GIỚI THIỆU
TỔNG QUAN
Khái niệm
- Phình động mạch não (còn gọi là phình mạch não) là tình trạng tại một vị trí của động mạch não xuất hiện khối phình/dãn to do nhiều nguyên nhân khác nhau.
- Phình động mạch não chưa vỡ (UIAs = Unruptured Intracranial Aneurysms) là bệnh lý thường gặp, biểu hiện ở trạng thái không triệu chứng hoặc có triệu chứng do khối phình chèn ép các cấu trúc xung quanh.
Nguyên nhân
- Bệnh thận đa nang di truyền trội trên nhiễm sắc thể thường
- Loạn sản xơ cơ
- Hội chứng Osler-Weber-Rendu
- Hội chứng Marfan
- Moya Moya
- Rối loạn collagen loại III
- Nhiễm khuẩn…
CHẨN ĐOÁN
Lâm sàng
- Đau đầu: thường không đặc hiệu và không rõ ràng, chủ yếu là đau nhức sau hốc mắt. Đặc biệt, các trường hợp phình lóc tách tự nhiên hoặc do chấn thương kín, nhất là ở giai đoạn doạ vỡ, thường gây đau đầu liên tục và theo cơn, và không thể giảm đau bằng điều trị nội khoa.
-
Chèn ép dây thần kinh sọ não:
- Phình động mạch thông trước kích thước lớn có thể gây chèn ép dây thần kinh số II, dẫn đến giảm dần hoặc thậm chí mất thị lực 1 bên hoặc 2 bên.
- Phình động mạch thông sau khi chèn ép dây thần kinh số III có thể gây sụp mi và giãn đồng tử cùng bên. Biểu hiện này phản ánh túi phình tăng kích thước và tăng áp lực trong lòng túi, đe doạ vỡ gây chảy máu dưới nhện.
- Phình lớn của động mạch cảnh trong đoạn xoang hang có thể gây liệt vận nhãn do chèn ép các dây thần kinh số III, IV và VI, hoặc gây đau nửa mặt do chèn ép dây thần kinh số V.
- Phình lớn của động mạch đốt sống thân nền chèn ép các dây thần kinh IX, X, XI gây rối loạn nuốt …
- Chèn ép nhu mô não: phình động mạch khổng lồ có thể chèn ép nhu mô não, gây ra các triệu chứng thần kinh khu trú.
Cận lâm sàng
Chụp cắt lớp vi tính sọ não và mạch máu não (CTA)
- Các dấu hiệu gián tiếp của phình kích thước lớn và phình khổng lồ: có thể quan sát thấy hình ảnh vôi hóa thành túi phình, huyết khối bám thành túi phình khổng lồ hoặc khuyết mòn xương nền sọ. Phù nề xung quanh và phản ứng viêm có thể được ghi nhận khi sử dụng thuốc cản quang sau chụp không cản quang.
- Dấu hiệu trực tiếp của phình mạch trên CTA cản quang động mạch não: có thể phát hiện phình động mạch 1-2 mm, đồng thời cung cấp đánh giá chi tiết về đặc điểm hình thái giải phẫu và mối liên quan với mạch chính, cũng như chiều rộng cổ túi phình. CTA có khả năng phát hiện hơn 95% phình động mạch được xác định trên chụp động mạch thông thường. CTA có thể vượt trội so với MRA.
Chụp cộng hưởng từ sọ não và mạch máu não (MRA)
- Thành phình mạch có thể biểu hiện cường độ tín hiệu không đồng nhất do huyết khối ở các nhóm tuổi khác nhau, mặc dù MRI tương đối kém nhạy trong trường hợp thành túi phình bị canxi hoá.
- Phình động mạch giãn gập khúc và phình động mạch khổng lồ thường được xác định dễ dàng trên MRI. Sự hiện diện của dòng chảy rối có thể hỗ trợ phân biệt các phình dạng này với các tổn thương dạng khối khác; tuy nhiên dòng chảy chậm và hỗn loạn có thể gây cản trở hình ảnh trên MRA.
- MRA có thể cung cấp hình ảnh 3 chiều đáng tin cậy về các phình động mạch não từ 3-4 mm trở lên.
- MRA sử dụng đối quang từ có thể nhận diện các dạng dòng chảy và dòng chảy chậm. Trong khi MRA đối quang từ phù hợp hơn với phình kích thước lớn, kỹ thuật thời gian bay 3 chiều (TOF 3D) thích hợp hơn đối với phình mạch nhỏ.
Chụp mạch não số hoá xoá nền (DSA)
- Đây là tiêu chuẩn vàng trong chẩn đoán phình động mạch não cũng như trong chẩn đoán các bệnh lý mạch máu não nói chung.
- DSA phối hợp chụp xoay và tái tạo 3 chiều có giá trị xác định và mô tả chi tiết đặc điểm phình động mạch não, bao gồm số lượng, vị trí, kích thước và hình thái.
- Thực hiện chụp 4 nhánh động mạch thuộc hệ cảnh trong và hệ sống nền để xác định đầy đủ và không bỏ sót phình ở nhiều vị trí.
- DSA có khả năng loại trừ hình ảnh dương tính giả về phình mạch trên CTA và MRA, đồng thời phát hiện các phình mạch không được xác nhận trên CTA và MRA (âm tính giả).
Chẩn đoán xác định
- Chẩn đoán xác định người bệnh bị phình động mạch não chưa vỡ dựa trên lâm sàng gợi ý và hình ảnh học. Triệu chứng lâm sàng (nếu có) chỉ mang tính gợi ý và chỉ có thể xác định chẩn đoán bằng phương tiện hình ảnh.
- Hình ảnh mạch máu trên MRA và CTA có độ tin cậy cao với các phình kích thước từ 5 mm trở lên; tuy nhiên với các phình nhỏ hơn có thể bỏ sót hoặc đánh giá không đầy đủ chi tiết.
- Hình ảnh mạch máu DSA phối hợp chụp xoay và tái tạo 3 chiều là tiêu chuẩn vàng chẩn đoán xác định phình động mạch não chưa vỡ.
Phân loại
Phân loại theo vị trí
- Thuộc hệ cảnh trong hoặc hệ đốt sống thân nền
- Động mạch cảnh trong đoạn xoang hang, đoạn mắt, đoạn thông sau, màng mạch, đoạn tận
- Động mạch não trước, thông trước, quanh chai hoặc chai bờ
- Động mạch não giữa
- Động mạch đốt sống đoạn cuối, thân nền, não sau
Phân loại theo kích thước
- Phình động mạch não kích thước nhỏ < 5 mm
- Phình động mạch não kích thước trung bình 5-10mm
- Phình động mạch não kích thước lớn 10,1-25 mm
- Phình động mạch não khổng lồ > 25 mm
Phân loại theo hình thái
- Phình hình túi (sacular aneurysm)
- Phình hình thoi (fusiform aneurysm)
- Phình lóc tách (dissection aneurysm)
- Phình giả (false/pseudo aneurysm)
- Phình giãn gập khúc (dolichoectatic aneurysm)
Phân loại theo cổ túi
- Phình mạch cổ rộng: đường kính cổ túi > 4 mm và/hoặc tỷ lệ đường kính thân túi/đường kính cổ túi < 2.
Phân loại theo vị trí tương quan với động mạch chính
- Phình thành bên (side wall aneurysm)
- Phình ngã ba (bifurcation aneurysm)
Chẩn đoán phân biệt
- Khi đã có hình ảnh DSA và tái tạo 3 chiều thì có thể khẳng định chẩn đoán phình động mạch não chưa vỡ.
- Khi chỉ có hình ảnh MRA và/hoặc CTA, cần phân biệt với các cấu trúc giả phình động mạch như gốc các nhánh mạch lớn (gốc nhánh thông sau, gốc động mạch mắt…), hoặc các hình ảnh gập khúc/cuộn tròn (loop) của động mạch.
NGUYÊN TẮC VÀ MỤC TIÊU ĐIỀU TRỊ
Nguyên tắc chung
- Ưu tiên tuyệt đối bảo đảm an toàn tính mạng, đồng thời hạn chế tối đa các rủi ro liên quan đến phương pháp điều trị phình động mạch não.
- Đảm bảo hiệu quả tối ưu ngay sau điều trị cũng như trong ngắn hạn và dài hạn, trong việc ngăn ngừa và dự phòng các biến cố chảy máu do vỡ phình động mạch não; đồng thời hạn chế tối đa tình trạng tái phát phải điều trị lại hoặc cần điều trị bổ sung.
Mục tiêu điều trị
- Đối với người bệnh có nguy cơ cao vỡ hoặc doạ vỡ: cần điều trị sớm nhằm ngăn chặn ngay biến cố chảy máu do vỡ phình động mạch não.
- Đối với người bệnh có túi phình kích thước lớn gây đau đầu và/hoặc chèn ép thần kinh sọ (dây II, III, IV, VI): mục tiêu điều trị là làm giảm và triệt tiêu các triệu chứng hiện tại; sau đó, như một hệ quả tất yếu, nhằm dự phòng biến cố vỡ phình gây chảy máu khoang dưới nhện.
ĐIỀU TRỊ NỘI KHOA
- Điều trị nội khoa chủ yếu nhằm xử trí các yếu tố nguy cơ có thể làm tăng nguy cơ vỡ túi phình, như tăng huyết áp, bệnh phổi phế quản…
- Đối với phình động mạch não chưa vỡ do nhiễm trùng, điều trị kháng sinh và chống viêm là cần thiết, đồng thời phải phối hợp với can thiệp nội mạch sớm để loại trừ túi phình động mạch vì nguy cơ chảy máu rất cao.
ĐIỀU TRỊ TRIỆT ĐỂ
Chỉ định và chống chỉ định
Chỉ định
Chỉ định điều trị triệt để phình động mạch não chưa vỡ cho người bệnh thuộc một trong các tình huống lâm sàng sau:
- Phình động mạch não có dấu hiệu doạ vỡ: đau đầu bất thường, kéo dài nhiều ngày, có thể liên tục hoặc từng cơn; phù hợp với hình ảnh CTA, MRA và/hoặc DSA có phình mạch với hình thái dễ vỡ, đặc biệt các phình mạch bóc tách ở đoạn cuối V4 của động mạch đốt sống.
- Phình động mạch não có triệu chứng: chèn ép dây thần kinh sọ và gây đau đầu dai dẳng.
- Phình động mạch não tiến triển: tăng kích thước và thay đổi hình thái trong quá trình theo dõi.
- Phình động mạch não ổn định, không triệu chứng: phình ở các vị trí hay bị vỡ như động mạch thông trước (AcomA), động mạch cảnh trong đoạn thông sau (PcomA), đoạn màng mạch trước (AChoA), đoạn cạnh và trên mấu giường (Para/Supraclinoid), ngã ba não giữa (MCA bifurcation), đoạn cuối V4 động mạch đốt sống, đỉnh thân nền (Basilar tip).
Nguyên tắc chung khi chỉ định điều trị triệt để cho người bệnh phình động mạch não chưa vỡ là tiên lượng nguy cơ tai biến do can thiệp thấp hơn nguy cơ xuất huyết tự nhiên do vỡ phình mạch.
Chống chỉ định
- Chống chỉ định tương đối trong trường hợp tình trạng toàn thân nặng, có nhiều bệnh phối hợp, suy tim, suy gan, suy thận, nhiễm trùng… hoặc khi tổn thương phình động mạch não quá phức tạp, vượt quá khả năng điều trị thực tế.
Các phương pháp điều trị triệt để
Hiện nay có 2 phương pháp điều trị triệt để phình động mạch não là phẫu thuật và can thiệp nội mạch.
Điều trị phẫu thuật
Phẫu thuật là phương pháp kinh điển nhất trong điều trị phình động mạch não, áp dụng cho cả trường hợp chưa vỡ và đã vỡ.
Trong phình động mạch não chưa vỡ, phẫu thuật điều trị bao gồm các kỹ thuật sau:
- Kẹp túi phình bằng clips (clipping): là phương pháp phổ biến nhất, được chỉ định cho phần lớn người bệnh có tổn thương phình động mạch não.
- Kẹp động mạch chính (parent artery) trước - sau túi phình và cầu nối ngoài sọ - trong sọ (EC-IC bypass) vượt qua túi phình: chỉ định cho các trường hợp phình khổng lồ động mạch cảnh trong đoạn nền sọ.
Phẫu thuật kẹp túi phình bằng clips được thực hiện dưới gây mê nội khí quản; kiểm soát huyết áp chủ động trong mổ. Phẫu thuật viên đặt tư thế đầu người bệnh và chọn đường mở hộp sọ phù hợp với từng vị trí của túi phình cụ thể. Sử dụng kính hiển vi phẫu thuật và các dụng cụ vi phẫu thuật mạch máu não để bộc lộ cổ túi phình hoặc toàn bộ thân phình mạch hình thoi; cuối cùng sử dụng 1 hoặc nhiều clip để kẹp túi phình tại cổ, ngăn chặn dòng máu từ động mạch chính vào túi phình và loại trừ phình mạch ra khỏi tuần hoàn não.
Phẫu thuật kẹp clip động mạch chính để loại bỏ túi phình trước và sau cổ túi, đồng thời làm cầu nối ngoài sọ và trong sọ là phương pháp khó khăn, phức tạp hơn. Cần thực hiện tốt miệng nối trong sọ, mà thông thường là nhánh động mạch thái dương nông nối tận bên với động mạch não giữa đoạn M2-M3.
Điều trị can thiệp nội mạch
Can thiệp nội mạch là phương pháp hiện đại, có thể điều trị triệt để phình động mạch não chưa vỡ và đã vỡ.
Các hình thái kỹ thuật của can thiệp nội mạch điều trị phình động mạch não chưa vỡ bao gồm:
- Nút túi phình bằng vòng xoắn kim loại đơn thuần, sử dụng 1 hoặc 2 ống thông: hình thái cơ bản và kinh điển nhất của phương pháp can thiệp nội mạch điều trị phình động mạch não.
- Nút túi phình bằng vòng xoắn kim loại có bóng chèn cổ túi (balloon remodeling technique): được chỉ định cho túi phình cổ rộng.
- Nút túi phình bằng vòng xoắn kim loại có stent hỗ trợ (stent assisted coiling): được chỉ định cho túi phình cổ rộng hoặc hình thoi.
- Nút túi phình bằng vòng xoắn kim loại đồng thời phá huỷ động mạch chính (parent artery obliteration): thường chỉ định cho phình hình thoi và lóc tách động mạch đốt sống đoạn V4.
- Phá huỷ động mạch chính cùng túi phồng khổng lồ (parent artery proximal obliteration): chỉ định túi phình khổng lồ động mạch cảnh trong với điều kiện nhánh thông trước và thông sau hoạt động tốt. Kỹ thuật này sử dụng bóng latex được gắn trên ống thông để làm tắc động mạch chính ngay trước cổ túi phình.
- Triệt tiêu túi phình bằng stent chuyển hướng dòng chảy (flow diverter stent), có hoặc không kèm theo nút hỗ trợ bằng vòng xoắn kim loại (coils assisted flow diverter stenting).
Hình 3. Các hình thái kỹ thuật cơ bản của phương pháp can thiệp nội mạch điều trị phình động mạch não: nút túi phình bằng vòng xoắn kim loại đơn thuần, có bóng chèn cổ túi và có stent hỗ trợ.
Hình 4. Kỹ thuật nút phình hình thoi, lóc tách đồng thời phá huỷ đoạn cuối V4 đốt sống (1a); dòng máu vào động mạch thân nền qua động mạch đốt sống bên đối diện (1b) ở người bệnh tại Bệnh viện TƯQĐ 108
Hình 5. Kỹ thuật phá huỷ động mạch chính mang túi phình khổng lồ bằng bóng người bệnh tại Bệnh viện TƯQĐ 108
Theo dõi sau can thiệp
- Trong 24 giờ đầu sau can thiệp: cần theo dõi tình trạng ý thức, các triệu chứng thần kinh khu trú, huyết động, hô hấp và vị trí chọc động mạch.
- Các tai biến/biến chứng có thể xảy ra trong và sau can thiệp gồm: chảy máu não, huyết khối cấp gây nhồi máu não, chảy máu tại vị trí chọc động mạch, dị ứng thuốc cản quang, nhiễm khuẩn …
- Điều trị nội khoa sau can thiệp: kiểm soát huyết áp, giảm đau, an thần khi cần thiết, và đối với các trường hợp đặt stent chuyển dòng hoặc stent hỗ trợ nút phình bằng vòng xoắn kim loại thì phải duy trì thuốc chống kết tập tiểu cầu. Dùng các dung dịch đẳng trương như nước muối sinh lý để giảm thiểu phù não.
- Điều trị hoặc dự phòng co giật, chống nhiễm trùng đường tiết niệu, phòng ngừa huyết khối tĩnh mạch, dự phòng viêm loét dạ dày.
- Chụp lại CT não hoặc CTA/MRA mạch máu não ngay khi có hoặc nghi ngờ có triệu chứng thần kinh bất thường.
- Băng ép và bất động bên chân có vị trí chọc động mạch trong 6-8 giờ, sau đó tháo băng ép khi đã bảo đảm an toàn cầm máu.
- Giả phình động mạch muộn sau can thiệp 1-2 tuần tại vị trí chọc động mạch cần được theo dõi bằng siêu âm Doppler; có thể xử trí bằng băng ép lại hoặc hội chẩn chuyên khoa phẫu thuật mạch máu khi cần.
QUẢN LÝ BỆNH (TÁI KHÁM) NGƯỜI BỆNH PHÌNH ĐỘNG MẠCH NÃO CHƯA VỠ
Theo dõi định kỳ và khám lại
- Lâm sàng: theo dõi các triệu chứng cơ năng như đau đầu, hoa mắt chóng mặt, các hoạt động tư duy và thể chất hàng ngày, triệu chứng thần kinh khu trú… Thông thường kiểm tra lần đầu sau can thiệp hoặc phẫu thuật 1 tháng. Sau đó, theo dõi lâu dài định kỳ 6 tháng đến 1 năm một lần.
- Hình ảnh: đánh giá kết quả ngắn hạn sau 1 tháng và theo dõi dài hạn sau 1 năm hoặc xa hơn nữa nhằm xác định tình trạng túi phình đã được loại trừ hoàn toàn khỏi tuần hoàn não hay còn tồn dư/tái thông hoặc tiến triển cổ túi phình. Phương pháp chẩn đoán hình ảnh thường được sử dụng nhiều nhất là cộng hưởng từ mạch máu não (1.5-3.0 Tesla). Khi có nghi ngờ, cần chỉ định chụp mạch não để xác định.
Can thiệp lại hoặc bổ sung
- Can thiệp lại: thực hiện khi còn tồn dư hoặc tái thông trong lòng túi phình trong quá trình theo dõi.
- Can thiệp bổ sung: thực hiện khi chưa nút kín hoàn toàn túi phình từ lần đầu, hoặc còn túi phình khác chưa can thiệp/phẫu thuật, hoặc phát sinh tổn thương phình mạch mới (denovo aneurysms),….
TIẾN TRIỂN VÀ BIẾN CHỨNG
Tiến triển
- Bệnh phình động mạch não có xu hướng tiến triển theo thời gian, tuy nhiên mức độ tiến triển không đồng nhất giữa các cá thể, cả về tốc độ lẫn hình thái.
-
Các phình động mạch não chưa vỡ có thể diễn tiến theo 4 hướng sau đây:
- Không thay đổi hình thái và kích thước đáng kể trong thời gian dài; không có triệu chứng trong suốt cuộc đời người bệnh.
- Tăng dần về kích thước, không bị vỡ, nhưng gây chèn ép các dây thần kinh sọ và cấu trúc nhu mô não.
- Tăng dần kích thước, thay đổi hình thái và vỡ gây chảy máu khoang dưới nhện, nhu mô não, não thất.
- Kích thước tăng không đáng kể, nhưng vỡ gây chảy máu khoang dưới nhện.
Biến chứng
- Biến chứng là tình trạng túi phình bị vỡ gây chảy máu dưới nhện. Phần lớn người bệnh bị vỡ phình động mạch não đều không biết đã có túi phình.
Tiên lượng
Khi phát hiện người bệnh có tổn thương phình động mạch não chưa vỡ, cần phân tích tổng hợp các yếu tố cụ thể của người bệnh để tiên lượng nguy cơ. Trong thực hành lâm sàng, có thể sử dụng thang điểm PHASES để dự đoán nguy cơ vỡ phình động mạch não trong 5 năm và đưa ra thái độ xử trí phù hợp.
Tổng điểm thấp nhất là 0, cao nhất là 22. Mỗi điểm tương ứng với 1 tỷ lệ bị vỡ trong 5 năm. Ví dụ: tỷ lệ vỡ trong 5 năm là 0,4% với PHASES 0 điểm, là 2,5% với PHASE 7 điểm, 17,8% nếu PHASES 22 điểm … (cần sử dụng phần mềm online để tính điểm và nhận kết quả tiên lượng tự động).
PHÒNG BỆNH
- Hiện tại chưa có phương pháp dự phòng để tránh mắc bệnh. Khám và sàng lọc bằng các phương pháp chẩn đoán hình ảnh không xâm lấn (cắt lớp vi tính mạch máu não và cộng hưởng từ mạch máu não) có vai trò rất quan trọng, nên chỉ định cho những người có tiền sử gia đình bị phình mạch não đã vỡ hoặc chưa vỡ.
- Cần điều trị dự phòng để hạn chế các yếu tố làm tăng nguy cơ gây vỡ phình mạch não như tăng huyết áp, bệnh hô hấp gây khó thở hoặc ho nhiều, tránh gắng sức và sử dụng các chất rượu bia gây tăng huyết …
Tài liệu tham khảo
- Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị đột quỵ não. 3312/QĐ-BYT 05/11/2024