Tăng Magie máu

Post key: 8968bfc3-c840-5d1a-800f-47fa44eccefb
Slug: tang-magie-mau
Excerpt: Tăng magie máu: thường chỉ gặp khi có dùng magie ngoại sinh hoặc suy thận. Thận duy trì Mg2+ huyết tương trong khoảng 0,7–1,1 mmol/L; đa số trường hợp tăng nhẹ không có triệu chứng. Khi Mg2+ > 4 mEq/L (≈2 mmol/L) có thể xuất hiện rối loạn thần kinh cơ (giảm phản xạ là dấu hiệu sớm), yếu cơ, lờ đờ đến liệt cơ; có thể tiến triển suy hô hấp do ảnh hưởng cơ hoành. Biểu hiện tim mạch gồm hạ huyết áp, nhịp chậm và nguy cơ block tim/ngừng tim; ECG có thể kéo dài PR/QRS/QT ở mức trung bình. Tăng magie nặng có thể gây vô tâm thu hoặc block tim hoàn toàn; cũng có thể gây hạ calci máu thoáng qua do ức chế PTH. Chẩn đoán và xử trí dựa trên triệu chứng, mức magie và chức năng thận. Điều trị ưu tiên bảo vệ tim–thần kinh cơ: ngừng magie ngoại sinh; theo dõi sát. Nếu bệnh nhân có triệu chứng (đặc biệt thần kinh cơ hoặc tim mạch), tiêm tĩnh mạch canxi gluconate để đối kháng tác dụng của magie lên tim và thần kinh cơ (liều thường 100–200 mg canxi nguyên tố tương đương 1–2 g calcium gluconate trong 5–10 phút), đồng thời cân nhắc truyền dịch đẳng trương và thuốc lợi tiểu quai (trừ khi vô niệu) trong lúc chuẩn bị xử trí. Chiến lược loại bỏ magie phụ thuộc mức suy thận: - Chức năng thận bình thường: ngừng magie giúp hồi phục nhanh; có thể dùng lợi tiểu quai (hoặc thiazide) để tăng thải qua thận. - Suy thận mức độ trung bình hoặc AKI nhẹ: ngừng magie và điều trị nội khoa bằng truyền dịch đẳng trương + lợi tiểu quai; nếu không cải thiện hoặc có triệu chứng nặng (liệt cơ, ngủ gà/hôn mê, nhịp chậm/ECG bất thường/hạ huyết áp) thì cần lọc máu. - Suy thận nặng/AKI trung bình–nặng: thường cần lọc máu; thẩm tách máu hoặc lọc màng bụng có thể làm giảm magie trong 2–4 giờ. Thay máu có thể hiệu quả ở trẻ sơ sinh.
Recognized tags: dieu-tri, cap-cuu, xet-nghiem

GIỚI THIỆU

Thận có khả năng bài tiết dư thừa magie để giữ nồng độ magie máu (huyết tương) ở trong giới hạn tương đối hẹp khoảng 0,7 đến 1,1 mmol/L; vì vậy, tăng magie máu thường chỉ xuất hiện khi có sử dụng magie ngoại sinh hoặc khi suy thận.
  • Khi tăng nhẹ, nồng độ magie máu thường chỉ ở mức < 3 mEq/L (3,6 mg/dL hoặc 1,5 mmol/L) và bệnh nhân không có triệu chứng.
  • Ngược lại, biểu hiện lâm sàng có thể xuất hiện khi nồng độ magie máu vượt quá 4 mEq/L (4,8 mg/dL hoặc 2 mmol/L).

TRIỆU CHỨNG

  • Triệu chứng lâm sàng thường chỉ rõ khi [Mg 2+] trong huyết thanh > 4 mEq/L (> 4.8 mg/dL hoặc > 2 mmol/L); khi đó bệnh nhân có biểu hiện thần kinh cơ bao gồm giảm phản xạ (thường là dấu hiệu sớm của ngộ độc magie), yếu cơ và có thể tiến triển đến lờ đờ, ngủ gà và liệt cơ.
  • Do sự tham gia của cơ hoành, tình trạng này có thể dẫn đến suy hô hấp.
  • Các biểu hiện tim mạch gồm hạ huyết áp, nhịp tim chậm và ngừng tim.
  • Nhịp tim chậm và hạ huyết áp có thể xuất hiện khi [Mg] máu > 4-5 mEq/L (4.8-6 mg/dL hoặc 2-2.5 mmol/L).
  • Điện tâm đồ có thể ghi nhận các khoảng PR, QRS và QT kéo dài khi mức magie từ 5 đến 10 mEq/L (6-9 mg/dl hoặc 2.5-5 mmol/L).
  • Với tăng magie nặng hơn > 15 mEq/L (> 18 mg/dL hoặc > 7.5 mmol/L), có thể xảy ra block tim hoàn toàn hoặc vô tâm thu.
  • Tăng magie máu có thể ức chế bài tiết hormon tuyến cận giáp (PTH), từ đó gây hạ calci máu thoáng qua.
  • Ngoài các biểu hiện đặc hiệu, tăng magie máu còn có thể gây triệu chứng không đặc hiệu như: buồn nôn, nôn, và da đỏ bừng.

CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ

Sơ đồ dưới đây tóm tắt sự khác biệt về chẩn đoán nguyên nhân của tăng magie máu. Điều trị nhằm vào các biểu hiện tại tim, trong đó dùng canxi gluconate để ổn định cơ tim. Nên ngừng magie ngoại sinh và có thể phải cân nhắc lọc máu khi tình trạng suy thận không đảo ngược.
Sơ đồ tiếp cận đánh giá và điều trị tăng Magie máu
Sơ đồ tiếp cận đánh giá và điều trị tăng Magie máu

Điều trị

Đa số trường hợp tăng magie máu có triệu chứng có thể được ngăn ngừa bằng cách dự đoán trước nguy cơ. Bệnh nhân suy thận không nên sử dụng thuốc có chứa magie; những bệnh nhân đang dùng magie qua đường tiêm truyền vì bất kỳ lý do nào cần được theo dõi tối thiểu hàng ngày và có thể thường xuyên hơn tùy thuộc vào lượng magie truyền vào và lịch dùng thuốc. Phác đồ điều trị phụ thuộc vào chức năng thận, nồng độ magie và mức độ biểu hiện lâm sàng:
  1. Nếu chức năng thận bình thường: việc ngừng điều trị bằng magie sẽ giúp mức magie trở về bình thường nhanh chóng. Đồng thời có thể sử dụng thuốc lợi tiểu quai (hoặc thậm chí thiazide) để tăng bài tiết magie qua thận.
  2. Suy thận mức độ trung bình: khả năng thải magie qua thận bị hạn chế ở những bệnh nhân suy giảm chức năng thận mức độ trung bình, ví dụ bệnh thận mãn tính (CKD) với eGFR trong khoảng từ 15 đến 45 mL/phút/1,73 m2 da và/hoặc tổn thương thận cấp (AKI) mức độ nhẹ, đặc biệt khi nồng độ creatinine huyết thanh tăng dần. Trong phần lớn tình huống, điều trị ban đầu bao gồm ngừng các thuốc chứa magie và truyền dịch đẳng trương tĩnh mạch (ví dụ nước muối sinh lý) kết hợp lợi tiểu quai (ví dụ furosemide). Có thể cần liều lợi tiểu cao hơn do người bệnh có GFR giảm. Nếu các biện pháp trên không cải thiện nồng độ magie máu, cần cân nhắc lọc máu, đặc biệt khi có biểu hiện thần kinh nghiêm trọng (ví dụ liệt cơ, ngủ gà, hôn mê) hoặc các biểu hiện tim mạch (ví dụ nhịp tim chậm, bất thường trên ECG, hạ huyết áp).
  3. Suy thận nặng: lọc máu thường được chỉ định ở bệnh nhân tăng magie máu nặng hoặc có triệu chứng kèm bệnh thận mạn tiến triển (eGFR < 15 mL/phút/1,73 m2 da hoặc lọc máu mạn tính định kỳ) và ở bệnh nhân AKI từ trung bình đến nặng. Thẩm tách máu với tốc độ dòng cao hơn và thẩm phân phúc mạc (lọc màng bụng) có thể làm giảm nồng độ magie xuống mức không còn gây độc trong vòng 2 - 4 giờ. Thay máu có hiệu quả trong trường hợp tăng magie máu ở trẻ sơ sinh. Vì quá trình chuẩn bị cho thẩm tách máu (chạy thận nhân tạo) thường mất khoảng 1 giờ hoặc lâu hơn, bệnh nhân tăng magie máu có triệu chứng nên được tiêm tĩnh mạch canxi như một chất đối kháng magie để đảo ngược tác động lên thần kinh cơ và tim. Liều thường dùng là 100 đến 200 mg canxi nguyên tố (tương đương khoảng 1 - 2 g calcium gluconate) trong 5 đến 10 phút. Trừ khi bệnh nhân vô niệu, nên đồng thời bắt đầu điều trị nội khoa bằng truyền dịch tĩnh mạch và thuốc lợi tiểu quai, đặc biệt trong các trường hợp nặng hoặc có triệu chứng, trong giai đoạn chờ lọc máu.

Tài liệu tham khảo

  1. Hypermagnesemia. Electrolyte Abnormalities. Critical Care 2018
  2. Hypermagnesemia: Causes, symptoms, and treatment. Uptodate 2023