GIỚI THIỆU
Phúc mạc là một khoang vốn thuộc trạng thái vô khuẩn. Viêm phúc mạc (VPM) được định nghĩa là tình trạng viêm của đồng thời phúc mạc thành và phúc mạc tạng.
VPM có thể xảy ra do nhiễm khuẩn hoặc vô khuẩn (hóa chất, ...).
Tiên lượng phụ thuộc mức độ nặng, đặc biệt theo APACHE II, tuổi > 65, chậm trễ kháng sinh từ 2-4 ngày, cần phẫu thuật ổ bụng, suy đa tạng và nhiễm vi khuẩn đa kháng.
- VPM tiên phát: thường gặp trong bối cảnh cơ địa suy giảm miễn dịch, xơ gan, nhiễm trùng cổ chứng, lọc màng bụng, u hạt, nhiễm lao, cũng như các vi sinh vật khác; tác nhân có thể xâm nhập theo đường máu.
- VPM thứ phát: do thủng hoặc chấn thương các tạng trong ổ bụng, thiếu máu hoại tử ruột non, nhiễm trùng tiểu khung, rò vết mổ sau mổ, thủng do tai biến phẫu thuật, bao gồm thủng do các thủ thuật.
CHẨN ĐOÁN
Chẩn đoán dựa trên biểu hiện lâm sàng (nguyên nhân, yếu tố nguy cơ, đau bụng, phản ứng thành bụng...) và được xác lập khi có kết quả vi sinh từ chọc dịch ổ bụng để xác định tác nhân gây bệnh.
Lâm sàng
- Hội chứng đáp ứng viêm hệ thống SIRS
- Có đường vào: thủng tạng rỗng, đụng dập gan, vỡ nang buồng trứng, viêm phần phụ, nhiễm khuẩn tiểu khung, ...
Chọc dịch ổ bụng
- Xét nghiệm sinh hóa
- Đếm số bạch cầu trung tính trong dịch ổ bụng > 250 tế bào/ mm 3
- Nhuộm Gram và cấy vi khuẩn để định danh và làm kháng sinh đồ
Xét nghiệm vi sinh
- Dịch ổ bụng/ổ áp xe: nhuộm Gram, cấy trên cả môi trường hiếu khí và kỵ khí; định danh và làm kháng sinh đồ.
- Cấy máu 02 mẫu (10ml/ mấu); thời điểm tốt nhất là khi sốt rét run. 1 mấu lấy qua đường truyền tĩnh mạch trung tâm hoặc ngoại vi đã lưu quá 48 giờ, 1 mẫu lấy qua đường tĩnh mạch ngoại vi. Nuôi cấy trên cả 2 môi trường hiếu khí và kỵ khí; định danh và làm kháng sinh đồ.
ĐIỀU TRỊ
- Đối với VPM tiên phát, khoảng 80% trường hợp điều trị kháng sinh nhưng không cần phẫu thuật.
- VPM thứ phát phải phối hợp kiểm soát nguồn nhiễm khuẩn và liệu pháp kháng sinh.
Trường hợp nặng xem thêm: Kháng sinh kinh nghiệm trong nhiễm trùng huyết và sốc nhiễm trùng tiêu điểm ổ bụng, tiểu khung.
Viêm phúc mạc tiên phát
- Ceftriaxine 2g/ ngày x 5 ngày TTM hoặc
- Piperacillin/Tazobactam 4,5g mỗi 6 giờ x 5 ngày TTM
Viêm phúc mạc tiên phát ở bệnh nhân xơ gan
Bệnh nhân cổ trướng liên quan đến xơ gan và nghi ngờ viêm phúc mạc do vi khuẩn tự phát: biểu hiện gồm đau bụng, bụng đề kháng, thay đổi tình trạng ý thức, sốt và hạ huyết áp. Cần thực hiện chẩn đoán bằng việc lấy dịch ổ bụng để đếm số lượng bạch cầu đa nhân trung tính, đồng thời lấy bệnh phẩm dịch ổ bụng, máu và nước tiểu để nuôi cấy và làm kháng sinh đồ. Khởi trị kháng sinh kinh nghiệm dựa vào đánh giá mức độ nặng thông qua thang điểm CLIF-SOFA.
Sau đó, xem xét kết quả đếm số lượng bạch cầu đa nhân trung tính (PMN) trong soi dịch cổ trướng. Nếu:
Sau 5 ngày, đánh giá lại bệnh nhân. Ngừng điều trị nếu cải thiện đáng kể như mong đợi. Tuy nhiên, nếu sốt hoặc đau dai dẳng, lặp lại chọc dịch ổ bụng và quyết định dựa vào đáp ứng điều trị trên kết quả đếm PMN.
- CLIF-SOFA < 7 điểm: bắt đầu với Cephalosporin thế hệ 3 (ví dụ: Cefotaxime 2 g IV mỗi 8 giờ hoặc Ceftriaxone 2 g x 1 lần/ngày IV). Nếu bệnh nhân dị ứng với cephalosporin và trước đó chưa dùng fluoroquinolone để điều trị dự phòng (vì vi khuẩn gây nhiễm trùng có thể kháng với Fluoroquinolon) thì chọn Fluoroquinolone là lựa chọn thay thế thích hợp (ví dụ: Ciprofloxacin 400 mg IV x 2 lần/ngày).
- CLIF-SOFA ≥ 7 điểm: bắt đầu với Carbapenem (ví dụ: Ertapenem 1 g mỗi 24 giờ, Imipenem 500 mg mỗi 6 giờ và Meropenem 1 g mỗi 8 giờ), là thuốc dành riêng cho bệnh nhân nặng.
Lưu ý: liều lượng thuốc cần được hiệu chỉnh theo chức năng gan thận.
- PMN ≥ 250 tế bào/ microL: tiếp tục kháng sinh kinh nghiệm. Sử dụng kết quả nuôi cấy vi sinh dịch cổ trướng để hướng dẫn liệu pháp kháng sinh. Kết hợp với các điều trị bổ sung ở bệnh nhân xơ gan như: bổ sung Albumin, ...
- PMN < 250 tế bào/ microL: ngừng kháng sinh kinh nghiệm trừ khi có bằng chứng của nhiễm trùng khác. Đánh giá đối với các trường hợp khác.
- Nếu PMN < 250 tế bào/ microL: ngừng điều trị
- Nếu PMN lớn hơn giá trị trước điều trị: thực hiện tìm kiếm nguồn nhiễm trùng ngoại khoa (viêm phúc mạc thứ phát) và điều trị kết hợp với giải quyết căn nguyên.
- Nếu PMN còn cao nhưng nhỏ hơn giá trị trước điều trị: tiếp tục kháng sinh thêm 48 giờ và chọc dịch ổ bụng lặp lại.
Viêm phúc mạc thứ phát
Viêm phúc mạc thứ phát từ nhẹ đến nặng
Mức độ nhẹ:
- Amoxicillin/Clavulanate 1,2g mỗi 8 giờ x 5-7 ngày TM/TB hoặc
- Ceftriaxone 2g/ngày hoặc Cefoperazone 2g mỗi 12 giờ TTM + Metronidazole 500mg mỗi 8 giờ x 5-7 ngày hoặc
- Cefepime 2g TTM mỗi 8-12 giờ + Metronidazole 500mg mỗi 8 giờ x 5-7 ngày.
- Piperacillin/tazobactam 4,5g mỗi 6 giờ hoặc Ertapenem 1 g mỗi 24 giờ.
- Meropenem 1g mỗi 8 giờ hoặc Imipenem 500mg mỗi 6 giờ hoặc Doripenem 500mg mỗi 8 giờ truyền trong 1-3 giờ x 5-7 ngày.
Viêm phúc mạc thứ phát hoặc dai dẳng do nhiễm khuẩn bệnh viện
Meropenem 1g mỗi 8 giờ hoặc Imipenem 500mg mỗi 6 giờ, kết hợp với:
- + Vancomycin 15-20mg/kg/ mỗi 12 giờ hoặc Teicoplanin hoặc Daptomycin 4-6 mg/kg mỗi 24 giờ (nếu nghi nhiễm tự cầu vàng kháng methicillin - MRSA)
- + Colistin (nếu nhiễm A.baumannii hoặc các gram âm đa kháng thuốc).
- + Fluconazole 800mg, sau đó 400mg/ ngày (nếu nghi ngờ nhiễm nấm). Xem thêm: Nhiễm nấm xâm lấn trong ICU
Tài liệu tham khảo
- Sử dụng kháng sinh trong Hồi Sức Cấp Cứu 2017
- Spontaneous bacterial peritonitis in adults: Treatment and prophylaxis