Đặt Catheter tĩnh mạch trung tâm dưới hướng dẫn siêu âm

Post key: 7c7a3f14-0a10-58f6-b1d7-add0fd758ce1
Slug: đat-catheter-tinh-mach-trung-tam-duoi-huong-dan-sieu-am
Excerpt: Quy trình đặt catheter tĩnh mạch trung tâm (1–2–3 nòng) dưới hướng dẫn siêu âm qua các đường cảnh trong, dưới đòn hoặc tĩnh mạch đùi. Bài viết trình bày: chỉ định (vận mạch, nuôi dưỡng tĩnh mạch hoàn toàn, bồi phụ dịch/điện giải/máu số lượng lớn, đo CVP, kích thích tim, lọc máu), chống chỉ định (huyết khối tĩnh mạch trung tâm, nhiễm trùng tại vị trí chọc) và lưu ý với rối loạn đông máu; chuẩn bị người thực hiện, phương tiện và người bệnh; hướng dẫn kỹ thuật khảo sát bằng siêu âm để nhận diện mạch, định hướng chọc kim/dây dẫn và tiến hành luồn catheter; đồng thời theo dõi và xử trí các tai biến thường gặp như chọc nhầm động mạch, tràn khí/tràn dịch/tràn máu màng phổi, nhiễm trùng và thuyên tắc khí/huyết khối. Tài liệu tham khảo gồm “Quy trình kỹ thuật. Bộ Y Tế”.
Recognized tags: thu-thuat, theo-doi, kiem-soat-nhiem-khuan, bo-y-te

GIỚI THIỆU

Việc đặt catheter dưới hướng dẫn của siêu âm giúp tăng tỷ lệ thành công, rút ngắn thời gian thực hiện thủ thuật và giảm thiểu nguy cơ tai biến.
Siêu âm dẫn đường giúp xác định vị trí tĩnh mạch cảnh trong, tĩnh mạch dưới đòn
Catheter tĩnh mạch trung tâm được đặt bằng cách đưa catheter (ống thông) 1–2–3 nòng qua da vào tĩnh mạch cảnh trong hoặc tĩnh mạch dưới đòn hoặc tĩnh mạch đùi.
Catheter (ống thông) 1–2–3 nòng

CHỈ ĐỊNH VÀ CHỐNG CHỈ ĐỊNH

Chỉ định

  1. Dùng các thuốc vận mạch hoặc thực hiện nuôi dưỡng tĩnh mạch hoàn toàn.
  2. Bồi phụ dịch, điện giải, máu số lượng lớn với tốc độ nhanh; trong suy tuần hoàn cấp; truyền các loại dịch có áp lực thẩm thấu cao.
  3. Đo và theo dõi áp lực tĩnh mạch trung tâm (CVP).
  4. Kích thích tim bằng catheter điện cực khi có nhịp chậm.
  5. Lọc máu.

Chống chỉ định

  • Có huyết khối tĩnh mạch trung tâm.
  • Nhiễm trùng tại vị trí dự kiến đặt ống thông.
  • Thận trọng ở những trường hợp mốc giải phẫu bị biến dạng do chấn thương hoặc dị dạng từ trước.
  • Không có chống chỉ định tuyệt đối trong các tình huống rối loạn đông máu hoặc người bệnh có giảm tiểu cầu; tuy nhiên thường sử dụng các kim nhỏ để đặt và/hoặc truyền huyết tương tươi đông lạnh và/hoặc tiểu cầu cho người bệnh trước khi làm thủ thuật.
  • Siêu âm được xem là an toàn cho cả phụ nữ có thai và trẻ nhỏ.

CHUẨN BỊ

Người thực hiện

  • 01 bác sĩ đã được đào tạo về thủ thuật này.
  • 01 bác sĩ phụ giúp cầm đầu dò siêu âm.
  • 01 điều dưỡng.
  • Khử khuẩn tay, đeo găng, mũ, áo choàng, khẩu trang vô khuẩn.
  • Đứng ở đầu hoặc ở bên trái người bệnh.

Phương tiện

  • Bộ catheter 2 nòng: 01 chiếc.
  • Máy siêu âm với đầu dò linear: 7,5–10Hz.
  • Gói dụng cụ tiêu hao.
  • Gói dụng cụ rửa tay, sát khuẩn.
  • Bộ dụng cụ bảo hộ cá nhân.
  • Bộ dụng cụ và thuốc thủ thuật.
  • Bộ dụng cụ đặt catheter vô khuẩn.
  • Gói dụng cụ, máy theo dõi.

Người bệnh

  • Nếu người bệnh còn tỉnh: giải thích để người bệnh hiểu nhằm tránh sợ hãi và giúp hợp tác.
  • Nếu người bệnh hôn mê: giải thích cho gia đình người bệnh về lợi ích và nguy cơ của thủ thuật.
  • Ký cam kết đồng ý thực hiện thủ thuật.

Nơi tiến hành

  • Tại phòng hồi sức cấp cứu đảm bảo tiêu chuẩn vô khuẩn hoặc phòng thủ thuật.

Hồ sơ bệnh án

  • Ghi chỉ định đặt catheter 1-2-3 nòng.
  • Tình trạng người bệnh trước và sau thủ thuật.
  • Cách thức tiến hành thủ thuật.
  • Theo dõi trong và sau thủ thuật về tai biến, biến chứng.

Sử dụng siêu âm để khảo sát vị trí

  • Tĩnh mạch cảnh trong nằm ngoài động mạch cảnh chung; tĩnh mạch dưới đòn nằm phía trong của động mạch dưới đòn; tĩnh mạch đùi đi kèm với động mạch đùi (dễ dàng bắt được) tại vị trí ngay phía dưới điểm giữa dây chằng bẹn trong tam giác đùi, với động mạch đùi ở phía ngoài và tĩnh mạch đùi ở phía trong.
  • Trên siêu âm trục ngắn, lát cắt ngang qua mạch máu: động mạch có hình tương đối căng tròn và co bóp theo mạch đập; khi ấn đầu dò thường ít xẹp hơn và hình ảnh co bóp theo mạch đập hiển thị rõ hơn. Trong khi đó, tĩnh mạch thường có kích thước lớn hơn; khi ấn đầu dò thường bị xẹp bớt đi và không nhấp nhấp theo mạch đập.
  • Di chuyển đầu dò theo hướng tịnh tiến dọc theo mạch máu hoặc sử dụng mặt cắt trục dài (dọc theo chiều dài mạch máu) để xác định hướng đi của tĩnh mạch, đồng thời xác định hướng chọc kim.
  • Thông thường ở những người có kinh nghiệm, việc quan sát vị trí đầu kim (màu trắng lấp ló khi nghiêng đầu dò hoặc di chuyển đầu dò) giúp dễ dàng nhận định và điều chỉnh hướng đi của kim để vào lòng mạch. Tuy nhiên, với người mới bắt đầu sử dụng siêu âm, phương pháp tam giác vuông cân giúp thuận lợi hơn để chọc kim vào mạch máu.
  • Để ước tính vị trí chọc kim (khoảng cách từ vị trí chọc kim đến đầu dò siêu âm): sử dụng phương pháp tam giác vuông cân; đầu dò đặt tại vị trí đỉnh vuông của tam giác, vị trí chọc kim tạo góc 45 độ, kim sẽ di chuyển đến mạch máu cũng tạo góc 45 độ. Do đó, khoảng cách từ đầu dò đến vị trí chọc kim bằng khoảng cách từ đầu dò đến mạch máu. Vì vậy, đo khoảng cách từ đầu dò đến mạch máu trên siêu âm giúp xác định khoảng cách từ vị trí chọc kim đến đầu dò.

CÁC BƯỚC TIẾN HÀNH

Đặt catheter tĩnh mạch trung tâm qua tĩnh mạch cảnh trong

A (Arteries): động mạch, V (Veins): tĩnh mạch

Xác định vị trí

  • Đặt người bệnh ở tư thế Trendelunbug: nằm ngửa, đầu thấp 10 độ so với chân; kê gối mỏng dưới vai; đầu nghiêng về phía đối diện với bên chọc kim (không nên nghiêng đầu quá nhiều [quá 30 độ] vì sẽ làm cho tĩnh mạch nằm đè lên động mạch, làm tăng nguy cơ chọc vào động mạch).
  • Dùng đầu dò siêu âm chưa vô khuẩn để xác định vị trí tĩnh mạch cảnh trong (TMC).
  • Có thể di chuyển đầu dò theo mặt cắt trục ngắn (cắt ngang) hoặc xoay theo mặt cắt trục dài (cắt dọc) của tĩnh mạch cảnh trong để xác định hướng chọc kim.
  • Mặt cắt trục ngắn thường được ưu tiên hơn do dễ xác định vị trí tĩnh mạch và có tỷ lệ thành công cao hơn so với mặt cắt trục dài.
  • Trên mặt cắt ngang sẽ nhận diện hình ảnh tuyến giáp (số 1), tĩnh mạch cảnh trong (số 2) và động mạch cảnh (số 3).
  • Không ấn đầu dò quá mạnh để tránh làm xẹp tĩnh mạch.
  • Nếu không xác định được tĩnh mạch cảnh trong, động mạch và tuyến giáp, đặt người bệnh ở tư thế đầu thấp chân cao hoặc thực hiện nghiệm pháp Valsava để bộc lộ rõ tĩnh mạch cảnh trong.
  • Đo khoảng cách từ đầu dò đến tĩnh mạch để xác định khoảng cách từ vị trí chọc kim đến đầu dò (theo nguyên tắc tam giác vuông cân).

Các bước tiến hành

  • Người làm thủ thuật đội mũ, che kín tóc (có thể mang thêm kính che mắt hoặc tấm chắn bảo vệ); vệ sinh tay; mặc áo choàng thủ thuật (vô khuẩn mặt tiếp xúc với người bệnh); đi găng vô khuẩn.
  • Vệ sinh da quanh vị trí dự định chọc kim bằng dung dịch sát khuẩn (vd: chlorhexidin hoặc betadin)).
  • Đặt săng vô khuẩn có lỗ tại vị trí dự định đặt catheter.
  • Bơm tráng dịch vào tất cả các cổng của catheter để đảm bảo chức năng hoạt động, đồng thời bơm tráng kim chọc mạch.
  • Gây tê da và tổ chức dưới da với Lidocain 2%.
  • Người phụ ở bên ngoài bôi gel lên đầu dò. Người làm thủ thuật dùng bọc đầu dò (túi ni lon vô khuẩn chuyên dụng) sẵn trong bộ đặt catheter hoặc dùng găng vô khuẩn bọc ra ngoài đầu dò; không để có không khí ở giữa đầu dò và găng. Đảm bảo vô khuẩn khi tiếp xúc với người bệnh.
  • Dùng tay không thuận cầm đầu dò, dùng tay thuận cầm kim chọc.
  • Chọc kim cách đầu dò siêu âm khoảng 1 cm (hoặc theo khoảng cách đã xác định trước theo phương pháp tam giác vuông cân). Đặt đầu kim ở giữa đầu dò [vị trí đánh dấu ở giữa trên đầu dò siêu âm] và chếch góc 30-45 độ (hoặc 45 độ theo phương pháp tam giác vuông cân) so với mặt da. Hướng kim theo hình ảnh siêu âm đã được thăm dò (thường hướng về phía núm vú cùng bên).
  • Khi kim xuyên qua da, quan sát thấy kim trên siêu âm.
  • Nếu không nhìn thấy kim thì không tiếp tục đẩy kim sâu; cần điều chỉnh đầu dò hoặc nhẹ nhàng đưa đẩy đầu kim để nhìn thấy kim.
  • Khi nhìn thấy đầu kim, tiếp tục đẩy kim theo tín hiệu trên siêu âm; đảm bảo kim đã nằm trong lòng mạch. Rút ngược bơm tiêm thấy máu trào ra.
  • Luồn dây dẫn inox [J guid wire] vào kim chọc qua cổng phụ (có loại phải thấu bơm tiêm để luồn dây dẫn vào kim chọc); rút bỏ kim chọc; dùng dao với mũi vát hướng lên trên và tiến hành trích da bằng một động tác rạch da từ trong ra ngoài.
  • Luồn cây nong mạch (Dilator) qua dây dẫn, đẩy vào mạch máu và rút bỏ cây nong mạch.
  • Mở khóa cổng chính của catheter, luồn đầu catheter theo dây dẫn. Khi tới gần sát mặt da, kéo ngược đẩy dây dẫn ra ngoài tới khi đầu dây dẫn ra khỏi cổng chính của catheter. Giữ cố định đầu dây dẫn, đưa catheter vào sâu khoảng 10- 12 cm (có khi tới 15 cm). Nếu đẩy catheter sâu quá sẽ chạm vào thành nhĩ phải, tạo hình ảnh kích thích tạo nhịp tim trên ECG Monitor và cần phải rút catheter ngược lại bớt. Giữ cố định catheter, rút dây dẫn ra.
  • Mỗi cổng catheter có một khóa; kiểm tra cổng nào khóa thì mở khóa của cổng đó. Dùng bơm tiêm có nước muối sinh lý (có thể có chứa Heparin nồng độ thấp) hút ngược máu của từng cổng một để loại bỏ khí và đảm bảo thông suốt, rồi bơm ngược trở lại để tráng rửa tất cả các cổng.
  • Nối cổng chính của catheter với một chai dịch đẳng trương; mở khóa cho dịch chảy nhanh đến khi hết máu trong catheter.
  • Sau đó hạ chai dịch, kiểm tra lại; nếu thấy máu trào ngược lại catheter là đạt.
  • Nhấc cao chai để dịch truyền chảy nhanh đẩy hết máu ở dây truyền, rồi điều chỉnh dịch chảy theo tốc độ được chỉ định.
  • Khâu cố định chân catheter bằng chỉ qua các lỗ của thiết bị gắng cố định vị trí chân catheter kèm theo catheter.
  • Vệ sinh tại chỗ bằng dung dịch sát khuẩn.
  • Băng kín chân catheter bằng opside vô khuẩn hoặc đặt gạt vô khuẩn bảo vệ và dán keo cố định.
  • Tiến hành chụp X quang ngực sau khi đặt catheter. Đảm bảo đầu trong của catheter nằm trong tĩnh mạch chủ trên.

Đặt catheter tĩnh mạch trung tâm qua tĩnh mạch dưới đòn

Catheter tĩnh mạch dưới đòn có thể được đặt dưới hướng dẫn siêu âm theo các mặt cắt: mặt cắt trên xương đòn (tĩnh mạch dưới đòn [SCV] nằm ngay trên màng phổi [Pleura]) hoặc mặt cắt trục dài dưới đòn [a-tĩnh mạch đầu, b-tĩnh mạch nách] và mặt cắt trục ngắn dưới đòn [SCA-động mạch dưới đòn].

  1. Cho bệnh nhân ở tư thế Trendelunburg (đầu thấp, chân cao, hạ thấp đầu giường), kê một gối ở giữa hai vai. Quay đầu bệnh nhân sang bên đối diện với bên dự định đặt đường truyền tĩnh mạch.
  2. Đội mũ che kín tóc ± đeo mặt nạ che mặt; vệ sinh tay; mặc áo choàng thủ thuật (phần vô khuẩn tiếp xúc với người bệnh) và đi găng vô khuẩn.
  3. Vệ sinh da quanh vị trí định chọc kim bằng dung dịch sát khuẩn (ví dụ: Chlorhexedin hoặc Betadin).
  4. Phủ săng vô khuẩn lên toàn bộ người bệnh, đồng thời dùng một săng vô khuẩn có lỗ hoặc săng mổ để phủ thân mình và chân; chỉ lộ vùng da cần đặt catheter.
  5. Bơm tráng dịch vào tất cả các cổng của catheter để bảo đảm chức năng hoạt động của catheter, và bơm tráng kim chọc mạch.
  6. Gây tê da và mô dưới da ở dưới xương đòn tại vị trí dự định chọc kim (vị trí đã được thăm dò bằng siêu âm trước đó).
  7. Người phụ bên ngoài bôi gel vào đầu dò; người làm thủ thuật dùng bọc đầu dò (túi ni lon vô khuẩn chuyên dụng) sẵn trong bộ đặt catheter hoặc dùng găng vô khuẩn bọc ra ngoài đầu dò. Không để tồn tại không khí giữa đầu dò và găng. Bảo đảm vô khuẩn khi tiếp xúc với người bệnh.
  8. Người làm thủ thuật dùng tay không thuận cầm đầu dò siêu âm, xác định vị trí và hướng đi của kim (hướng về phía hõm ức).
  9. Nếu đặt tại vị trí dưới xương đòn: dùng kim thăm dò với mặt vát của mũi kim hướng lên trên, chọc qua da cách phía dưới xương đòn (dưới xương đòn khoảng 2 cm). Hướng mũi kim về phía hõm ức, vừa chọc kim vào sâu vừa hút chân không. Luôn giữ kim song song với nền da trong suốt quá trình chọc kim. Quan sát hình ảnh đầu kim (màu trắng) trên màn hình siêu âm; khi đầu kim vào lòng mạch, máu sẫm màu (máu tĩnh mạch) sẽ trào vào bơm tiêm. Khi hút được máu tĩnh mạch dễ dàng vào bơm tiêm, quay mặt vát của kim chọc xuống phía dưới.
  10. Giữ chắc kim, luồn dây dẫn đường (J guide wire) qua cổng phụ của kim chọc vào trong lòng mạch (có loại phải tháo bỏ bơm tiêm rồi mới luồn dây dẫn qua kim).
  11. Các bước tiếp theo thực hiện tương tự như đặt catheter tĩnh mạch cảnh trong; thông thường luồn catheter sâu khoảng 12 cm (có khi tới 15 cm).

Đặt catheter tĩnh mạch trung tâm qua tĩnh mạch đùi

Với tĩnh mạch đùi nằm phía trong, hướng chọc kim về phía rốn, các bước thực hiện tương tự như đặt catheter tĩnh mạch cảnh trong. Thông thường luồn catheter vào sâu khoảng 10-12 cm (có khi tới 15 cm).

THEO DÕI VÀ XỬ TRÍ TAI BIẾN

Theo dõi

  • Theo dõi: thay băng sau 24 giờ sau đặt catheter hoặc khi thấy băng thấm máu, dịch, hoặc băng opside bị bong ra.
  • Theo dõi tình trạng: chảy máu tại chỗ chọc, tràn khí màng phổi, nhiễm trùng tại chân catheter.

Xử trí tai biến

  • Chọc vào động mạch: rút kim ra và băng ép 10 - 15 phút.
  • Tràn khí, tràn dịch, tràn máu màng phổi: rút catheter; chọc hút dẫn lưu màng phổi; nếu không đáp ứng thì mở màng phổi.
  • Nhiễm trùng chân catheter và nhiễm khuẩn huyết: rút catheter và cấy đầu catheter.
  • Thuyên tắc khí/ huyết khối: xử trí theo phác đồ.

Tài liệu tham khảo

  1. Quy trình kỹ thuật. Bộ Y Tế
  2. Ultrasound-Guided Subclavian Vein Cannulation: The Vessel to Remember
  3. Central Venous Catheterization. Critical Care 2018