GIỚI THIỆU
Bơm bóng đối xung trong động mạch chủ (Intra Aortic Balloon Pump - IABP) là phương tiện hỗ trợ tuần hoàn cơ học tạm thời, dựa trên cơ chế làm giảm hậu tải trong pha tâm thu, đồng thời nâng tăng tưới máu trong pha tâm trương cho thất trái. Nhờ đó, IABP góp phần cải thiện cung lượng tim, phân suất tống máu, tưới máu mạch vành, giảm sức căng thành thất trái và giảm áp lực thủy tĩnh mao mạch phổi.
Chủ đề được trích từ
phác đồ điều trị 2022 của Viện Tim TP.HCM
TỔNG QUAN
Lịch sử
- Năm 1959, Adrian Kantrowitz tiến hành thực nghiệm kích thích cơ hoành nhằm đạt mức tăng huyết áp tâm trương lên 25% trong mục tiêu cải thiện tưới máu mạch vành trên mô hình chó.
- Năm 1962, Moulopoulos và cộng sự sử dụng ống ca-tê-te polyethylene gắn bóng latex, bơm khí CO 2 , và hệ thống hoạt động dựa trên sóng R của điện tâm đồ.
- Năm 1971, Krakauer và cộng sự công bố kinh nghiệm áp dụng IABP cho 30 bệnh nhân sốc tim sau nhồi máu cơ tim không đáp ứng điều trị bằng thuốc; ghi nhận tỉ lệ ra khỏi sốc đạt 80% và tỉ lệ sống đến xuất viện là 45%.
Cơ chế hoạt động
Trong thời kỳ tâm trương, bóng được bơm lên trong đoạn động mạch chủ ngực, làm tăng huyết áp tâm trương lên hơn 30 mmHg, qua đó giúp gia tăng tưới máu mạch vành. Ở thời kỳ tâm thu, bóng xẹp xuống nhanh chóng, tạo điều kiện thuận lợi cho tâm thất tống máu ra khỏi tim (khoảng 20%).
Đường biểu diễn áp lực đo trong động mạch chủ khi bóng được bơm theo tỉ lệ 1:2
Chỉ định
Nhóm chỉ định có lợi ích rõ ràng
- Hội chứng giảm cung lượng tim nặng sau phẫu thuật tim hở.
- Hở van 2 lá nặng cấp tính.
- Nhồi máu cơ tim cấp gây thủng vách liên thất.
- Rối loạn nhịp thất kháng trị.
- Đau thắt ngực không ổn định trơ với điều trị nội khoa.
- Suy tim mất bù cần hỗ trợ để chuẩn bị ghép tim hoặc tim nhân tạo.
- Hỗ trợ bệnh nhân ECMO VA.
Bệnh nhân được can thiệp mạch vành qua da (PCI)
- Không áp dụng thường quy IABP cho tất cả bệnh nhân NMCT cấp biến chứng sốc tim. Nghiên cứu SHOCK II cho thấy ở nhóm bệnh nhân sốc tim do NMCT, IABP không làm giảm tử vong so với nhóm chứng; tỉ lệ tử vong trong 30 ngày khoảng 40%.
- Nên cân nhắc sử dụng IABP khi tiến hành can thiệp mạch vành qua da ở bệnh nhân hội chứng mạch vành cấp có huyết áp không ổn định hoặc sốc tim do biến chứng cơ học.
- Đối với bệnh nhân nguy cơ rất cao (can thiệp thân chung mạch vành trái, can thiệp chỉ còn một nhánh mạch vành duy nhất, tổn thương nặng nhiều nhánh mạch vành) kèm suy chức năng tâm thu thất trái nặng (phân suất tống máu < 35%) hoặc mới bị suy tim mất bù, có thể đặt IABP để sẵn phòng khi xuất hiện biến chứng hoặc sốc tim.
Nhóm chỉ định có lợi ích tương đối
- Hẹp khít van động mạch chủ mức độ nặng kèm còn bù.
- Hỗ trợ chu phẫu ở bệnh nhân bắc cầu chủ-vành nguy cơ cao.
- Bệnh nhân can thiệp mạch vành nguy cơ cao.
Nhóm chỉ định lợi ích chưa rõ ràng
- Nhiễm khuẩn huyết.
Chống chỉ định
Tuyệt đối
- Hở van động mạch chủ nặng.
- Bóc tách động mạch chủ.
Tương đối
- Bệnh lý động mạch đùi chậu (xơ vữa nặng).
- Phình động mạch chủ bụng.
- Đặt stent động mạch chậu.
- Mảnh ghép đùi-chậu.
- Bệnh rối loạn đông cầm máu.
TRANG BỊ CHUẨN BỊ ĐẶT BÓNG IABP
Bộ phận điều khiển
- Thiết bị vi tính có các cổng nối, có màn hình hiển thị và bàn điều khiển.
- Hiện nay có 2 hãng sản xuất chính là Datascope và Arrow.
- Thiết bị được sử dụng tại Viện Tim TP. HCM là model CS 100 và CS 300 (MAQUET).
Bộ phận điều khiển và bóng
Bóng
Đa số loại bóng là bóng 2 nòng: một nòng dùng để theo dõi huyết áp xâm lấn và một nòng dùng để bơm khí Helium. Một số hãng sản xuất sử dụng bóng có sợi quang nhằm theo dõi huyết áp và hỗ trợ hoạt động chính xác hơn. Các loại bóng thường dùng:
- 25 cm 3 cho bệnh nhân < 1,5 m.
- 34 cm 3 cho bệnh nhân 1,5-1,6 m.
- 40-50 cm 3 cho bệnh nhân từ 1,6-1,8 m.
Bình khí Helium gắn vào bộ phận điều khiển
Cáp huyết áp và transducer
KỸ THUẬT VÀ VẬN HÀNH
Chuẩn bị vùng động mạch đùi (trái hoặc phải)
- Sát khuẩn rộng vùng chích.
Dùng kỹ thuật Seldinger
- Tiến hành kỹ thuật Seldinger để đưa catheter vào động mạch đùi.
- Trong trường hợp khó thực hiện, có thể bộc lộ vùng động mạch đùi.
- Luồn nhẹ dây dẫn theo catheter vào động mạch đùi theo hướng đi lên quai động mạch chủ.
- Nếu có màn tăng sáng, sẽ xác định vị trí đầu dây dẫn một cách thuận lợi.
- Nếu không có màn tăng sáng, có thể ước chừng theo khoảng cách giữa đùi và khoảng ức sườn II.
Dùng bộ nong
- Dùng bộ nong để mở rộng vùng da và dưới da, chuẩn bị cho việc đặt Sheath/introducer. Thường sử dụng cỡ 7,5-8 F.
- Việc đưa Sheath vào sẽ giúp bảo vệ bóng khi đưa bóng lên vị trí cần thiết, đồng thời hạn chế chảy máu và giảm nguy cơ nhiễm khuẩn.
- Tuy nhiên, trong một số tình huống có bệnh lý mạch máu, nên cân nhắc dùng kỹ thuật không sheath nhằm giảm nguy cơ thiếu máu cục bộ chi dưới.
Đưa bóng còn nguyên lõi thép bên trong
- Đưa bóng còn nguyên lõi thép bên trong qua Sheath theo hướng dẫn của màn tăng sáng hoặc dựa vào khoảng cách ước chừng.
- Khi đầu bóng cách động mạch dưới đòn trái 1-2 cm, cố định bao bảo vệ thân bóng vào sheath.
- Rút dây thép ra khỏi nòng và theo dõi sự trào máu.
- Dùng syringe hút nhẹ máu ra khỏi nòng cho đến khi không còn bọt khí, sau đó nối với bộ phận dây dẫn theo dõi huyết áp đã đuổi khí.
- Chỉnh Zero và tiến hành theo dõi huyết áp xâm lấn trực tiếp trong động mạch chủ ngực.
- Nối nòng dẫn khí vào cổng khí helium qua dây dẫn vô khuẩn.
Vận hành
- Các máy IABP hiện nay có hệ thống xử lý tốt trong canh chỉnh thời gian xả bóng và bơm bóng, do đó việc vận hành nhìn chung thuận lợi.
- Có thể điều chỉnh hoàn toàn tự động, bán tự động hoặc theo ý riêng.
- Có thể sử dụng các nguồn tín hiệu từ ECG, huyết áp, máy tạo nhịp ...
- Trong quá trình vận hành: theo dõi tưới máu mỗi giờ; kiểm tra aPTT mỗi 12 giờ và chỉnh liều heparin không phân đoạn truyền tĩnh mạch để đạt aPTT từ 1,5 đến 2 lần chứng; theo dõi công thức máu (bao gồm số lượng tiểu cầu) mỗi ngày.
- Khi huyết động bệnh nhân cải thiện, tiến hành cai bóng trong 1-2 ngày tùy từng trường hợp. Khi rút bóng cần chú ý chèn chỗ chích động mạch đùi đủ thời gian.
Một số sai sót khi điều chỉnh
Đường biểu diễn áp lực trong động mạch chủ (bơm bóng theo tỷ lệ 1:2) khi bóng được bơm sớm, bơm trễ, xả sớm hoặc xả trễ.
Trên hình là đường biểu diễn áp lực trong động mạch chủ khi bóng được bơm sớm, bơm trễ, xả sớm hoặc xả trễ. Tất cả các sai sót này đều làm giảm hiệu quả hỗ trợ huyết động của iabp.
BIẾN CHỨNG VÀ TAI BIẾN
Tùy thuộc vào tuổi (nguy cơ tăng khi tuổi > 75), giới (nữ nguy cơ cao hơn) và bệnh lý mạch máu kèm theo.
Chảy máu, tán huyết, giảm tiểu cầu
- Tùy theo mục đích điều trị, duy trì Hb tối thiểu 8 g/dL và tiểu cầu > 100.000/mm3
Thiếu máu cục bộ chi
- Bàn chân lạnh, đổi màu, mạch mu chân nhỏ khó bắt, mất mạch.
Nhiễm khuẩn huyết, huyết khối, thuyên tắc mạch máu não
Đặt nhầm vào tĩnh mạch đùi
- Đặt mù cho bệnh nhân cấp cứu.
Thất bại khi đặt bóng
- Giải phẫu bất thường, rách bóng.
Tử vong liên quan đến IABP
- Rất thấp 0,05%.
Tài liệu tham khảo
- Thiele H, Zeymer U, Neumann FJ, et al, for the IABP-SHOCK II Trial Investigators. Intraaortic Balloon Support for Myocardial Infarction with Cardiogenic Shock. N Engl J Med 2012; 367:1287-1296.
- Werdan K, Gielen S, Ebelt H, et al.Mechanical circulatory support in cardiogenic shock. European Heart Journal 2014;35:156–167.
- Pilarczyk K, Boening A, Jakob H, et al. Preoperative intra-aortic counterpulsation in high-risk patients undergoing cardiac surgery: a meta-analysis of randomized controlled trials†. Eur J Cardiothorac Surg 2016;49:5-17
- Ryan EW, Foster E. Images in cardiovascular medicine. Augmentation of coronary blood flow with intra-aortic balloon pump counter-pulsation. Circulation 2000;102:364-5
- Rihal CS, Naidu SS, Givertz MM, Wilson Y. 2015 SCAI/ACC/HFSA/STS Clinical Expert Consensus Statement on the Use of Percutaneous Mechanical Circulatory Support Devices in Cardiovascular Care. JACC 2015;65.