GIỚI THIỆU
TỔNG QUAN
Chỉ định
- Dẫn lưu khí hoặc dịch ra khỏi khoang màng phổi.
- Sử dụng các thuốc điều trị trong khoang màng phổi, ví dụ chất gây xơ.
Chống chỉ định
- Cơ địa chảy máu (thời gian PT hoặc aPTT > 2 lần thời gian bình thường, tiểu cầu < 50.000 hoặc Creatinin > 6) cần được điều chỉnh trong tình huống không cấp cứu.
- Bệnh nhân có tiền sử phẫu thuật lồng ngực hoặc đã được gây dính màng phổi bên dự định đặt ống dẫn lưu cần thận trọng thêm. Mô phổi có thể trở nên bám dính vào thành ngực sau các thủ thuật này, làm tăng nguy cơ tổn thương hoặc chảy máu phổi trong quá trình đặt ống dẫn lưu. Có thể cần đặt dưới hướng dẫn của chẩn đoán hình ảnh hoặc trong phòng mổ.
Chẩn đoán hình ảnh (hình ảnh học)
- Xác nhận bệnh lý màng phổi bị nghi ngờ trước khi đặt ống là bắt buộc nhằm tránh tổn thương không cố ý đến phổi hoặc các cơ quan khác, đồng thời giảm nguy cơ bệnh tật và tử vong của người bệnh.
- Bệnh nhân có bệnh phổi xơ nang hoặc khí phế thủng, túi khí lớn có thể bị nhầm với một tràn khí màng phổi trên phim X-quang thẳng đứng tiêu chuẩn.
- Các khối u liên quan đến xẹp phổi có thể bị nhầm lẫn với tràn dịch màng phổi.
- Trong bối cảnh sau phẫu thuật, liệt cơ hoành hoặc tổn thương dẫn đến cơ hoành nâng lên trên phim X-quang ngực thường quy có thể nhầm lẫn với tràn dịch màng phổi đáng kể.
- Việc cố gắng đặt ống dẫn lưu trong các tình huống nêu trên có thể gây bệnh tật đáng kể.
- Các phim X-quang ở tư thế nằm nghiêng có thể giúp xác nhận sự hiện diện của dòng khí hoặc dự đoán tự do.
- Nếu còn bất kỳ nghi ngờ nào, hoặc trong các trường hợp khó, cần thực hiện chẩn đoán hình ảnh bằng CT scan ngực hoặc siêu âm.
Chọn vị trí dẫn lưu
- Các dấu hiệu khám thực thể đặc trưng cho tràn dịch màng phổi gồm: giảm âm thở (rì rào phế nang giảm) khi nghe, gõ đục, mất rung thanh khi sờ, và thành ngực căng lên không cân xứng trong thì hít vào. Các dấu hiệu khám thực thể đặc trưng cho tràn khí màng phổi gồm: rung thanh tăng và giảm âm thở (rì rào phế nang giảm). Trong tràn khí màng phổi áp lực, có thể quan sát thấy sự thay đổi của cấu trúc trung thất.
- Đối với dòng khí hoặc dịch tự do, vị trí ống dẫn lưu được đặt theo truyền thống trong "Tam giác an toàn - Triangle of Safety", được phân định bởi bờ bên của cơ ngực lớn hoặc đường nách trước (phía trước), bờ bên của cơ lưng rộng hoặc đường nách giữa (phía sau) và khoang liên sườn thứ 5 (phía dưới). Ngoài ra, khoang liên sườn thứ 2 trong đường trung đòn có thể được sử dụng để dẫn lưu tràn khí màng phổi bằng các catheter nhỏ, qua da.
- Vị trí đặt cho tràn khí hoặc dịch khu trú thường cần được hướng dẫn bởi siêu âm hoặc màng tăng sáng nhằm tối ưu việc đặt ống. Một hiểu biết vững chắc về giải phẫu là cần thiết trong các tình huống này để phòng ngừa tổn thương các cấu trúc trong quá trình đặt ống dẫn lưu.
- Tránh đặt ống qua mọi bất thường ở da như: viêm mô tế bào, nấm candida, bỏng hoặc các vết thương khác.
LỰA CHỌN KÍCH THƯỚC ỐNG DẪN LƯU VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN TỐI ƯU
| Kích thước ống dẫn lưu và phương pháp đặt ống dẫn lưu theo chỉ định | ||
|---|---|---|
| Chỉ định | Kích thước ống | Phương pháp đặt ống |
| Tràn khí màng phổi đơn giản - bao gồm: nguyên phát, thứ phát, chấn thương và do điều trị. | 8-14 F | Dây dẫn đường(guidewire) dưới hướng dẫn của hình ảnh học (siêu âm, màng tăng sáng) |
| Tràn khí màng phổi khu trú | 8-14 F | Dây dẫn đường dưới hướng dẫn của hình ảnh học trong thời gian thực |
| Tràn khí màng phổi - thông khí áp lực dương | 20-28 F | Hoặc là dây dẫn đường dưới hướng dẫn của hình ảnh học hoặc bằng cách bóc tách kín |
| Rò phế quản màng phổi | 28 F hoặc hơn | Bóc tách kín |
| Tràn dịch ác tính(do ung thư) | 8-14 F | Dây dẫn đường dưới hướng dẫn của hình ảnh học |
| Tràn dịch màng phổi do viêm phổi có biến chứng - pH < 7.2(*) | 8-14 F | Dây dẫn đường dưới hướng dẫn của hình ảnh học |
| 20 F hoặc hơn | Hoặc là dây dẫn đường dưới hướng dẫn của hình ảnh học hoặc bóc tách kín | |
| Mủ màng phổi(*) | 8-14 F | Dây dẫn đường dưới hướng dẫn của hình ảnh học |
| 20 F hoặc hơn | Hoặc là dây dẫn đường dưới hướng dẫn của hình ảnh học hoặc bóc tách kín | |
| Tràn máu màng phổi | Lớn hơn 32 F | Bóc tách kín |
Các bước tiến hành thủ thuật
Phương pháp bóc tách kín (phẫu thuật)
- Giải thích cho bệnh nhân về lợi ích, nguy cơ, các phương pháp thay thế và ký xác nhận đồng ý.
- Chuẩn bị đầy đủ trang thiết bị cần thiết (xem bảng bên dưới). Việc sử dụng bộ Kit dụng cụ được chuẩn bị sẵn có thể giúp đơn giản hóa quy trình.
- Thông thường, cho bệnh nhân nằm ngửa với đầu và vai tạo góc khoảng 30 độ so với giường. Cánh tay cùng bên được đặt phía trên đầu để bộc lộ nách và làm tăng khoảng cách giữa các xương sườn.
- Làm sạch khu vực can thiệp bằng chất sát trùng và trải săng vô trùng.
- Sau khi đã xác định vị trí phù hợp và xương sườn tương ứng, gây tê mô dưới da bằng Lidocaine 1% không có epinephrine.
- Tiếp theo, tiêm Lidocaine theo hướng sâu đến xương sườn đã chọn. Khi kim tiến tới, kéo kim lên phía trên và đi qua xương sườn theo kiểu từng bước; trong quá trình tiến gần, hút ngược bơm tiêm(hút chân không) khi sắp đến, sau đó dừng lại để tiêm Lidocain cứ sau mỗi 1-2 mm.
- Xác nhận vào đúng khoang màng phổi bằng cách hút được khí (đối với tràn khí màng phổi) hoặc hút được dịch (đối với tràn dịch màng phổi) bằng cách hút bơm tiêm khi nó tiến tới.
- Rút bơm tiêm trong khi vẫn duy trì hút cho đến khi không còn khí hoặc dịch quay trở lại, sau đó tiêm Lidocaine để gây tê rộng màng phổi thành. Thông thường, lượng tương đương 25-40 mL Lidocaine 1% sẽ tạo được gây tê tại chỗ đầy đủ.
- Rạch da qua mô dưới da đủ rộng để luồn một ngón tay vào (1-2 cm).
- Dùng kẹp Kelly cỡ trung bình thực hiện bóc tách kín đến đỉnh (bờ trên) của xương sườn đã chọn. Thao tác thực hiện bằng cách tạo áp lực về phía trước bằng Kelly trong khi đang mở (mở kẹp Kelly ra), không dùng lực khi đóng (đóng kẹp Kelly lại), và lặp lại nếu cần. Khi đã tới xương sườn, tiếp tục bóc tách kín qua bờ trên xương sườn. Thấy khí hoặc dịch thoát ra là dấu hiệu cho thấy đã vào trong khoang màng phổi. Khi đã vào khoang màng phổi, không được đẩy dụng cụ quá sâu nhằm ngăn ngừa tổn thương phổi.
- Đặt ngón tay qua đường vào khoang màng phổi, quét quanh chu vi vị trí vào để xác nhận không có dính chặt phổi theo hướng dự kiến đặt ống dẫn lưu.
- Kẹp đầu ống dẫn lưu bằng kẹp Kelly và đưa vào khoang màng phổi. Hướng dẫn thông thường: trước đỉnh đối với dẫn lưu khí và sau dưới đối với dẫn lưu dịch. Tùy thuộc vào độ dày thành cơ thể (thành ngực), đưa vào từ 10-12 cm tính từ da.
- Gắn đầu ống dẫn lưu bên ngoài vào hệ thống dẫn lưu. Quan sát sự xuất hiện của dòng khí/dịch và/hoặc các bằng chứng về thay đổi theo nhịp hô hấp để xác nhận vị trí phù hợp trong khoang màng phổi.
- Khâu cố định ống dẫn lưu chắc chắn để phòng tránh tuột. Một số thủ thuật viên đặt một mũi khâu chờ tại thời điểm đặt ống dẫn lưu để lỏng hai đầu (2 đầu chỉ để không, không khâu) nhằm đóng vết rạch tại thời điểm rút ống.
- Việc sử dụng gạc kín để bịt kín vùng da quanh ống dẫn lưu vẫn còn tranh cãi; một số tác giả cho rằng cách này có thể gây tổn thương da.
- Băng vùng rạch da bằng gạc rộng và băng dính.
- Chụp X-quang ngực để kiểm tra lại vị trí đặt ống dẫn lưu phù hợp.
- Kiểm tra đầu ra của ống dẫn lưu, các dấu hiệu thay đổi theo hô hấp, và sự hiện diện rò khí ít nhất một lần trong ngày. Đánh giá vị trí chọc đối với chảy máu hoặc dấu hiệu nhiễm trùng.
| Các dụng cụ cần thiết cho phẫu thuật bóc tách kín | |
|---|---|
| Găng vô khuẩn | Dao mổ với lưỡi dao số 11 |
| Mask | Ống dẫn lưu màng phổi (ống ngực) |
| Dung dịch sát khuẩn (Chlorhexidine hoặc Betadine) | Gạc vô trùng |
| Săng hoặc khăn vô trùng | Kẹp Kelly x 2 |
| Lidocaine 1% có/không epinephrine (chai 50 mL) | Băng vô trùng |
| Bơm tiêm 10 mL | Chỉ khâu |
| Bơm tiêm 60 mL | Cốc lấy mẫu bệnh phẩm vô trùng |
| Kim 25 Ga (để gây tê da) | Hệ thống dẫn lưu màng phổi |
| Kim 22 Ga x 1.5 in (để gây tê đường vào và màng phổi) | |
Phương pháp sử dụng dây dẫn đường
- Bệnh nhân ký xác nhận đồng ý, sau đó sắp xếp tư thế và chuẩn bị các dụng cụ tương tự như trong bảng "Các dụng cụ cần thiết cho phẫu thuật bóc tách kín" ở trên; đồng thời bổ sung bộ dụng cụ dây dẫn đường(Guidewire) và chuẩn bị khu vực chọc kim theo cách tương tự đối với tiếp cận bóc tách kín (phẫu thuật). Nhiều công ty sản xuất các bộ dụng cụ lắp ráp sẵn, có chứa hầu hết các dụng cụ cần thiết; cần kiểm tra nhãn bộ dụng cụ để bảo đảm tất cả dụng cụ sẵn sàng.
- Gây tê xương sườn và khoang màng phổi trong khoang liên sườn đã chọn bằng kỹ thuật tương tự như mô tả ở phần trên.
- Chọc kim thăm dò ngay phía bờ trên xương sườn thích hợp. Dừng lại ngay khi qua điểm mà dịch hoặc khí được hút ra.
- Loại bỏ bơm tiêm, dùng ngón tay bịt lỗ đầu kim để tránh khí lọt vào quá mức. Đưa dây dẫn đường (guidewire) qua kim chọc vào trong khoang màng phổi. Rút kim ra khỏi bệnh nhân, để dây dẫn đường tồn tại trong khoang màng phổi.
- Tạo một vết rạch da nhỏ tại ngay vị trí chân dây dẫn đường để cho phép đưa các dụng cụ nong (dilator) và ống dẫn lưu vào.
- Sử dụng các dụng cụ nong tuần tự (lớn dần) để nong đường vào trong khoang màng phổi. Về cơ bản, khi cảm nhận được dụng cụ nong đã xuyên qua màng phổi thành (có thể mô tả như hẫn tay hoặc tiếng sôi bọt[lộp bộp]) thì đó là dấu hiệu. Dụng cụ nong chỉ nên được đưa vào một đoạn nhỏ (1cm) ra ngoài so với vị trí cảm nhận này để bảo đảm hình thành đường dẫn vào thích hợp; đồng thời thao tác cần thận trọng để tránh đưa vào sâu hơn gây nguy hại cho phổi.
- Đưa ống dẫn lưu trượt theo dây dẫn đường vào trong khoang màng phổi. Xác nhận tất cả các lỗ trên ống dẫn lưu đều mở trong khoang màng phổi (tùy thuộc vào kích thước thành cơ thể, thường từ 8 - 12 cm tính từ da). Loại bỏ dây dẫn đường.
- Kết nối ống dẫn lưu với hệ thống dẫn lưu.
- Khâu cố định ống dẫn lưu tại chỗ và đắp gạc cùng băng dính.
- Chụp X-quang kiểm tra lại vị trí đặt ống dẫn lưu phù hợp.
Hệ thống dẫn lưu
Rút bỏ dẫn lưu màng phổi
Các bước rút ống dẫn lưu
- Chuẩn bị các dụng cụ: bộ dụng cụ loại bỏ chỉ khâu, gạc, chỉ khâu silk 1.0, đầu kim, kéo, Lidocaine 1% 10 ml không có epinephrine, bơm tiêm 10 ml với kim 25-G, băng dính.
- Bệnh nhân có thể được dùng một lượng nhỏ thuốc gây nghiện trước khi rút bỏ ống dẫn lưu nếu có chỉ định theo đánh giá lâm sàng.
- Loại bỏ chỉ khâu.
- Yêu cầu bệnh nhân hít vào hết sức và nhanh chóng rút ống dẫn lưu ra trong khi tay còn lại của thủ thuật viên dùng gạc bịt kín đường vào.
- Khép vết thương.
- Đối với ống dẫn lưu kích thước lớn (LBCT): khép vết rạch bằng cách buộc (hoặc buột) chỉ khâu chờ đã được đặt trước đó hoặc khâu lại bằng chỉ khâu mới.
- Đối với ống dẫn lưu kích thước nhỏ (LBCT): băng kín đơn giản là đủ.
- Nên chụp X-quang ngực sau theo dõi 12-24 giờ (hoặc sớm hơn nếu có chỉ định lâm sàng) để loại trừ tái phát tràn khí hoặc tràn dịch màng phổi.
CÁC BIẾN CHỨNG
Các biến chứng liên quan đến đặt ống dẫn lưu màng phổi nhìn chung ít được nghiên cứu hơn so với các biến chứng của các kỹ thuật thủ thuật lồng ngực thông thường khác. Việc đặt ống được thực hiện tại địa điểm nào (khoa cấp cứu, ICU, tầng hoặc phòng mổ) và bối cảnh tiến hành (cấp cứu hay theo chương trình) được xem là những yếu tố có ý nghĩa quan trọng. Một nghiên cứu quan sát các biến chứng xuất phát từ việc đặt ống dẫn lưu thông qua các nghiên cứu sinh về phổi, có sự tham gia và giám sát của người hướng dẫn.
Trong nghiên cứu, nhiều bệnh nhân (không phải tất cả) được theo dõi trong ICU. Số lượng đặt ống dẫn lưu lớn nhất trong nghiên cứu là do tràn khí màng phổi liên quan đến thở máy hoặc do điều trị. Các biến cố được phân loại theo thời điểm: sớm (trong 24 giờ đầu tiên) hoặc muộn; đồng thời được phân loại theo kích thước ống dẫn lưu: nhỏ hơn hoặc bằng 14 F hoặc lớn hơn.
Các biến chứng sớm bao gồm: ống không được đặt trong khoang màng phổi, chức năng của ống không hoạt động, và xé rách phổi. Các biến chứng muộn bao gồm: chức năng của ống không hoạt động, nhiễm trùng tại chỗ và rò rỉ quanh ống dẫn lưu. Tất cả các biến chứng có tỷ lệ xảy ra cao hơn ở nhóm ống dẫn lưu nhỏ (36%) so với nhóm ống dẫn lưu lớn (9%).
Những biến chứng khác cũng có thể gặp, bao gồm tràn máu màng phổi do tổn thương mạch máu liên sườn hoặc do đặt ống vào trong ổ bụng. Nhiễm trùng liên quan đến đặt ống dẫn lưu nhìn chung không phổ biến. Việc sử dụng kháng sinh dự phòng được một phân tích tổng hợp hỗ trợ ở các bệnh nhân chấn thương, tuy nhiên có thể không được xác nhận trong các tình huống lâm sàng khác.
Tài liệu tham khảo
- Chest Tube Insertion. Critical Care 2018