GIỚI THIỆU
Cường giáp (hyperthyroidism) là tình trạng tuyến giáp tăng hoạt động, dẫn đến sản xuất hormon giáp vượt mức bình thường. Hệ quả là nồng độ hormon lưu hành trong máu tăng, gây tổn thương mô và rối loạn chuyển hoá đa cơ quan.
Nhiễm độc giáp (thyrotoxicosis) là thuật ngữ dùng để chỉ toàn bộ các hậu quả do tăng hormon giáp.
Hormon tuyến giáp làm tăng tiết hoặc tăng tính nhạy của catecholamine, đồng thời tăng các receptor catecholamine tại tim, từ đó tạo nên các biểu hiện như hồi hộp, tim nhịp nhanh, run, vã mồ hôi,…
CÁC NGUYÊN NHÂN CHÍNH GÂY CƯỜNG GIÁP
1. Basedow
là nguyên nhân phổ biến nhất, chiếm 90% các trường hợp cường giáp.
Bệnh có tính chất gia đình và là bệnh tự miễn với nhiều kháng thể lưu hành gây bệnh (như: nhược cơ, suy thượng thận, ĐTĐ type 1), đồng thời có các kháng thể gây bệnh tuyến giáp như kháng thể kháng Peroxidase (anti-TPO) và kháng thể kháng Thyroglobulin (anti-TG) của tuyến giáp. Tự kháng thể quan trọng nhất là globulin miễn dịch kích thích tuyến giáp TSI; TSI tác động trực tiếp lên thụ thể của TSH trên tế bào nang giáp (TRAb) và hoạt hóa quá trình tổng hợp, giải phóng hormon tuyến giáp cũng như kích thích tăng trưởng tuyến giáp.
Những yếu tố thuận lợi khởi động đáp ứng miễn dịch trong Basedow gồm: sau đẻ, stress, Steroid sinh dục (estrogen, testosterone), chế độ ăn uống nhiều iod, thuốc (amiodarone), điều trị Lithium, nhiễm trùng, ngừng điều trị corticoid. Lồi mắt có thể do tế bào T gây độc và các kháng thể gây độc, tiết ra cytokine gây viêm cơ và viêm tế bào sợi trong hốc mắt. Hút thuốc lá là yếu tố nguy cơ cao của lồi mắt do Basedow.
2. Bướu (đơn hoặc đa) nhân độc tuyến giáp
Bướu đa nhân độc thường gặp ở người lớn tuổi, đặc biệt ở những người có bệnh tuyến giáp từ lâu, dẫn đến tăng sản xuất hormon giáp từ từ trong thời gian dài. Bướu đơn nhân độc (toxic adenoma) làm tăng hoạt năng của nang giáp tại nhân độc; thường lành tính ở nhân giáp có đường kính > 2.5 cm.
3. Cường giáp do chửa trứng hoặc do thai kỳ
do tăng beta-HCG làm hoạt hóa thụ thể TSH. Vì vậy, TSH giảm nhưng FT4 bình thường hoặc chỉ tăng nhẹ. Khi beta-HCG giảm thì TSH dần về bình thường và cường giáp biến mất.
4. Ung thư tuyến giáp thể nang có di căn
Tổ chức di căn có khả năng tổng hợp hormon tuyến giáp, thường gặp khi có khối u di căn lớn.
5. Cường giáp do iod
Do dùng quá nhiều iod (ví dụ: chụp CT có thuốc cản quang, thuốc amiodarone, …), làm tuyến giáp mất khả năng thích nghi với lượng iod quá lớn được đưa vào. Thông thường, khi lượng iod giảm thì hormon tuyến giáp sẽ trở về mức như trước khi dùng iod.
6. Nguyên nhân khác
U tế bào nuôi, u tuyến yên (tăng tiết TSH), đề kháng hormon tuyến giáp.
CHẨN ĐOÁN
Lâm sàng
Có hội chứng cường giáp. Nếu có triệu chứng của nhiễm độc giáp và đồng thời có ít nhất 1 trong 3 triệu chứng: bướu mạch, lồi mắt, phù niêm trước xương chày thì có thể cho phép chẩn đoán Basedow mà không cần làm thêm xét nghiệm.
Cơ năng
- Gầy sút: 3 - 20 kg trong vài tuần, vài tháng dù vẫn ăn ngon (một số bệnh nhân nữ trẻ có thể tăng cân do ăn nhiều).
- Rối loạn tính cách và khí sắc: lo lắng, dễ kích thích, dễ cáu gắt hoặc dễ khóc, khó tập trung; cảm giác mệt mỏi nhưng khó ngủ.
- Rối loạn điều hòa nhiệt: cơn nóng bừng, vã mồ hôi ở ngực và tay; sợ nóng, khát và uống nước nhiều.
- Biểu hiện tim mạch: hồi hộp, đánh trống ngực, cảm giác nghẹt thở, đau vùng trước tim.
- Rối loạn tiêu hóa: đi ngoài nhiều lần, phân nát do tăng nhu động ruột; có thể buồn nôn, nôn, đau bụng.
Thực thể
- Tim mạch: nhịp tim nhanh thường xuyên; có thể thấy tiếng thổi tâm thu cơ năng. Khoảng 10 - 15% có loạn nhịp tim, thường là rung nhĩ. HATT tăng; có thể sờ thấy rõ hoặc quan sát thấy mạch đập (mạch kích động). Ở người lớn tuổi hoặc có bệnh tim từ trước có thể gặp suy tim sung huyết.
- Thần kinh cơ: run ở đầu chi, biên độ nhỏ, tần số nhanh và tăng lên khi tập trung. Phản xạ gân xương thường tăng. Yếu cơ tứ chi, đặc biệt ở cơ gốc chi, đi lại chóng mỏi; một số trường hợp yếu cả thân mình, cơ cổ và cơ chân. Có thể kèm chuột rút.
- Bướu giáp: gặp ở 80 - 90% trường hợp. Bướu thường chỉ to vừa, có thể lan tỏa trong Basedow hoặc có nhân; mật độ mềm hoặc chắc, di động khi nuốt. Đôi khi bướu to chèn vào trung thất. Trong Basedow, có thể nghe tiếng thổi tâm thu hoặc thổi liên tục tại tuyến giáp, nghe rõ khi nằm.
- Bệnh mắt: gặp ở 40 - 60% trường hợp Basedow, thường ở cả hai mắt; khoảng 10% chỉ ở một bên. Mi mắt nhắm không kín do co cơ mi trên gây hở khe mi; co cơ mi trên khi mắt nhìn xuống dưới. Có thể gặp nhìn đôi hoặc liệt vận nhãn. Biểu hiện điển hình là lồi mắt ở 1 hoặc 2 bên.
- Bệnh da do Basedow (hiếm gặp): phù niêm trước xương chày chiếm 93.3% trường hợp phù niêm; đôi khi phù niêm xuất hiện ở cả xương chày và bàn chân (4.3%). Da dày sần sùi, màu nâu vàng hoặc tím đỏ, không thể véo lên được, đặc biệt ở vị trí thấp của xương chày do tích lũy GLycosaminoglycan.
- Triệu chứng khác: vàng da do tắc mật và do viêm gan (hiếm gặp; sinh thiết thấy gan nhiễm mỡ nhẹ kèm phản ứng viêm khoảng cửa); nam giới (rối loạn cương dương, vú to); nữ giới (kinh nguyệt thưa, ít kinh thậm chí vô kinh, vô sinh); loãng xương; dày tổ chức quanh màng xương (nhất là ở xương các ngón tay); viêm quanh khớp vai,…
Cận lâm sàng
Xét nghiệm
- Trong máu: hormon tuyến giáp T3, T4 gắn với Protein vận chuyển. FT3 (chiếm 0.5% T3) và FT4 (bình thường: 12 - 25 pmol/L; FT4 chiếm 0.05% T4) tồn tại ở dạng tự do có hoạt tính sinh học.
- TSH là hormon tuyến yên (được sản xuất ở thùy trước tuyến yên dưới sự kích thích của hormon TRH vùng dưới đồi). Giá trị TSH bình thường: 0.3 - 5 IU/L. TSH kích thích tuyến giáp tổng hợp hormon tuyến giáp T3 và T4.
- TRAb là kháng thể kháng thụ thể TSH của tuyến giáp; có hai dạng: TSI (kích thích sản xuất hormon tuyến giáp gây cường giáp) và TBII (ức chế sản xuất hormon tuyến giáp gây suy giáp). TRAb tăng đặc hiệu trong bệnh Basedow (Graves). Bình thường TRAb ≤ 1.0 U/L. TRAb có giá trị chẩn đoán Basedow trong trường hợp không có triệu chứng hoặc Basedow chỉ biểu hiện lồi mắt đơn thuần; đồng thời có giá trị tiên lượng khả năng tái phát Basedow ở bệnh nhân điều trị nội khoa.
Trong bệnh cường giáp:
- FT3 và FT4 thường tăng cao.
- TSH giảm thấp, thường < 0.05 IU/L, do cơ chế Feed Back (điều hòa ngược).
- Nếu TSH, FT3 và FT4 cùng tăng thì phải nghĩ đến u tuyến yên (u tiết TSH).
- TRAb > 1.5 U/L.
- Sinh hóa máu: Cholesterol và Triglycerid giảm; glucose có thể tăng; Calci tăng.
Xạ hình và đo độ tập trung iod phóng xạ hoặc Technitium
- Iod I131 hoặc I123 đường uống: đo độ tập trung tại tuyến giáp sau 2-6-24 giờ kết hợp với chụp ảnh xạ hình. Kết quả thường cho thấy tăng độ tập trung lan tỏa trong bệnh Basedow hoặc tập trung khu trú tại một nốt trong bướu nhân độc.
- Tc99m đường tiêm: cho hình ảnh, nhưng không cung cấp thông tin về độ tập trung.
Siêu âm
- Mật độ tuyến giáp giảm âm không đồng nhất.
- Nhân tuyến giáp.
- Tăng sinh mạch trên Doppler.
ECG
- Nhịp xoang nhanh.
- Loại nhịp: rung nhĩ.
X quang, đo loãng xương, MRI
- X quang và đo loãng xương: thấy loãng xương, đặc biệt ở tuổi cao và nữ.
- MRI tuyến yên khi nghi ngờ u tuyến yên tiết TSH.
Chẩn đoán xác định
Lâm sàng:
Có hội chứng cường giáp. Nếu có tiêu chuẩn của nhiễm độc giáp và có ít nhất 1 trong 3 tiêu chuẩn: bướu mạch, lồi mắt, phù niêm trước xương chày thì cho phép chẩn đoán Basedow.
Xét nghiệm:
Xét nghiệm:
TSH giảm (thường < 0.05 iu/l, bình thường: 0.3 - 5 iu/l) và FT4, FT3 tăng cao (bình thường FT4: 12 - 25 pmol/L) trong 95% trường hợp; 5% còn lại có FT4 bình thường, FT3 tăng (nhiễm độc giáp T3).
TSH giảm nhưng FT4, FT3 bình thường: gọi là cường giáp dưới lâm sàng, gặp ở giai đoạn sớm, bao gồm Basedow hoặc bướu độc tuyến giáp tiết T3.
TSH tăng và FT4, FT3 cũng tăng: gợi ý u tuyến yên tiết TSH hoặc hội chứng đề kháng hormon tuyến giáp (liên quan đến bất thường gen, khiếm khuyết receptor của phân tử T3, ảnh hưởng đến cơ chế feed back ngược).
TRAb tăng > 1.5 u/l đặc hiệu trong bệnh Basedow.
Xạ hình tuyến giáp:
tăng bắt giữ iod phóng xạ; tập trung lan tỏa trong Basedow; tập trung khu trú tại một nốt trong bướu đơn nhân độc tuyến giáp; và tập trung khu trú tại nhiều nốt trong bướu đa nhân độc tuyến giáp.
Siêu âm:
mật độ giảm âm không đồng nhất, có nhân tuyến giáp (bướu nhân độc), Doppler tăng sinh mạch.
Chẩn đoán phân biệt
- Nhiễm độc giáp do uống L-Thyroxin: dựa vào tiền sử; TRAb bình thường; độ tập trung I131 thấp; và bệnh nhân hết nhiễm độc giáp sau khi ngừng Thyroxin vài tuần.
- Viêm tuyến giáp bán cấp hoặc mạn tính giai đoạn đầu, có nhiễm độc giáp: Có triệu chứng viêm tuyến giáp. Anti-TPO cao trong viêm tuyến giáp mạn tính (Hashimoto). Độ tập trung I131 thấp; thường tiến triển về bình giáp hoặc suy giáp sau vài tuần đến vài tháng.
- Bướu giáp đơn thuần có cường giao cảm: FT4, TSH, TRAb bình thường.
Chẩn đoán thể đặc biệt
Basedow ở nam giới
- Các biểu hiện tim mạch và yếu cơ nổi trội.
- Dấu hiệu thần kinh - tâm thần mờ nhạt.
- Đôi khi có vú to ở nam giới.
- Đa số bướu giáp thường không to hoặc chỉ to ít.
- Hay gặp các biểu hiện ở mắt: lồi mắt, phù mi mắt, co cơ mi trên,…
Cường giáp ở người cao tuổi
Biểu hiện lâm sàng dễ nhầm lẫn với các bệnh khác.
- Các triệu chứng tim mạch và thần kinh - cơ nổi trội. Thường gặp loạn nhịp tim, suy tim, loạn thần hoặc đờ đẫn.
- Nhiều người bị suy kiệt nặng.
- Chẩn đoán thường khó khăn và dễ bị chẩn đoán nhầm: bệnh mạch máu, bệnh tuổi già hoặc trầm cảm tuổi già, ung thư đường tiêu hóa,…
Cường giáp ở phụ nữ có thai
Trong thai kỳ, hormon tuyến giáp tăng sinh lý liên quan đến HCG, nhất là 3 tháng đầu, vì vậy ngưỡng giá trị tham chiếu bình thường của TSH và hormon tuyến giáp sẽ thay đổi so với người không mang thai.
GIÁ TRỊ BÌNH THƯỜNG KHI MANG THAI
- Tuần 7 – 12: TSH: 0.1 - 4 mU/L, sau đó dần về bình thường ở 3 tháng giữa và 3 tháng cuối thai kỳ.
- Tuần 7: T4 total tăng 5% mỗi tuần.
- Tuần 16: T4 total (T3) > 1.5 lần so với không mang thai.
Tuy nhiên, ở thai nghén nặng, đặc biệt khi có tiền sử gia đình mắc bệnh tuyến giáp tự miễn dịch, có bướu giáp, dấu hiệu mắt, nhịp tim nhanh, sút cân, nôn nhiều lúc bắt đầu có thai.
Basedow kèm hạ Kali máu
- Là biểu hiện hiếm gặp, thường ghi nhận ở bệnh nhân nam trẻ.
- Cơn liệt thường khởi phát vào ban đêm gần sáng; có thể xuất hiện sau 1 ngày gắng sức hoặc sau bữa ăn nhiều đường. Biểu hiện đặc trưng là liệt mềm 2 chân; một số trường hợp có thể kèm yếu cả 2 tay, tuy nhiên liệt cơ hô hấp hiếm gặp. Một số bệnh nhân cũng có loạn nhịp tim.
- Xét nghiệm ghi nhận Kali máu giảm; thường gặp khi K+ < 2.0 mmol/l.
Biểu hiện mắt trong Basedow
- Các triệu chứng liên quan đến mắt có thể xuất hiện trước các triệu chứng khác của Basedow trong khoảng 25% trường hợp.
- Khi đánh giá xét nghiệm: TSH và FT4 thường bình thường, trong khi TRAb tăng.
Chẩn đoán biến chứng
Cơn bão giáp
Là biến chứng nặng của nhiễm độc giáp, tỷ lệ tử vong cao ngay cả khi đã được điều trị.
- Tình trạng bệnh thường diễn tiến nặng lên với sự tăng nặng các triệu chứng của nhiễm độc giáp.
- Thường có yếu tố thúc đẩy, gồm: sau phẫu thuật; sau điều trị Iod phóng xạ; trong cuộc đẻ ở bệnh nhân cường giáp không điều trị hoặc điều trị nội khoa không tốt. Ngoài ra, còn có thể gặp khi bệnh nhân có stress nặng hoặc mắc bệnh nặng như chấn thương, nhiễm trùng cấp tính.
Biến chứng tim mạch
- Loạn nhịp tim: gặp ở 10 - 15% bệnh nhân cường giáp. Các loại gồm ngoại tâm thu nhĩ, cuồng nhĩ; thường gặp nhất là rung nhĩ, trong khi loạn nhịp thất ít gặp. Rung nhĩ thường xảy ra ở bệnh nhân nam giới trên > 40 tuổi.
- Suy tim sung huyết: giai đoạn sớm biểu hiện là suy tim với tăng cung lượng, thường là suy tim trái; sau đó có thể tiến triển thành suy tim toàn bộ.
Lồi mắt ác tính
Lồi mắt tiến triển nhanh. Có thể làm đẩy nhãn cầu hẳn ra khỏi hố mắt gây mù ngay hoặc gây loét giác mạc dẫn đến mù thứ phát.
Suy kiệt nặng
Thường gặp ở bệnh nhân được chẩn đoán muộn và người lớn tuổi.
ĐIỀU TRỊ
Điều trị triệu chứng
Ức chế beta
Việc sử dụng kết hợp ức chế beta với thuốc kháng giáp giúp cải thiện các triệu chứng gồm: đánh trống ngực, nhịp tim nhanh, run, lo lắng, sợ lạnh, mệt mỏi, khó thở. Khi triệu chứng đã cải thiện, cần giảm liều từ từ (không được ngừng đột ngột).
Mục tiêu: giảm nhịp tim < 90 lần/phút nếu huyết áp cho phép.
- Atenolol: 25 - 50 mg uống 1 - 2 lần/ngày và tăng liều lên đến 200mg/ngày (không dùng ở phụ nữ mang thai).
- Propranolol: 10 - 40 mg uống 3 - 4 lần/ngày.
- Metoprolol: 25 - 50 mg uống 1 - 2 lần/ngày.
- Bisoprolol: 2.5 - 5 mg uống 1 - 2 lần/ngày.
Giảm tổng hợp hormon tuyến giáp
Thuốc kháng giáp
- Ở bệnh nhân có triệu chứng cường giáp đáng kể, nên phối hợp thuốc kháng giáp với chẹn beta trước khi tiến hành điều trị triệt để bằng iod phóng xạ hoặc phẫu thuật, hoặc trước khi điều trị bằng thuốc kháng giáp kéo dài.
- Đặc biệt ở bệnh nhân có cường giáp nhẹ và bướu giáp nhỏ lại sau điều trị; trong nhóm này có khả năng thuyên giảm sau một năm điều trị.
- Không sử dụng thuốc kháng giáp khi BC < 1.000/mm3 hoặc men gan > 5 lần giới hạn trên bình thường.
- Ưu tiên lựa chọn Methimazole (thiamazole) vì tác dụng kéo dài (tác dụng mạnh hơn nhóm PTU khoảng 10 lần; do tác dụng kéo dài nên có thể uống 1 - 2 lần/ngày) và ít gây độc hại cho gan hơn so với PTU. Ngoại trừ trường hợp mang thai trong 3 tháng đầu (16 tuần đầu): khi đó chọn PTU do nguy cơ gây quái thai thấp hơn.
Cườn giáp nhẹ, bướu giáp nhỏ, FT4 từ 1 - 1.5 lần giới hạn trên bình thường
- Methimazole: 5 - 10 mg x 1 lần/ngày.
Cường giáp trung bình FT4 từ 1.5 - 2 lần giới hạn trên bình thường
- Methimazole: 10 - 20 mg/ngày
Cường giáp nặng và bướu to FT4 từ 2 - 3 lần giới hạn trên bình thường
- Methimazole: 20 - 40 mg/ngày chia nhiều lần/ngày trong 1 - 2 tuần đầu để bình thường hóa tuyến giáp nhanh hơn và giảm thiểu tác dụng phụ lên đường tiêu hóa; sau đó dùng 1 lần/ngày khi tiêu hóa bình thường.
Trường hợp không dung nạp với thuốc kháng giáp, cân nhắc liệu pháp iod phóng xạ hoặc phẫu thuật.
Thuốc kháng giáp có tác dụng ngăn tổng hợp hormon tuyến giáp: ngăn gắng iod vào thyroglobulin (hữu có hóa iod), ngăn sự hình thành và kết hợp của DIT tạo thành T3, T4 và ngăn sự chuyển T4 thành T3 ở ngoại vi.
Thuốc kháng giáp có tác dụng ngăn tổng hợp hormon tuyến giáp: ngăn gắng iod vào thyroglobulin (hữu có hóa iod), ngăn sự hình thành và kết hợp của DIT tạo thành T3, T4 và ngăn sự chuyển T4 thành T3 ở ngoại vi.
- Giai đoạn tấn công: 6 - 8 tuần.
- Giai đoạn duy trì: 12 - 18 tháng. Giảm liều dần mỗi 1 - 2 tháng dựa trên cải thiện lâm sàng và xét nghiệm.
Thời gian điều trị ở bệnh nhân Basedow: 12 - 24 tháng (các nghiên cứu kéo dài > 2 năm không giảm tỷ lệ tái phát; không nên điều trị kéo dài nhiều năm).
- Tác dụng phụ phải ngừng thuốc: giảm hoặc mất BC hạt trung tính (< 1.000/mm3), vàng da ứng mật và viêm gan nhiễm độc.
- Tác dụng phụ nhẹ không cần ngừng thuốc: buồn nôn, nôn, đau thượng vị, ngứa và nổi mày đay da; một số trường hợp có suy giáp tạm thời.
PTU: 50mg/viên. Liều tấn công 200 - 400mg/ngày, duy trì: 50 - 100 mg/ngày. Áp dụng cho một số trường hợp chọn lọc (ví dụ: thai kỳ).
Iod phóng xạ
- Có tỷ lệ biến chứng thấp hơn phẫu thuật.
- Đối với bệnh nhân có triệu chứng cường giáp nặng, lớn tuổi hoặc có bệnh tim tiềm ẩn hoặc bệnh kèm theo khác hoặc tuyến giáp to > 100g: nên điều trị bằng thuốc kháng giáp Methimazol (không dùng PTU) để phục hồi chức năng tuyến giáp, nhưng cần ngừng trước khi điều trị bằng iod phóng xạ 1 tuần.
- Iod phóng xạ là liệu pháp loại bỏ tuyến giáp, do đó có thể áp dụng trong trường hợp bệnh nhân không dung nạp thuốc kháng giáp hoặc điều trị bằng thuốc kháng giáp không kiểm soát được.
- Tuy nhiên, ATA không khuyến các iod phóng xạ cho bệnh nhân có lồi mắt do bệnh Graves ở mức độ trung bình đến nặng; nhưng iod phóng xạ kết hợp với Glucocorticoid có thể là lựa chọn trong trường hợp bệnh nhân từ chối phẫu thuật và có chống chỉ định với thuốc kháng giáp.
- Iod phóng xạ được sử dụng dưới dạng viên nang hoặc dung dịch Natri Iod-131 (I-131) được hấp thu từ đường tiêu hóa và tập trung trong mô tuyến giáp gây tổn thương mô giáp rộng dẫn đến loại bỏ tuyến giáp trong 6 - 18 tuần. 10 - 20% bệnh nhân thất bại với lần điều trị đầu tiên và cần phải điều trị nhắc lại.
- Sau điều trị, bệnh nhân có thể bị suy giáp và cần điều trị hormon tuyến giáp.
Chống chỉ định:
Phụ nữ có thai, cho con bú, người < 30 tuổi (CCĐ tương đối), bệnh nhân có lồi mắt nặng.
Kết quả:
Sau điều trị tuyến giáp thường nhỏ lại và đạt được bình giáp sau 1.5 - 2 tháng. Một số trường hợp phải điều trị lần 2 sau ít nhất 6 tháng kể từ lần 1.
Biến chứng:
- Viêm tuyến giáp trong vòng 3 - 4 ngày sau uống iod phóng xạ.
- Làm nặng lên bệnh lý mắt do Basedow (đặc biệt là lồi mắt): phòng bằng corticoid uống 1 ngày trước và 4 tuần sau điều trị iod phóng xạ.
- Suy giáp vĩnh viễn: sau 5 năm là 40% TH; sau 10 năm là 60% TH (2 - 3% mỗi năm).
Phẫu thuật
Chỉ định cho những bệnh nhân
- Cường giáp nặng và bướu giáp lớn, tắc nghẽn, bướu đa nhân, bướu chìm trong lồng ngực.
-
Bệnh nhân có biểu hiện bệnh hốc mắt (lồi mắt do cường giáp) mức độ trung bình đến nặng.
- Có nhân giáp nghi ngờ hoặc ác tính.
- Cường cận giáp nguyên phát.
- Bệnh nhân muốn có thai sớm.
- Bệnh nhân dị ứng với thuốc kháng giáp hoặc tuân thủ kém hoặc tái phát sau điều trị nội khoa.
- Không muốn điều trị bằng iod phóng xạ.
Tuy nhiên, đa số nhân giáp liên quan đến bệnh Graves là lành tính và phẫu thuật không được khuyến khích.
Chống chỉ định:
- Bệnh nhân có biến chứng tim nặng như: suy tim.
- Bệnh nhân lớn tuổi (CCĐ tương đối).
Chuẩn bị:
- Điều trị nội khoa 2 - 3 tháng cho đến khi đạt được bình giáp.
- Cho thêm Lugol 1 tuần trước phẫu thuật: 5 giọt/ngày.
Phẫu thuật:
- Có thể cắt toàn bộ hoặc gần toàn bộ (để lại 3 - 4 g tuyến giáp).
- Đối với trẻ em có thể để lại mô giáp ít hơn vì nguy cơ tái phát cao hơn.
Biến chứng:
- Liệt dây thần kinh quặt ngược.
- Suy cận giáp do cắt mất tuyến cận giáp (hiếm).
- Suy giáp ở 20 - 30% trường hợp.
- Tái phát khoảng 15% trường hợp.
Điều trị hỗ trợ
Iod
Nồng độ iod cao trong máu làm tăng dần iod ion hóa trong lòng tuyến giáp. Khi đạt nồng độ tới hạn, iod sẽ ức chế gắn kết iod với Thyroglobulin, giảm kết hợp DIT và MIT, từ đó làm giảm lượng T3 và T4 (được chỉ định trong nghi ngờ hoặc cơn bão giáp). Tác dụng mạnh nhất vào ngày 5 - 40 và hết tác dụng sau khoảng 15 ngày sử dụng. Ngoài ra, iod còn làm giảm tưới máu ở tuyến giáp, đưa mô giáp về trạng thái nghỉ ngơi (được chỉ định trong chuẩn bị phẫu thuật nhằm làm giảm chảy máu tuyến giáp trong khi mổ).
- Trước phẫu thuật: cần điều trị nội khoa 2 - 3 tháng để đạt được bình giáp. Iod được cho 1 tuần trước phẫu thuật. Kali iodua (SSKI) (50mg iodua/giọt): 10 giọt/ngày x 7 - 10 ngày hoặc Lugol 5%: 5 giọt/ngày x 7 ngày.
-
Liều trong cơn bão giáp: Lugol 5% 10 giọt/lần x mỗi 8 giờ hoặc SSKI 5 giọt [50mg/giọt]/lần x mỗi 6 giờ.
- Hoặc Lugol: 1% (1ml có 25.3 mg iod) và đậm đặc 5% (1ml có 126.5 mg iod). Liều bắt đầu 5mg/ngày; tác dụng tối ưu 50 - 100mg/ngày. Uống 10 - 15 giọt/ngày.
- Iod liều thấp 1 - 2 giọt/ngày hoặc ít hơn cũng có thể dùng như liệu pháp chính để kiểm soát cường giáp nhẹ trong thời gian dài; đồng thời khá hiệu quả khi điều trị kéo dài ở bệnh nhân sau khi đã được điều trị bằng iod phóng xạ nhưng vẫn còn cường giáp nhẹ.
Glucocorticoid
Glucocorticoid giúp ức chế chuyển T4 thành T3 ngoại vi, giảm bài tiết tuyến giáp ở bệnh nhân Basedow. Thường dùng trong điều trị cường giáp nặng, cơn bão giáp hoặc khi có biểu hiện mắt, da do Basedow.
- Hydrocortison: 100mg x 8 giờ/lần hoặc
- Dexamethasone: 2 mg x 6 - 8 giờ/lần
- Prednisolon: 0.5 - 1.25mg/kg/ngày.
Cholestyramine
- Cholestyramine 4 g/ngày phối hợp với Methimazole làm giảm nồng độ T4 và T3 nhanh hơn so với dùng methimazole đơn độc; thường dùng trong cơn bão giáp.
An thần
- Benzodiazepam, phenobarbital (không dùng Barbituric) cho những bệnh nhân quá lo lắng hoặc mất ngủ.
Loãng xương
Cường giáp quá mức làm tăng thải canxi qua nước tiểu, làm giảm mật độ xương và tăng tỷ lệ loãng xương. Do đó nên bổ sung canxi trong điều trị.
- Canxi nguyên tố: 1.200 - 1.500 mg/ngày thông qua chế độ ăn uống và thực phẩm chức năng.
CƯỜNG GIÁP Ở PHỤ NỮ MANG THAI
Bình thường trong thai kỳ: hormon tuyến giáp tăng theo cơ chế sinh lý, kèm theo biểu hiện tăng T4 Total, TSH giảm và các giá trị nằm trong khoảng tham chiếu dành riêng cho phụ nữ mang thai. Từ khoảng tuần thứ 16, T4 Total (T3) tăng > 1.5 lần so với phụ nữ không mang thai.
Mục tiêu điều trị là duy trì cường giáp nhẹ ở người mẹ theo đúng mức sinh lý của thai kỳ; đồng thời ngăn ngừa suy giáp ở thai nhi. Nếu điều trị quá mức hormone tuyến giáp sẽ gây bướu cổ và suy giáp nguyên phát ở thai nhi.
Liệu pháp điều trị
Thuốc kháng giáp
Trước khi điều trị cần xét nghiệm công thức máu, chức năng gan, mật. Không sử dụng thuốc kháng giáp trong 3 tháng đầu nếu BC < 1.000/mm3 hoặc men gan > 5 lần giá trị bình thường cao.
PTU và Methimazole đều có khả năng gây quái thai; tuy nhiên nguy cơ đối với PTU thấp hơn, do đó nên chọn PTU làm thuốc điều trị trong 3 tháng đầu. Methimazole ít gây độc cho gan hơn so với PTU, vì vậy ưu tiên lựa chọn cho các tháng tiếp theo (sau tuần thứ 16 của thai kỳ). Khi chuyển từ PTU sang Methimazole cần theo dõi nguy cơ suy giáp ở mẹ và thai nhi, vì Methimazole mạnh hơn PTU (300mg PTU tương đương cới 10 - 15 mg Methimazole).
Liều khởi đầu (ưu tiên liều thấp):
- Propyl Thio Uracil (PTU): 50 mg x 2 - 3 lần/ ngày.
- Methimazole: 5 - 10 mg x 1 lần/ ngày.
- Carbimazole (tiền chất của Methimazole): 5 - 15 mg x 1 lần/ ngày.
Tuy nhiên, ở bệnh nhân cường giáp nặng có thể tăng liều ban đầu PTU lên 100mg x 3 lần/ ngày hoặc Methimazole 20 - 30 mg/ ngày để kiểm soát cường giáp.
- Xét nghiệm kiểm tra chức năng tuyến giáp, chức năng gan mỗi 4 tuần để điều chỉnh thuốc; trong 3 tháng cuối thực hiện xét nghiệm mỗi 02 tuần, cân nhắc ngừng điều trị.
- Đối với trường hợp không dung nạp với Methimazole thì có thể tiếp tục sử dụng PTU.
Ức chế Beta
Chỉ định cho cường giáp có triệu chứng vừa đến nặng.
- Metoprolol: 25 - 50 mg/ ngày.
- Propanolol: 20mg sau mỗi 6 - 8 giờ.
Ngừng sử dụng khi thuốc kháng giáp đã phát huy tác dụng. Nên giảm liều và ngừng trong vòng 2 - 6 tuần do nguy cơ làm ức chế thai nhi phát triển (thai nhỏ), tăng nguy cơ tử vong (xảy thai), ức chế hô hấp, nhịp tim chậm và hạ đường huyết ở mẹ.
Phẫu thuật
Trong trường hợp không dung nạp với thuốc kháng giáp, điều trị bằng thuốc ức chế beta (metoprolol hoặc propanolol) kết hợp dung dịch kali iod (35 - 50mg/ giọt, dùng 1 - 3 giọt mỗi ngày). Phẫu thuật cắt tuyến giáp nên thực hiện ở 3 tháng giữa của thai kỳ (trong 3 tháng đầu tăng nguy cơ xảy thai).
Lọc máu thay huyết tương
Biện pháp này được sử dụng để kiểm soát nhanh chóng tình trạng cường giáp ở phụ nữ mắc bệnh tế bào sinh dưỡng và cường giáp nặng.
Điều trị không được khuyến cáo
Iod phóng xạ và horomone tuyến giáp Thyroxine bổ sung là các phương pháp điều trị không được khuyến cáo.
- Iod phóng xạ có thể gây xảy thai, dị tật thai nhi; tăng nguy cơ hủy hoại tuyến giáp thai nhi và ảnh hưởng đến sự phát triển của nhận thức.
- Thyroxine (T4) ít qua nhau thai, vì vậy việc phối hợp với thuốc kháng giáp sẽ rất khó định liều thuốc kháng giáp tối thiểu để kiểm soát cường giáp ở mẹ.
THEO DÕI SAU ĐIỀU TRỊ
Sau điều trị, bệnh nhân có thể tăng cân do suy giáp, đặc biệt ở những người điều trị bằng iod phóng xạ. Khuyến cáo tư vấn giảm cân phù hợp theo chế độ ăn uống. Riêng về các liệu pháp điều trị cường giáp, cần tuân thủ hướng dẫn theo dõi đặc thù.
Thuốc kháng giáp
Xét nghiệm chức năng tuyến giáp:
- Sau mỗi 4 - 6 tuần cho đến khi ổn định điều trị bằng liều duy trì.
- Sau đó khoảng 3 - 6 tháng.
Cân nhắc xét nghiệm chức năng gan và bạch cầu để đánh giá khả năng dung nạp thuốc.
Ở những bệnh nhân đạt được bình giáp với mức TRAb thấp vẫn có nguy cơ 20% tái phát nếu ngưng thuốc; do đó cần có kế hoạch theo dõi chặt chẽ hoặc điều trị dứt điểm bằng bắt iod phóng xạ/phẫu thuật hoặc liệu pháp thuốc kháng giáp dài hạn.
Iod phóng xạ
- Xét nghiệm TSH, T3 total, FT4 từ 4 - 6 tuần sau điều trị.
- Sau đó theo dõi TSH, FT4 và T3 Total trong 4 - 6 tuần cho đến 6 tháng hoặc đến khi suy giáp và bắt đầu dùng liều Levothyroxine ổn định (hormone tuyến giáp).
Phẫu thuật
- Đối với bệnh nhân Graves sau phẫu thuật cắt toàn bộ hoặc gần toàn bộ tuyến giáp, bổ sung hormone tuyến giáp (Levothyroxine) nên được bắt đầu trước khi xuất viện.
- TSH nên được đo từ 6 - 8 tuần sau đó để điều chỉnh liều lượng Levothyroxine nhằm duy trì TSH trong giới hạn bình thường.
- Nếu bệnh nhân còn cường giáp tạm thời sau phẫu thuật, cần trì hoãn việc dùng hormone tuyến giáp cho đến khi hormone tuyến giáp về mức bình thường, thường khoảng 1 tuần.
Tài liệu tham khảo
- Hyperthyroidism during pregnancy: Treatment. Uptodate. Topic 7884 Version 25.0
- Graves' hyperthyroidism in nonpregnant adults: Overview of treatment. Uptodate. Topic 7872 Version 27.0
- Diagnosis of hyperthyroidism. Uptodate.
- Bệnh cường giáp. Nguyễn Quang Bảy. Bệnh học Nội khoa tập 2. 2018.