GIỚI THIỆU
TỔNG QUAN VỀ SIÊU ÂM PHỔI
Đầu dò siêu âm
Điểm đánh dấu hướng đầu dò (Probe marker)
Vị trí máy siêu âm tại giường bệnh
Các khu vực thăm dò, điểm trong thăm dò siêu âm BLUE protocol, và M-Mode trong siêu âm phổi
Các đểm trong siêu âm BLUE protocol
M-Mode trong siêu âm phổi
10 dấu hiệu siêu âm phổi
Dấu hiệu con dơi (Bat sign)
Đường A (A-line)
Phổi trượt (Lung sliding) hay trượt màng phổi và dấu hiệu bờ biển (Seashore sign)
Dấu hiệu tứ giác (Quad sign)
Dấu hiệu hình sin (Sinusoid sign)
Dấu hiệu giống mô (Tissue-like sign) hay còn gọi là gan hóa (Hepatization)
Dấu hiệu mảnh vụn (Shred sign)
Đường B và hình ảnh tên lửa phổi (B-line & Lung rockets)
Đường B (B-line) luôn biểu hiện dưới dạng một ảnh giả đuôi sao chổi (comet-tail artifact), xuất phát từ đường màng phổi, và đồng bộ di chuyển theo lung sliding. Đa số B-line thường dài, dễ nhận diện, có dạng như tia laser, tăng âm (tăng sáng) và gây xóa A-line.
B-line xuất hiện khi không khí và dịch trong phổi bị siêu âm “va chạm” đồng thời theo cơ chế tạo tín hiệu do tương tác âm trong cấu trúc phổi.
Về ý nghĩa chẩn đoán: B-line gợi tình trạng phổi bị quá tải dịch hoặc viêm.
Nếu có ≥ 3 B-line ở giữa 2 xương sườn thì được gọi là tên lửa phổi (Lung rockets).
Từ 3-4 B-line (hoặc khoảng cách giữa các B-line # 7mm) gọi là tên lửa vách (septal rockets). Hình ảnh này tương quan với Kerley B-lines, gặp trong phù phổi kẽ (Interstitial Lung Edema), thường trong bối cảnh phù phổi huyết động và ở giai đoạn sớm chưa có tràn dịch phế nang.
Nhiều gấp đôi số B-line (hoặc khoảng cách giữa các B-line # 3mm) thì gọi là tên lửa mặt đất (Ground-glass rockets), gặp trong tràn dịch phế nang (Alveolar Flooding - ARDS).
B-line có thể phối hợp với lung sliding để giúp phân biệt phù phổi huyết động với ARDS theo logic của BLUE-protocol.
Lưu ý: khi quan sát có đường A (A-line; hoặc còn gọi là Z-line khi có hình ảnh nghi ngờ B-line) thì cho phép loại trừ B-line.
Dấu hiệu tầng bình lưu (stratosphere sign), hay dấu hiệu mã vạch (Barcode sign)
Để củng cố sự vắng mặt của phổi trượt (Lung sliding), có thể phối hợp M-Mode nhằm tạo ra hình ảnh mã vạch [Barcode] hay còn gọi là tầng bình lưu [Stratosphere]. Hình ảnh này có giá trị tương đương với mất phổi trượt và gợi ý tràn khí màng phổi.
Tuy nhiên, tình trạng mất dấu phổi trượt không đủ tiêu chuẩn để khẳng định tràn khí màng phổi.
Điểm phổi (Lung point)
Điểm phổi (Lung point) là vị trí giao nhau giữa vùng tràn khí và vùng không tràn khí. Dấu hiệu này dựa trên việc ghi nhận một bên có dấu hiệu mã vạch [Barcode sign] hay dấu hiệu tầng bình lưu [Stratosphere sign] và bên kề có dấu hiệu bờ biển [Seashore sign], đồng thời theo nhịp hô hấp. Khi có phối hợp phù hợp, điểm phổi (Lung point) hỗ trợ chẩn đoán xác định tràn khí màng phổi.
Dấu hiệu khác
Mạch phổi (Lung pulse)
Trên M-mode, trong trường hợp không có lung sliding, tại vùng cạnh tim có thể quan sát một hình ảnh rõ ràng nằm ngay phía dưới đường màng phổi (mũi tên trong hình). Hình ảnh này được tạo bởi sự chuyển động của màng phổi đồng bộ với nhịp tim; dấu hiệu này hữu ích để loại trừ tràn khí màng phổi tại vùng thông khí giảm.
BLUE PROTOCOL
Sơ đồ
Các thành phần
- A-profile: A-line (+), B-line (-), Lung sliding (+).
- A’-profile: A-line (+), B-line (-), Lung sliding (-).
- B-profile: A-line (-), B-line (+), Lung sliding (+).
- B’-profile: A-line (-), B-line (+), Lung sliding (-).
- A/B profile: xen kẽ vùng phổi có A-line và vùng phổi có B-line.
- The C-profile: cho thấy phổi đông đặc với bất kể kích thước và số lượng với các dấu hiệu như: dấu hiệu giống mô (Tissue-like sign) hay gan hóa (Hepatization sign), dấu hiệu mảnh vụn (Shred sign). Một đường màng phổi (Pleural line) dày và không đều cũng có giá trị tương đương.
- PLAPS-point dương tính: dấu hiệu đông đặc ± tràn dịch. Dấu hiệu tràn dịch như dấu hiệu tứ giác (Quad sign), dấu hiệu hình sin (Sinusoid sign).
- Huyết khối tĩnh mạch: khảo sát huyết khối tĩnh mạch chi dưới.
Siêu âm tĩnh mạch chi dưới
- Nâng cao đầu giường 45 độ, co gối, xoay ngoài.
- Đặt đầu dò Linear: tĩnh mạch đùi (bẹn, háng), tĩnh mạch kheo (mặt sau gối).
Huyết khối lấp đầy lòng tĩnh mạch, đè không xẹp hoặc chỉ xẹp một phần, và/ hoặc khuyết màu, phổ Doppler không thay đổi theo nhịp hô hấp.
Tài liệu tham khảo
- Lung ultrasound: Protocols in acute dyspnea
- Lung ultrasound in the critically ill
- The BLUE-protocol decision tree - performed on dyspneic patients who will be admitted to the ICU
- 5 Minute Sono – BLUE Protocol (2020)
- Lung Ultrasound Explained Clearly – Video Transcript
- Lung pulse (M-mode). Figure 5 - uploaded by Rahul Khosla
- Focused Lower Extremity Venous Ultrasound