GIỚI THIỆU
Rắn hổ mang cắn là dạng tai nạn do rắn độc gây ra, thường gặp tại Việt Nam. Trong nọc rắn hổ mang, thành phần chủ yếu là các độc tố có bản chất là enzyme và polypeptide gây tổn thương mô tại chỗ, làm xuất hiện sưng nề và hoại tử. Đồng thời, nọc rắn có độc tính thần kinh (độc tố thần kinh hậu synape, typ alpha) gây liệt cơ.
- Rắn hổ mang cắn có thể gây tử vong sớm ở một số trường hợp do liệt cơ dẫn tới suy hô hấp. Tuy vậy, tổn thương thường gặp nhất là hoại tử và sưng nề. Hoại tử thường xuất hiện rất nhanh sau khi bị cắn và tạo nền cho các biến chứng, đặc biệt là di chứng mất một phần cơ thể và tàn phế.
- Chẩn đoán và điều trị rắn hổ mang cắn cần được tiến hành nhanh chóng; đặc biệt cần dùng sớm và tích cực huyết thanh kháng nọc rắn khi có biểu hiện nhiễm độc rõ ràng để có thể phòng tránh hoặc hạn chế hoại tử cho bệnh nhân.
- Tại Việt Nam hiện ghi nhận 3 loài rắn hổ mang: rắn hổ đất, rắn hổ mang miền Bắc và rắn hổ mèo. Rắn hổ mèo cắn có biểu hiện nhiễm độc và đáp ứng/điều trị huyết thanh kháng nọc rắn với nhiều đặc điểm khác biệt, vì vậy sẽ được đề cập trong bài riêng.
NGUYÊN NHÂN
Các loài rắn hổ mang
- Rắn hổ đất, rắn hổ mang một mắt kính (Naja kaouthia): Tên tiếng Anh: monocellate cobra, Thailand cobra, monacled cobra, Bengal cobra, monocled cobra. Đặc điểm nhận dạng sơ bộ: ở mặt sau của vùng mang phình có hình một mắt kính (monocle) dạng vòng tròn. Phân bố chủ yếu ở miền Nam; tại miền Bắc có nhiều nơi người dân nuôi loài rắn này.
- Rắn hổ mang miền Bắc, rắn hổ mang, rắn mang bành, con phì (Việt); ngù hố (Thái); tô ngù (Thổ); hu háu (Dao) (Naja atra): Tên tiếng Anh: Chinese cobra. Nhận dạng sơ bộ: mặt sau của vùng mang phình có hình hoa văn ở giữa với 2 vệt trắng (2 gọng kính) nối từ hoa văn sang hai bên và nối liền với phần máu trắng ở phía trước cổ. Phân bố ở miền Bắc.
Lý do bị rắn cắn
- Rắn hổ mang là nhóm rắn độc có số lượng cá thể nhiều, sinh sống cả ở tự nhiên, xen kẽ trong khu dân cư và được nuôi nhốt; vì vậy con người có nguy cơ bị cắn.
- Lý do thường gặp nhất là chủ động bắt rắn. Các tình huống dẫn tới tiếp xúc giữa rắn và người gây tai nạn rắn cắn thường do rắn ẩn nấp ở các vị trí kín đáo như khe kẽ, hang, hốc, đống gạch,... trong khu dân cư hoặc ở cánh đồng; đồng thời rắn cũng có thể đi tìm thức ăn như cóc, nhái và xuất hiện tại các nơi có gia cầm,...
CHẨN ĐOÁN
Lâm sàng
Tại chỗ
- Vết răng độc có thể quan sát rõ ràng, biểu hiện dưới dạng một vết hoặc hai vết, hoặc một dãy sắp xếp phức tạp của nhiều vết răng.
- Thường có tổn thương trực tiếp tại vị trí bị cắn: vùng vết cắn đau, đỏ da, sưng nề, hoại tử; bọng nước có thể xuất hiện và có xu hướng tiến triển nặng dần.
- Vết cắn rất đau; sau vài giờ đến một ngày, vùng da xung quanh vết cắn thâm lại, thường mang màu tím đen, đồng thời xuất hiện mô chết (hoại tử). Hoại tử có thể lan rộng trong vài ngày và hình thành đường viền bao quanh vùng vết cắn.
- Có thể có sưng và đau hạch trên hệ bạch huyết của vùng bị cắn, ví dụ hạch nách, bẹn khoeo, khuỷu.
- Tốc độ tiến triển của sưng nề, hoại tử và bọng nước là dấu hiệu chỉ dẫn mức độ nhiễm nọc độc.
- Sưng nề và tổn thương mô có thể trở nên nặng, dẫn tới hội chứng khoang và chèn ép ngọn chi, từ đó có nguy cơ gây tổn thương thiếu máu. Biểu hiện thường gặp ở chi bị ảnh hưởng là sưng nề căng, ngọn chi lạnh, nhịp mạch yếu hoặc không thấy.
Toàn thân
- Thần kinh: có thể gặp liệt cơ. Rắn hổ đất dường như gây liệt cơ nhiều hơn so với rắn hổ mang miền Bắc. Liệt thường xuất hiện sau khi bị cắn từ 3 giờ trở lên và có thể kéo dài đến 20 giờ. Diễn biến thường theo thứ tự sụp mi, đau họng, nói khó, há miệng hạn chế, ứ đọng đờm rãi, sau đó là liệt cơ hô hấp và liệt các chi. Liệt cơ thường dẫn tới suy hô hấp và có thể tử vong nếu không được cấp cứu kịp thời. Liệt đáp ứng tốt với huyết thanh kháng nọc rắn; khi không có huyết thanh kháng nọc rắn thì liệt có thể hồi phục trong vòng vài ngày.
- Hô hấp: có thể suy hô hấp do liệt cơ, co thắt phế quản hoặc phù nề thanh quản do dị ứng với nọc rắn. Một số trường hợp có sưng nề lan tới vùng cổ, làm tăng nguy cơ chèn ép đường hô hấp trên (nhiễm độc nặng hoặc vết cắn vùng ngực, đầu mặt cổ).
- Tim mạch: có thể tụt huyết áp do sốc phản vệ với nọc rắn hoặc do sốc nhiễm khuẩn.
- Tiêu hóa: có thể buồn nôn và nôn, đau bụng và ỉa chảy.
- Tiết niệu: tiểu ít, nước tiểu sẫm màu hoặc đỏ do tiêu cơ vân; có thể có suy thận cấp.
Cận lâm sàng
- Điện tim.
- Huyết học: công thức máu, đông máu cơ bản.
- Sinh hóa máu: urê, creatinin, điện giải, AST, ALT, CPK, CRP, procalcitonin.
- Khí máu động mạch: thực hiện khi có nhiễm độc nặng.
- Xét nghiệm nước tiểu: tìm protein, hồng cầu, myoglobin.
- Xét nghiệm nọc rắn (tùy theo điều kiện, nếu có):
- Phương pháp: sắc ký miễn dịch, miễn dịch quang học, miễn dịch gắn enzym,...
- Mẫu bệnh phẩm: có thể là máu, dịch vết cắn, dịch phỏng nước, nước tiểu.
- Kết quả xét nghiệm thường là định tính; riêng với mẫu máu có thể thực hiện xét nghiệm định lượng nồng độ nọc rắn.
- Siêu âm: tìm ổ áp xe vùng vết cắn; siêu âm Doppler đánh giá chèn ép do hội chứng khoang.
- Các xét nghiệm, thăm dò khác: tùy theo tình trạng bệnh nhân.
Chẩn đoán xác định
Chẩn đoán xác định dựa vào các căn cứ sau:
- Bệnh nhân có bị rắn cắn.
- Triệu chứng lâm sàng: có sưng nề, hoại tử và không có rối loạn đông máu.
- Đặc điểm con rắn đã cắn bệnh nhân: nếu có ảnh của rắn, được nuôi bắt hoặc nhớ rõ đặc điểm của rắn thì rất có ích, đặc biệt khi bệnh cảnh nhiễm độc không điển hình. Mẫu rắn bệnh nhân mang tới giúp xác định chính xác loài rắn hổ mang đã gây cắn.
- Xét nghiệm nọc rắn: hỗ trợ chẩn đoán nhanh, đặc biệt ở các trường hợp nhiễm độc không điển hình và khi không nhìn thấy rõ rắn.
Chẩn đoán phân biệt
- Rắn lành cắn: tại chỗ không sưng tấy, không có phù nề; khi khám thấy rất nhiều vết răng theo hình vòng cung; bệnh nhân có cảm giác ngứa tại chỗ rắn cắn.
- Rắn hổ chúa cắn: có vết cắn kèm sưng nề, nhưng thường sưng nề nhiều hơn; không có hoại tử (có thể có bầm máu dễ nhầm với hoại tử). Rắn hổ chúa thường to và dài (nặng vài ki lô gam tới hàng chục ki lo gam, dài trên thường 1mét đến vài mét); phần cổ bạnh không rộng nhưng kéo dài (rắn hổ mang có phần cổ bạnh rộng và ngắn).
- Rết cắn: thường đau buốt nhưng chỉ sưng nhẹ, không có hoại tử.
- Chuột cắn: vết răng có thể lớn, sưng nề nhẹ, không có hoại tử.
ĐIỀU TRỊ
Nguyên tắc điều trị
- Điều trị rắn hổ mang cắn bao gồm điều trị hỗ trợ, điều trị triệu chứng và sử dụng huyết thanh kháng nọc rắn đặc hiệu.
- Các bệnh nhân bị rắn hổ mang cắn cần được điều trị tại cơ sở y tế có khả năng cấp cứu và hồi sức, đặc biệt ưu tiên đặt nội khí quản và thở máy.
- Ở bệnh nhân có biểu hiện nhiễm độc, cần xem xét chỉ định huyết thanh kháng nọc rắn càng sớm càng tốt; theo dõi sát và nhanh chóng dùng đủ liều nhằm hạn chế tối đa tổn thương hoại tử và di chứng.
Sơ cứu
Các biện pháp khuyến cáo:
- Ngay sau khi bị cắn, nhanh chóng bóp nặn máu và cọ rửa trong chậu nước trong vài phút; có thể kết hợp dội nước hoặc thực hiện dưới vòi nước chảy.
- Băng ép bất động: xem thêm bài rắn cạp nia cắn.
- Vận chuyển bệnh nhân: cần nhanh chóng đưa bệnh nhân đến cơ sở y tế gần nhất bằng phương tiện vận chuyển phù hợp. Vùng bị cắn cần hạn chế vận động và để thấp hơn vị trí của tim.
Các biện pháp không khuyến cáo:
Không nên mất thời gian đi tìm thầy lang, lá thuốc, dùng hòn đá chữa rắn cắn, trích rạch, gây điện giật, chữa bằng mẹo,...; đặc biệt không nên chờ đợi xem tác dụng của các biện pháp sơ cứu trước khi cân nhắc tới cơ sở y tế, và càng không nên đến cơ sở y tế khi đã muộn, khi hoại tử đạt mức độ tối đa, xuất hiện biến chứng nặng hoặc tử vong.
Điều trị tại cơ sở y tế: ổn định chức năng sống
- Tùy theo mức độ, thực hiện thở oxy, hút đờm rãi, đặt nội khí quản và thở máy. Do bệnh nhân bị liệt cơ thường dẫn tới suy hô hấp, cần thận trọng khi chuyển viện nếu chưa được đặt nội khí quản.
- Ở bệnh nhân có sưng nề nhiều vùng cổ, cần cân nhắc đặt nội khí quản sớm.
Tùy theo nguyên nhân, thực hiện theo phác đồ xử trí sốc phản vệ với nọc rắn hoặc sốc nhiễm khuẩn.
Điều trị đặc hiệu: huyết thanh kháng nọc rắn
Chỉ định
- HTKNR cần được chỉ định càng sớm càng tốt. Tốt nhất là chỉ định trong vòng 24 giờ đầu sau khi bị cắn; có thể thực hiện trong vòng vài ngày đầu nếu các triệu chứng nhiễm độc nọc rắn vẫn đang tiến triển nặng lên. Để phòng tránh hoặc hạn chế tối đa tổn thương hoại tử, HTKNR cần được dùng trong vòng vài giờ đầu.
- Nếu có xét nghiệm nọc rắn trong máu, chỉ định HTKNR khi còn nọc rắn trong máu dương tính.
Thận trọng
- Có tiền sử dị ứng với các động vật (như ngựa, cừu) được sử dụng để sản xuất HTKNR hoặc các chế phẩm huyết thanh từ chính các động vật này (ví dụ huyết thanh ngiải độc tố uốn ván).
- Người có cơ địa dị ứng: từng bị dị ứng hoặc mắc các bệnh dị ứng như chàm, viêm mũi dị ứng, sẩn ngứa, đặc biệt là dị ứng mạnh (như hen phế quản, từng bị phản vệ).
Loại huyết thanh kháng nọc rắn
- HTKNR hổ mang được sử dụng cho rắn hổ đất (N. kaouthia) hoặc rắn hổ mang miền Bắc (N. atra).
Dự phòng các phản ứng dị ứng trước khi dùng huyết thanh kháng nọc rắn
- Corticoid đường tĩnh mạch: Methylprednisolon, người lớn 40-80mg tiêm tĩnh mạch chậm; trẻ em 1mg/kg cân nặng tiêm tĩnh mạch chậm.
- Kháng histamine: diphenhydramin, người lớn và thiếu niên 10-20mg tiêm bắp; trẻ em 1,25mg/kg cân nặng. Hoặc promethazin: người lớn tiêm bắp 25mg; trẻ em (không dùng cho trẻ dưới 2 tuổi) 0,25mg/kg tiêm bắp.
Cam kết về sử dụng
- HTKNR là biện pháp điều trị tốt nhất; tuy nhiên cần giải thích cho bệnh nhân và gia đình về nguy cơ có thể xảy ra của HTKNR và tiến hành ký cam kết đồng ý trước khi dùng thuốc.
Liều lượng
- Từ 5-10 lọ.
- Sau khi dùng, cần đánh giá ngay tại thời điểm sau khi ngừng HTKNR liều trước, xem xét dùng ngay liều kế tiếp.
- Nếu triệu chứng tiếp tục tiến triển nặng lên hoặc không cải thiện, tiến hành nhắc lại trong vòng 3 giờ sau khi ngừng liều trước (càng sớm càng tốt), với liều bằng hoặc một nửa liều ban đầu.
- Sau khi nhắc lại tối đa 3 lần mà vẫn không cải thiện, cần xem xét lại chẩn đoán xác định, chẩn đoán mức độ, liều lượng thuốc và các tình trạng khác của bệnh nhân để quyết định tiếp tục hay ngừng HTKNR.
Cách dùng
- Truyền tĩnh mạch là đường dùng chính. Pha loãng 5-10 lọ HTKNR trong 100-200ml natriclorua 0,9% hoặc glucose 5%, sau đó truyền tĩnh mạch chậm với tốc độ đều đặn trong khoảng 1 giờ.
- Tiêm dưới da có thể cân nhắc trong vài giờ đầu hoặc khi tổn thương tại chỗ đang tiến triển nhanh.
- Vị trí tiêm dưới da: quanh vết cắn hoặc vùng ranh giới hoại tử.
- Chia dung dịch thuốc thành nhiều phần và tiêm ở nhiều vị trí xung quanh vết cắn hoặc vùng tổn thương da, phần mềm do nọc độc rắn; mỗi vị trí tiêm không quá 1-2ml.
Ngừng dùng huyết thanh kháng nọc rắn khi
- Triệu chứng nhiễm độc hồi phục tốt; diện tích hoại tử nhỏ lại; vòng chi và độ lan xa của sưng nề giảm.
- Triệu chứng nhiễm độc hồi phục rõ: vùng hoại tử không lan rộng thêm; vòng chi và độ lan xa của sưng nề giảm.
- Triệu chứng nhiễm độc dừng lại, không tiến triển nữa (với các triệu chứng khó thay đổi ngay như hoại tử, bầm máu, máu đã chảy vào trong cơ,…).
- Bệnh nhân có phản ứng với HTKNR: sốc phản vệ, mày đay, phản ứng tăng thân nhiệt. Điều trị các phản ứng này trước; sau đó cân nhắc lợi và hại để dùng lại HTKNR khi tình trạng đã được xử trí ổn định.
Theo dõi
-
Thực hiện khám và đánh giá các triệu chứng của bệnh nhân nhiều lần (kết hợp lâm sàng và cận lâm sàng), đồng thời lượng giá mức độ triệu chứng bằng các thông số cụ thể, ví dụ:
- Thang điểm đau : ví dụ bệnh nhân đau 3/10.
- Đánh giá mức độ liệt: há miệng 3cm tính từ hai cung răng, cơ lực bàn tay 4/5, thể tích khí lưu thông tự thở của bệnh nhân là 200ml,…).
- Đánh giá mức độ sưng nề: đo chu vi vòng chi bị sưng nề và so sánh với bên đối diện (dùng thước dây đo vòng chi qua vị trí vết cắn và vòng chi qua điểm giữa các đoạn chi kế tiếp tính về phía gốc chi; đánh dấu lại vị trí đo để lần sau đo lại), đo mức độ lan xa của sưng nề (tính từ vị trí vết cắn đến gianh giới giữa vùng sưng nề về vùng bình thường). Cần lưu ý phân biệt sưng nề do nhiễm độc nọc rắn và sƣng nề do viêm tấy (kèm vùng da có nóng, đỏ).
- Đo diện tích hoại tử: dùng bút dạ không xóa hoặc bút bi khoanh vùng hoại tử (vẽ một đƣờng tròn khép kín dọc theo gianh giới giữa vùng hoại tử và vùng da lành) nhằm xác định mức độ hoại tử; giữ lại đường vẽ này. Mỗi lần đánh giá lại nếu có thay đổi diện tích hoại tử thì vẽ lại và so sánh giữa các lần đo để theo dõi diễn biến hoại tử.
- Đánh giá mức độ nhiễm độc của bệnh nhân ngay trước, trong khi, ngay sau mỗi lần dùng HTKNR, và sau đó ít nhất 1 lần/ngày.
- Theo dõi các dấu hiệu sinh tồn (mạch, huyết áp, nhịp thở, thân nhiệt, ý thức), biểu hiện dị ứng liên tục trước, trong, ngay sau và nhiều giờ sau khi dùng HTKNR; sử dụng máy theo dõi liên tục cho bệnh nhân.
Tai biến và xử trí
- Theo dõi sát để kịp thời phát hiện và xử trí các tai biến có thể gặp: dị ứng (mày đay, phản vệ), phản ứng tăng thân nhiệt và bệnh lý huyết thanh.
Điều trị triệu chứng
- Tiêm phòng uốn ván khi có chỉ định.
- Chăm sóc vết thương: rửa vết thương, sát trùng và thay băng 2 lần/ngày hoặc nhiều hơn nếu cần thiết.
- Kê cao tay hoặc chân bị cắn nhằm hỗ trợ giảm sưng nề.
- Đau : thuốc giảm đau tốt nhất là HTKNR. Trường hợp đau do viêm tấy nhiễm trùng, có thể sử dụng paracetamol hoặc các thuốc chống viêm giảm đau không steroid.
- Tiêu cơ vân: tùy theo mức độ, tiến hành truyền dịch và lợi tiểu theo phác đồ bài niệu tích cực khi cần để đảm bảo thể tích nước tiểu, phòng ngừa suy thận cấp.
- Điều trị các biến chứng: bao gồm nhiễm trùng, hội chứng khoang, suy thận cấp, sốc nhiễm khuẩn, rối loạn đông máu, tổn thương mất một phần chi và sẹo da.
TIẾN TRIỂN VÀ BIẾN CHỨNG
Tiến triển
- Nếu bệnh nhân đến sớm và được dùng HTKNR sớm, nhanh chóng đạt đủ liều, tổn thương tại chỗ thường ít và ít phát sinh biến chứng; đa số trường hợp cần nằm viện tại các khoa hồi sức cấp cứu, chống độc trong vòng vài ngày.
- Các bệnh nhân nặng, biến chứng nặng hoặc tử vong thường do mất thời gian chờ đợi ở nhà để áp dụng các biện pháp sơ cứu rồi mới đến viện muộn; do đó được dùng HTKNR muộn. Một số bệnh nhân tử vong trên đường vận chuyển đến viện do suy hô hấp vì liệt cơ, không đến cơ sở y tế gần nhất mà tự đi thẳng tới tuyến sau.
- Sau vài ngày, tổn thương tại chỗ đạt mức tối đa, sưng nề bắt đầu giảm, hoại tử có vùng gianh giới rõ ràng và hết liệt.
Biến chứng
- Suy hô hấp do liệt cơ.
- Nhiễm trùng vết cắn: viêm tấy vết cắn, áp xe vùng vết cắn.
- Suy thận cấp: do tiêu cơ vân hoặc do tụt huyết áp kéo dài.
- Hội chứng khoang: do sưng nề gây chèn ép và thiếu máu ngọn chi.
- Các biến chứng do nhiễm trùng: sốc nhiễm khuẩn và rối loạn đông máu nội mạch rải rác.
- Các biến chứng xa: cắt cụt một phần chi, sẹo phải vá da, ghép da.
DỰ PHÒNG RẮN CẮN
Phần lớn các trường hợp rắn cắn xảy ra do con người chủ động bắt rắn hoặc trêu rắn (vô tình hoặc cố ý làm cho rắn cảm thấy bị đe doạ). Các biện pháp dưới đây có thể giúp giảm nguy cơ bị rắn cắn:
-
Nắm được loại rắn thường gặp tại khu vực; đồng thời biết khu vực mà rắn thích sinh sống hoặc ẩn nấp. Biết về thời điểm trong năm, thời điểm trong ngày và kiểu thời tiết nào rắn hoạt động mạnh nhất, ví dụ mùa hè, mưa, trời tối.
-
Đặc biệt thận trọng với rắn sau các cơn mưa, khi có lũ lụt, trong mùa màng thu hoạch và vào thời gian ban đêm.
-
Khi đi lại vào ban đêm hoặc trong khu vực nhiều cây cỏ, cần đi ủng, mang dày cao cổ và mặc quần dài. Dùng đèn khi di chuyển ban đêm.
-
Càng tránh xa rắn càng tốt: không biểu diễn rắn, không cầm, không đe doạ rắn. Không bẫy rắn, không đuổi hoặc dồn ép rắn trong khu vực khép kín.
-
Không nằm ngủ trực tiếp trên nền đất.
-
Không để trẻ em chơi gần khu vực có rắn.
-
Không cầm, trêu rắn đã chết hoặc những vật thể trông giống rắn đã chết.
-
Thận trọng khi ở gần các nơi rắn có thể cư trú hoặc thường đến như các đống gạch vụn, đống đỏ nát, đống rác, tổ mối, chuồng gà, ổ gà, các khu vực nuôi động vật của gia đình.
-
Thường xuyên kiểm tra nhà ở xem có rắn không. Nếu có thể, cần hạn chế các kiểu cấu trúc nhà tạo điều kiện thuận lợi cho rắn ở, ví dụ: nhà mái tranh, tường xây bằng rơm, bùn với nhiều hang, hốc hoặc vết nứt, nền nhà nhiều vết nứt.
Tài liệu tham khảo
- Hướng dẫn chẩn đoán và xử trí ngộ độc. Bộ Y Tế. 31/08/2015