnh nhân nhiễm trùng huyết và suy tim sung huyết trong hai nghiên cứu nhỏ, đồng thời các nghiên cứu sơ bộ (tiền cứu) cũng đã cho thấy tính hữu ích ở bệnh nhân chấn thương.
- Tuy nhiên, giá trị của StO 2 có giới hạn vì StO 2 thường vẫn nằm trong phạm vi bình thường cho đến khi sốc diễn tiến khá nặng. Việc bổ sung test thiếu máu cục bộ động như VOT (đặt một garô hoặc một máy đo huyết áp trên mức huyết áp tâm thu trong khoảng thời gian ngắn, xác định) có thể tăng khả năng dự đoán của StO 2 trong việc nhận diện tình trạng giảm tưới máu mô.
Đo lường lưu lượng máu vi tuần hoàn
- Niêm mạc dưới lưỡi là vị trí ưu tiên để đánh giá vi tuần hoàn ở bệnh nhân nặng do có chung nguồn gốc phôi thai với tuần hoàn nội tạng và đồng thời có thể tiếp cận thuận lợi ngay tại giường.
- Hình ảnh vi mạch dưới lưỡi thường được thu nhận bằng các kỹ thuật kính hiển vi tiên tiến, bao gồm hình ảnh trường tối bên dòng (SDF) hoặc bằng phương pháp quang phổ cận hồng ngoại (NIRS).
- Các nghiên cứu ban đầu đã ghi nhận sự thay đổi lưu lượng vi mạch ở bệnh nhân nhiễm trùng huyết và sốc tim. Nhiều nghiên cứu tiếp theo tiếp tục cho thấy biến đổi lưu lượng máu vi tuần hoàn dưới lưỡi có liên quan đến kết cục xấu ở những bệnh nhân bị sốc nhiễm trùng.
Đổ đầy mao mạch so với Lactate
- Lactate từ lâu đã được coi là chất chỉ dấu cho tưới máu mô trong tình trạng sốc.
- Trong một thử nghiệm đa trung tâm, chiến lược hồi sức nhắm đến bình thường hóa thời gian đổ đầy mao mạch được đặt trong đối sánh với chiến lược bình thường hóa lactate huyết thanh (hoặc giảm 20% lactate huyết thanh). Đánh giá tưới máu mô, với thời gian đổ đầy mao mạch bình thường được xác định là ≤ 3 giây và thực hiện mỗi 30 phút một lần, được so sánh với các biện pháp lactate nối tiếp (tuần tự), thực hiện mỗi 2 giờ một lần. Chiến lược tưới máu ngoại biên (theo thời gian đổ đầy mao mạch) liên quan đến ít rối loạn chức năng cơ quan hơn sau 72 giờ, ít truyền dịch tĩnh mạch hơn và có thể có lợi ích về tỷ lệ tử vong trong 28 ngày.
Tài liệu tham khảo
- Novel tools for hemodynamic monitoring in critically ill patients with shock. Uptodate. Topic 107337 Version 22.0
- Sidestream dark field imaging: the evolution of real-time visualization of cutaneous microcirculation and its potential application in dermatology. PubMed
- The Microcirculation Is a Vulnerable Organ in Sepsis. researchgate