GIỚI THIỆU
Thủy đậu là một bệnh nhiễm trùng cấp do virus Herpes zoster gây ra, lây truyền từ người sang người qua đường hô hấp hoặc thông qua tiếp xúc gần.
Thủy đậu gặp chủ yếu ở trẻ em, thường biểu hiện bằng sốt kèm phát ban dạng nốt phỏng nước; đa số ca diễn biến tương đối lành tính. Tuy nhiên, ở các nhóm nguy cơ như người suy giảm miễn dịch, phụ nữ mang thai và trẻ sơ sinh, bệnh có thể tiến triển nặng và gây các biến chứng ở cơ quan nội tạng, bao gồm viêm phổi, viêm cơ tim; trong một số trường hợp có thể dẫn đến tử vong.
Bệnh có tính lây lan cao: tỷ lệ lây nhiễm có thể lên đến 90% ở những người chưa có miễn dịch. Thủy đậu thường xuất hiện theo mùa và gây thành dịch ở trẻ em lứa tuổi đi học.
NGUYÊN NHÂN
- Tác nhân gây thủy đậu là virus Herpes zoster, thuộc họ Herpeviridae.
- Virus thủy đậu lây qua đường hô hấp.
- Nguồn lây chủ yếu là người mắc thủy đậu: người bệnh có khả năng lây cho người khác khoảng 48 giờ trước khi xuất hiện ban, trong giai đoạn phát ban (thường kéo dài 4-5 ngày), và cho đến khi các tổn thương đóng vảy.
CHẨN ĐOÁN
Lâm sàng
- Thời gian ủ bệnh dao động từ 10 đến 21 ngày, thường là 14-17 ngày.
- Giai đoạn tiền triệu kéo dài khoảng 1-2 ngày trước khi phát ban. Người bệnh có thể mệt mỏi và sốt kéo dài 3 đến 5 ngày, với khoảng nhiệt độ từ 37,8°-39,4°C.
- Ban trên da thường xuất hiện đầu tiên ở mặt và thân, sau đó nhanh chóng lan ra toàn bộ cơ thể.
- Ban tiến triển ban đầu là dạng dát sẩn, sau đó chuyển thành phỏng nước trong vòng vài giờ đến một vài ngày. Phần lớn các nốt phỏng có kích thước nhỏ 5-10 mm, kèm vùng viền đỏ xung quanh. Tổn thương có hình tròn hoặc bầu dục; khi quá trình thoái triển bắt đầu, vùng ở giữa vết phỏng dần trở nên lõm.
- Các nốt phỏng ban đầu có dịch trong, dạng giọt sương; sau đó dịch trở nên đục. Nốt phỏng vỡ hoặc thoái triển sẽ đóng vảy; vảy rụng sau 1 đến 2 tuần và thường để lại sẹo lõm nông.
- Ban thường xuất hiện theo từng đợt liên tiếp trong 2-4 ngày. Tại mỗi vùng da có thể đồng thời thấy đủ các giai đoạn của ban: dát sẩn, phỏng nước và vảy.
- Tổn thương thủy đậu có thể gặp ở niêm mạc hầu họng và/hoặc âm đạo.
- Số lượng và mức độ nặng của ban thay đổi đáng kể giữa các người bệnh. Trẻ nhỏ thường có ít ban hơn so với trẻ lớn hơn; các ca bệnh thứ cấp và tam cấp trong cùng gia đình thường có số lượng ban nhiều hơn.
- Ở người suy giảm miễn dịch (bao gồm cả trẻ em và người lớn), đặc biệt ở người bệnh ung thư máu, số lượng tổn thương thường nhiều hơn; có thể có xuất huyết ở nền nốt phỏng và tổn thương liền chậm hơn so với người không suy giảm miễn dịch. Nhóm suy giảm miễn dịch cũng có nguy cơ cao hơn xuất hiện biến chứng ở các cơ quan nội tạng (xảy ra ở 30-50% số ca bệnh); tỷ lệ tử vong có thể lên tới 15% khi không điều trị kháng virus.
Cận lâm sàng
- Công thức máu: bạch cầu bình thường, có thể giảm như trong các bệnh nhiễm virus khác.
- Sinh hóa máu: có thể ghi nhận tăng men gan.
Chẩn đoán xác định
- Chẩn đoán thủy đậu chủ yếu dựa vào biểu hiện lâm sàng và nhìn chung không cần xét nghiệm khẳng định. Ban thủy đậu điển hình là các nốt phỏng nhiều lứa tuổi, rải rác toàn thân; ở người có tiền sử tiếp xúc với người bị thủy đậu, các đặc điểm này gợi ý mạnh cho chẩn đoán.
- Các xét nghiệm khẳng định thủy đậu hiện không sẵn có trong thực hành lâm sàng và rất ít khi được sử dụng; bao gồm:
- Xét nghiệm dịch nốt phỏng: Lam Tzanck tìm tế bào khổng lồ đa nhân, PCR xác định ADN của Herpes zoster, v.v...
- Xét nghiệm huyết thanh học: xác định chuyển đảo huyết thanh hoặc tăng hiệu giá kháng thể với Herpes zoster, v.v...
Chẩn đoán phân biệt
- Phân biệt thủy đậu với một số bệnh có phát ban dạng phỏng nước, trong đó có bệnh tay chân miệng liên quan tới Enterovirus, bệnh do Herpes simplex, viêm da mủ và một số bệnh khác.
- Bệnh tay chân miệng do Enterovirus cũng có ban dạng phỏng nước và có thể kèm tổn thương niêm mạc (miệng, họng) như thủy đậu. Tuy nhiên, ban trong tay chân miệng thường có kích thước nhỏ hơn, phân bố tập trung ở tay chân và mông, đồng thời có thể có tổn thương ở lòng bàn tay và bàn chân. Ban do Herpes simplex thường khu trú ở các vùng da chuyển tiếp quanh các hốc tự nhiên liên quan đến niêm mạc, không lan tỏa toàn bộ cơ thể như thủy đậu.
ĐIỀU TRỊ
Nguyên tắc điều trị
- Đối với người miễn dịch bình thường, điều trị thủy đậu chủ yếu là điều trị hỗ trợ, bao gồm hạ sốt và chăm sóc tổn thương da.
- Thuốc kháng virus Herpes có tác dụng làm giảm mức độ nặng và rút ngắn thời gian diễn tiến bệnh, đặc biệt có chỉ định trong các trường hợp suy giảm miễn dịch.
Điều trị kháng virus
- Acyclovir uống 800 mg 5 lần/ngày trong 5-7 ngày; trẻ dưới 12 tuổi có thể dùng liều 20 mg/kg 6 giờ một lần.
- Tác dụng điều trị tốt nhất khi bắt đầu sớm, trong vòng 24 giờ đầu sau khi xuất hiện phát ban.
- Ở người suy giảm miễn dịch nặng bị thủy đậu biến chứng viêm não: ưu tiên acyclovir tĩnh mạch, ít nhất trong giai đoạn đầu, liều 10-12,5 mg/kg, 8 giờ một lần, nhằm làm giảm biến chứng nội tạng. Thời gian điều trị là 7 ngày.
- Đối với người suy giảm miễn dịch nguy cơ thấp, có thể chỉ cần điều trị bằng thuốc kháng virus đường uống.
Điều trị hỗ trợ
- Hạ sốt bằng paracetamol; tránh dùng aspirin để phòng ngừa hội chứng Reye.
- Chỉ định kháng histamin khi người bệnh có ngứa tại vị trí tổn thương da.
- Chăm sóc tổn thương da: làm ẩm tổn thương trên da hằng ngày, bôi thuốc chống ngứa tại chỗ, và ngăn ngừa bội nhiễm vi khuẩn bằng thuốc sát khuẩn tại chỗ (ví dụ các thuốc chứa muối nhôm acetat).
- Điều trị hỗ trợ hô hấp tích cực khi người bệnh có viêm phổi do thủy đậu.
- Dùng kháng sinh khi thủy đậu có biến chứng bội nhiễm tổn thương da hoặc bội nhiễm tại các cơ quan khác.
TIẾN TRIỂN VÀ BIẾN CHỨNG
Tiến triển
- Thủy đậu thường diễn tiến lành tính ở trẻ em, do đó ít khi cần nhập viện. Khi được điều trị acyclovir, thời gian sốt sẽ ngắn hơn và lượng tổn thương trên da ít hơn, đồng thời tổn thương chóng liền hơn.
Biến chứng
- Bội nhiễm vi khuẩn các nốt ban, thường liên quan tới tụ cầu vàng hoặc liên cầu gây mủ.
- Biến chứng hệ thần kinh trung ương:
- Rối loạn tiểu não và viêm màng não, thường gặp ở trẻ em. Thời điểm khởi phát thường vào khoảng 21 ngày sau khi phát ban, hiếm khi xảy ra trước khi phát ban. Dịch não tủy có tăng protein và tăng bạch cầu lympho.
- Viêm não, viêm tủy cắt ngang, hội chứng Guillain-Barré và hội chứng Reye.
- Viêm phổi: là biến chứng nguy hiểm nhất của thủy đậu, thường gặp ở người lớn, đặc biệt ở phụ nữ mang thai. Viêm phổi thường bắt đầu sau 3-5 ngày kể từ khi bắt đầu phát ban, có thể dẫn đến suy hô hấp và ho ra máu. Phim X-quang phổi có tổn thương nốt và tổn thương kẽ.
- Viêm cơ tim, tổn thương giác mạc, viêm thận, viêm khớp, tình trạng xuất huyết, viêm cầu thận cấp và viêm gan.
- Thủy đậu chu sinh xảy ra khi mẹ mắc bệnh trong vòng 5 ngày trước khi sinh hoặc trong vòng 48 giờ sau khi sinh; bệnh thường rất nặng và trẻ có nguy cơ tử vong cao (có thể lên tới 30%). Thủy đậu bẩm sinh với các biểu hiện thiểu sản chi, tổn thương sẹo trên da và não nhỏ khi sinh rất hiếm gặp.
DỰ PHÒNG
Tiêm phòng vaccin
- Vaccin thủy đậu là vaccin sống giảm độc lực, được chỉ định cho tất cả trẻ em trên 1 tuổi (cho tới 12 tuổi) chưa mắc thủy đậu và người lớn chưa có kháng thể với Herpes zoster. Vaccin thủy đậu có tính an toàn và hiệu quả cao.
- Trẻ em tiêm một liều vaccin; người lớn tiêm hai liều. Có một số trường hợp vẫn có thể mắc thủy đậu sau tiêm phòng.
- Không tiêm vaccin thủy đậu cho trẻ suy giảm miễn dịch nặng (trẻ nhiễm HIV có triệu chứng).
Huyết thanh kháng thủy đậu
- VZIG (varicella-zoster immune globulin) được chỉ định cho những người có nguy cơ phát triển biến chứng nặng do thủy đậu trong vòng 72 giờ sau khi tiếp xúc với nguồn bệnh.
Dự phòng không đặc hiệu
- Tránh tiếp xúc với người mắc thủy đậu hoặc zona.
- Thực hiện vệ sinh cá nhân.
Tài liệu tham khảo
- Hướng dẫn và điều trị bệnh truyền nhiễm - Bộ Y Tế