Bệnh thận mạn: Điều trị bảo tồn chức năng thận

Post key: 8b25a1db-f1a6-59c8-a480-ac7cb2ea1ac1
Slug: benh-than-man-đieu-tri-bao-ton-chuc-nang-than
Excerpt: Bệnh thận mạn (BTM) không phải mọi người đều tiến triển đến giai đoạn cuối; tuy nhiên BTM làm tăng nguy cơ tử vong do biến cố tim mạch và các biến chứng như thiếu máu, suy dinh dưỡng, rối loạn xương-khoáng. Hướng dẫn điều trị bảo tồn toàn diện tập trung: (1) làm chậm tiến triển đến giai đoạn cuối; (2) điều trị biến chứng và kiểm soát yếu tố nguy cơ tim mạch ở mọi giai đoạn; (3) phòng ngừa. Nội dung bao gồm các nguyên tắc không dùng thuốc (tập luyện phù hợp, cai thuốc lá, hạn chế rượu bia, kiểm soát cân nặng, can thiệp chế độ ăn hạn chế muối và protein theo giai đoạn) và các chiến lược dùng thuốc chủ lực để làm chậm BTM (ức chế RAS/RAAS, SGLT2i, cân nhắc MRA, GLP-1 RA). Đồng thời trình bày mục tiêu và cách kiểm soát các vấn đề thường gặp trên BTM như huyết áp, thiếu máu (bù sắt, ESAs, truyền máu), rối loạn đường máu (đặc biệt ở ĐTĐ type 2), rối loạn lipid máu, tăng acid uric, tăng kali máu, toan chuyển hoá, và CKD-MBD (chẩn đoán bằng xét nghiệm/vai trò sinh thiết, quản lý canxi–phosphate–PTH bằng ăn kiêng và thuốc gắn phosphate, bổ sung vitamin D/Calcitriol, cinacalcet, và chỉ định phẫu thuật cắt tuyến cận giáp). Tài liệu tham khảo: Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh thận mạn và một số bệnh lý thận (Số 2388/QĐ-BYT, 12/08/2024, Bộ Y Tế).
Recognized tags: dieu-tri, chan-doan, du-phong, bo-y-te, dieu-chinh-lieu

GIỚI THIỆU

Trong quản lý bảo tồn thận toàn diện, cần nhấn mạnh rằng không phải tất cả bệnh nhân (BN) mắc bệnh thận mạn (BTM) đều sẽ tiến triển đến giai đoạn cuối. BTM là yếu tố nguy cơ cao nhất của bệnh lý tim mạch (không phân biệt BN có hay không các yếu tố nguy cơ tim mạch kinh điển) và đồng thời đi kèm với các biến chứng khác như thiếu máu, suy dinh dưỡng, bệnh xương và chất khoáng. Do đó, ở BN BTM, tử vong do biến cố tim mạch có thể xảy ra trước khi đến giai đoạn cuối.

Mục tiêu của điều trị bảo tồn toàn diện BTM:

  • Làm chậm tiến triển của BTM đến giai đoạn cuối.
  • Điều trị các biến chứng của BTM và kiểm soát các yếu tố nguy cơ tim mạch nhằm làm giảm nguy cơ tử vong của BN ở mọi giai đoạn của BTM.

NGUYÊN TẮC CHUNG

Các biện pháp điều trị BTM giai đoạn chưa thay thế

Các biện pháp không dùng thuốc: cần khuyến cáo cho người mắc BTM

  1. Tập thể dục: 30 – 60 phút/ngày, 4 – 7 ngày/1 tuần (ít nhất 150 phút/tuần) với mức cường độ vừa. Một số người có thể thực hiện bài tập aerobic cường độ trung bình đến nặng và/hoặc bài tập sức mạnh nhằm tránh lối sống thụ động. Chương trình tập luyện phải phù hợp với đặc điểm tim mạch và thể lực của từng người, đồng thời thời lượng và cường độ tăng dần dần.
  2. Bỏ hút thuốc lá và hạn chế rượu bia: bỏ hút thuốc lá; hạn chế hoặc ngừng rượu bia. Khuyến cáo không uống rượu bia quá 12 – 14 gam/ngày tương đương khoảng 300 mL bia hoặc 150 mL rượu.
  3. Duy trì cân nặng lý tưởng.
  4. Lượng protein đưa vào có thể được giảm dần theo mức độ suy giảm chức năng thận. Việc hạn chế protein cần được theo dõi sát, có thể phối hợp với các keto analog (đồng phân keto acid). Ở người BTM giai đoạn 3-5 chưa lọc máu và có tình trạng chuyển hóa ổn định, có thể chỉ định:
    • Chế độ ăn giảm protein (low-protein diet, LPD): cung cấp 0,55 – 0,60 g protein/kg cân nặng/ngày.
    • Chế độ ăn rất giảm protein (very low-protein diet, VLPD): cung cấp 0,28 – 0,43 g protein/kg cân nặng/ngày, kèm bổ sung thêm đồng phân keto acid/acid amin để đạt lượng protein là 0,55 – 0,60 g/kg cân nặng/ngày.
  5. Năng lượng đưa vào cho bệnh nhân BTM giai đoạn 3 – 5, có tình trạng chuyển hóa ổn định, là 25 – 35 kcal/kg cân nặng/ngày; tùy theo tuổi, giới, mức độ hoạt động thể lực, thành phần cơ thể, trọng lượng mục tiêu, giai đoạn BTM và các bệnh đồng mắc, cũng như tình trạng viêm mạn tính.
  6. Áp dụng chế độ ăn ít chất béo bão hòa, ví dụ chế độ ăn Địa Trung Hải hoặc chế độ ăn DASH (Dietary Approaches to Stop Hypertension), có nhiều chất xơ, ít mỡ bão hòa và mỡ trans; cần cá thể hóa theo các yếu tố nguy cơ. Chế độ ăn giảm muối còn 6g (tương đương với 2,4g Na)/ngày cho người THA và/ hoặc suy tim, rối loạn lipid máu. Cần có chiến lược phòng ngừa tăng Kali máu nặng, đồng thời cân nhắc việc hạn chế rau quả và trái cây ở người mắc BTM vì chế độ ăn giàu Kali có thể làm giảm tổn thương thận. Các chế độ ăn làm giảm chất béo trung tính trong huyết thanh bao gồm: chế độ ăn ít chất béo (15% tổng lượng calo), giảm lượng monosacarit, disacarit và tổng lượng carbohydrate trong chế độ ăn, sử dụng dầu cá để thay thế chất béo trung tính chuỗi dài. Khuyến cáo tăng lượng thực phẩm nguồn thực vật hơn là từ nguồn động vật và hạn chế thực phẩm đã chế biến. Việc điều chỉnh chế độ ăn cần được thực hiện thận trọng ở người bị suy dinh dưỡng.
  7. Người có nguy cơ hoặc đang tiêu hao protein – năng lượng cần được bổ sung dinh dưỡng bằng ăn qua đường miệng và đánh giá lại sau ít nhất 3 tháng. Nếu tình trạng dinh dưỡng không cải thiện hoặc không cân bằng được nhu cầu về protein – năng lượng, cần đặt ống xông để nuôi dưỡng qua đường tiêu hóa. Đối với BN không cải thiện, có thể cần bổ sung dinh dưỡng tĩnh mạch một phần hoặc hoàn toàn.
  8. Đối với người có THA, mục tiêu lượng muối ăn vào hàng ngày là < 2g natri (<90 mmol Na hoặc < 5g NaCl).

Các biện pháp có dùng thuốc

Các nhóm thuốc điều trị triệu chứng đặc hiệu được trình bày trong các mục cụ thể tương ứng ở phần dưới. Trong số các nhóm thuốc được khuyến cáo lựa chọn điều trị BTM, các lựa chọn ưu tiên (đầu tay) bao gồm:

  • Ức chế hệ renin-angiotensin (RASi).
  • Ức chế kênh đồng vận chuyển natri-glucose 2 (SGLT2i).
  • Đối vận thụ thể mineralocorticoid (MRA).
  • Đồng vận thụ thể peptid giống glucagon (GLP-1 RA).

Điều trị làm chậm tiến triển của BTM đến giai đoạn cuối

  • Kiểm soát huyết áp (HA): HA mục tiêu thay đổi tùy theo các hướng dẫn (Tham khảo mục “Kiểm soát huyết áp”). Cộng đồng Thận học quốc tế thường áp dụng mục tiêu theo hướng dẫn của KDIGO. Thuốc lựa chọn đầu tay là ức chế hệ RAA, đặc biệt khi THA kèm uACR > 30mg/g.
  • Kiểm soát đường máu cho BN đái tháo đường (ĐTĐ) type 2: mục tiêu HbA1C < 7%, thực hiện bằng thay đổi lối sống và khởi trị với metformin và thuốc SGLT2i. Phối hợp thêm thuốc kiểm soát đường máu khác nếu đường máu chưa đạt mục tiêu; thường thêm đồng vận thụ thể GLP-1 (GLP-1 RA) do có hiệu quả hiệp đồng trong kiểm soát biến cố tim mạch, đặc biệt ở BN có bệnh mạch máu do xơ vữa động mạch. Việc sử dụng GLP-1 RA còn góp phần phòng ngừa diễn tiến đến albumin niệu đại lượng, giảm tiến triển của BTM và hỗ trợ giảm cân. Nên ưu tiên GLP-1 RA tác dụng kéo dài vì có khả năng bảo vệ tim mạch đã được chứng minh.
  • Dùng nhóm thuốc ức chế hệ renin angiotensin (thuốc ƯCMC, ƯCTT angiotensin 2): liều tối đa được phép cho BN không bị ĐTĐ hoặc bị ĐTĐ có albumin niệu A2-A3 và BTM giai đoạn 1-4. BN không có THA cần chọn liều ức chế hệ RAA tối đa dung nạp được. Theo dõi kali, creatinine máu sau 2-4 tuần. Khi có tăng kali máu cần áp dụng các biện pháp giảm kali máu trước khi giảm liều hoặc ngừng ức chế RAAS (xem phần Tăng Kali máu). Chỉ giảm liều hoặc ngừng ức chế RAAS khi BN bị tụt HA hoặc tăng kali máu không thể kiểm soát được bằng các biện pháp nội khoa.
  • Dùng thuốc ức chế kênh đồng vận chuyển Na-Glucose 2 (SGLT2i): khởi trị SGLT2i (Empagliflozin 10mg/ngày, Dapagliflozin 10mg/ngày) cho BN BTM có hoặc không có ĐTĐ với MLCT≥20ml/phút/1,73 m2 và tiếp tục dùng cho đến khi BN lọc máu hoặc ghép thận. Sử dụng SGLT2i có mức khuyến cáo 1A cho: BN bị ĐTĐ týp 2; BN bị BTM có MLCT ≥20ml/phút/1,73 m2 và UACR ≥ 200mg/g (≥ 20mg/mmol); hoặc BN suy tim có MLCT ≥20ml/phút/1,73 m2 với mọi mức albumin niệu. Nên dùng thuốc ức chế SGLT2 cho các BN có MLCT từ 20-45ml/phút/1,73 m2 và có UACR < 200mg/g (< 20mg/mmol) (2B). Tạm ngừng thuốc khi BN phải nhịn ăn kéo dài, phẫu thuật, hoặc trong tình trạng nguy kịch.
  • Dùng thuốc ức chế thụ thể mineralocorticoid (MRA): cân nhắc bổ sung MRA không steroid đã được chứng minh là có lợi ích trên thận và tim mạch cho BN bị ĐTĐ týp 2 có MLCT > 25ml/phút/1,73 m2, kali máu bình thường, albumin niệu >30mg/g (>3mg/mmol) khi đã dùng thuốc ức chế RAAS liều tối đa dung nạp được và ức chế SGLT2. Theo dõi kali máu sau khởi trị MRA.
  • Điều trị rối loạn lipid máu: mục tiêu là LDL-cholesterol giảm ≥50% so với nền và đạt <70mg/dL ở BTM giai đoạn 3; và <55mg/dL ở BTM giai đoạn 4. Điều trị dựa vào chế độ ăn kiêng, dùng statin đơn độc hoặc phối hợp với ezetimibe. Ezetimibe không cần chỉnh liều khi suy thận. Nếu BN tăng triglyceride >500mg/dL, cần thay đổi lối sống. Nếu triglyceride >1000mg/dL, dùng fibrates.
  • Điều trị tăng acid uric máu: chỉ điều trị ở BN BTM kèm tăng uric acid có triệu chứng, ngay sau đợt đau đầu tiên; ưu tiên nhóm ức chế XO hơn nhóm thải uric. Không ngừng thuốc khi BN có biểu hiện cơn gout cấp. Nếu muốn thay đổi thuốc dự phòng sẽ thay sau khi kiểm soát được cơn gout cấp. (Xem “Kiểm soát tăng acid uric máu”).
  • Hạn chế protein đưa vào ở mức 0,8g/Kg/ngày trở xuống khi MLCT <60ml/phút/1,73 m2. Tránh đưa vào >1,3g protein/Kg/ngày nếu có BTM tiến triển.
  • Giảm muối: Na<2g, NaCl< 5g/ngày.
  • Thay đổi lối sống: vận động ít nhất 150phút/tuần với mức độ vận động phù hợp với tình trạng tim mạch; bỏ hút thuốc.

Điều trị các biến chứng của hội chứng urê máu và kiểm soát các yếu tố nguy cơ tim mạch

  1. Điều trị thiếu máu: Hb mục tiêu 10-12g/dL, tối ưu 11-12g/dL.
  2. Điều trị rối loạn chuyển hóa xương và chất khoáng xương do thận: ở BTM giai đoạn 5, duy trì nồng độ PTH khoảng 150-300pg/mL (2-5 lần giới hạn trên của bình thường). Kiểm soát phosphor bằng chế độ ăn và thuốc gắn phosphate ở đường tiêu hóa; bổ sung vitamin D dạng hoạt tính (calcitriol hoặc đồng vận Vitamin D). Không dùng biphosphonate khi MLCT <60ml/phút/1,73 m2. Kiểm soát cường cận giáp bằng vitamin D và/hoặc thuốc bắt chước Ca (calcimimetics) như cinacalcet.
  3. Điều trị toan chuyển hóa bằng natri bicarbonate uống khi bicarbonate máu<18mmol/L (đối với người trưởng thành). Có thể kèm can thiệp dinh dưỡng. Mục tiêu HCO3 >22mmol/L.
  4. Điều trị bệnh lý tim mạch đi kèm (thận trọng khi phiên giải NT-ProBNP, Troponin I nếu MLCT <60ml/phút/1,73 m2)
    • Điều trị bệnh mạch máu ngoại biên ở BN ĐTĐ.
    • An toàn sử dụng thuốc.
    • Chẩn đoán hình ảnh: đối với thuốc cản quang
      • Không dùng Gadolinium khi MLCT <15ml/phút/1,73 m2 (khi chụp MRI).
      • Không dùng thuốc rửa ruột chứa phosphate khi MLCT <60ml/phút/1,73 m2.

Phòng ngừa

  • Tiêm vaccin (tiêm phòng viêm gan virus B khi MLCT <30ml/phút/1,73 m2).
  • Phòng ngừa TTTC.
  • Phòng ngừa nhập viện.
Tùy theo tiến triển của BTM, các biến chứng khi thận suy cần được dùng để điều chỉnh việc điều trị phù hợp với từng giai đoạn. Phối hợp với bác sĩ đa khoa, bác sĩ gia đình, và bác sĩ các chuyên khoa khác trong quản lý BN BTM.

MỤC TIÊU ĐIỀU TRỊ BỆNH THẬN MẠN (BTM) Ở GIAI ĐOẠN CHƯA ĐIỀU TRỊ THAY THẾ THẬN SUY

Có thể phối hợp quản lý người bệnh (BN) BTM tại cơ sở đa khoa hoặc chuyên khoa Thận. Chỉ định chuyển khám chuyên khoa Thận và/hoặc theo dõi tại phòng khám chuyên khoa Thận bao gồm:

  • Nguyên nhân BTM chưa rõ.
  • Bệnh thận di truyền.
  • Sỏi thận tái phát.
  • MLCT <30ml/phút/1,73m2.
  • MLCT giảm >20% so với mức nền kéo dài hoặc giảm >30% sau khi khởi trị thuốc gây ảnh hưởng huyết động.
  • Albumin niệu ≥300mg/g (≥300mg/24 giờ) hoặc protein niệu ≥500mg/g (≥500mg/24 giờ) kèm hồng cầu niệu.
  • Albumin niệu tăng gấp 2 lần trở lên.
  • UACR >700mg/g.
  • Có trụ hồng cầu không rõ nguyên nhân.
  • Tăng huyết áp (THA) kháng trị (không đáp ứng với 4 loại thuốc hạ áp trở lên) ở BN BTM.
  • K máu bất thường.
  • Nhiễm toan.
  • Thiếu máu.
  • Bệnh xương.
  • Suy dinh dưỡng.
  • BTM đang tiến triển với tốc độ mất MLCT >5ml/phút/năm.
Mục tiêu quản lý BN BTM bởi bác sĩ không chuyên khoa Thận và chuyên khoa Thận
Giai đoạn BTM BS không chuyên khoa Thận BS chuyên khoa Thận
1-2-3a
(MLCT ≥ 45)
  • Phát hiện và điều trị các yếu tố nguy cơ BTM.
  • Loại trừ các nguyên nhân làm suy giảm chức năng thận (quá nhiều thuốc hạ áp, NSAID, giảm thể tích tuần hoàn).
  • Phát hiện BTM tiến triển.
  • Phát hiện giảm MLCT.
  • Phát hiện tăng protein niệu.
  • Kiểm soát các yếu tố gây tổn thương thận làm BTM tiến triển.
  • Đánh giá và tìm bệnh thận cụ thể để điều trị đặc hiệu: viêm cầu thận nguyên phát hoặc thứ phát, bệnh thận do thiếu máu cục bộ.
  • Phát hiện và làm chậm tiến triển BTM.
3b
(MLCT 30 – 44)
  • Phát hiện BTM tiến triển.
  • Loại trừ các nguyên nhân làm suy giảm chức năng thận (quá nhiều thuốc hạ áp, NSAID, giảm thể tích tuần hoàn).
  • Điều trị và kiểm soát các yếu tố gây tổn thương thận làm BTM tiến triển.
  • Điều chỉnh liều thuốc theo MLCT.
  • Tư vấn chế độ ăn uống và vệ sinh.
  • Tiêm vaccine phòng cúm, viêm phổi do phế cầu, virus viêm gan B.
  • Phát hiện biến chứng của BTM: thiếu máu, rối loạn điện giải.
  • Đánh giá và tìm các bệnh thận cụ thể để điều trị đặc hiệu.
  • Theo dõi và điều trị các yếu tố làm tiến triển BTM.
  • Phát hiện và điều trị biến chứng của BTM: bệnh xương và chất khoáng, thiếu máu, rối loạn điện giải.
4
(MLCT < 30)
  • Ưu tiên chuyển BS chuyên khoa Thận (nếu có thể).
  • Loại trừ các nguyên nhân làm suy giảm chức năng thận (quá nhiều thuốc hạ áp, NSAID, giảm thể tích tuần hoàn).
  • Tư vấn chế độ ăn uống và vệ sinh.
  • Điều chỉnh liều thuốc theo MLCT.
  • Phát hiện biến chứng của BTM: thiếu máu, rối loạn điện giải.
  • Chuẩn bị điều trị thay thế.
  • Sắp xếp điều trị bảo tồn và chăm sóc giảm nhẹ nếu điều trị thay thế không khả thi hoặc không được chấp nhận.
  • Đánh giá và điều trị biến chứng của BTM: bệnh xương và chất khoáng, thiếu máu, rối loạn điện giải, toan chuyển hoá.
  • NSAID: thuốc chống viêm giảm đau không steroid.

KIỂM SOÁT HUYẾT ÁP

Chẩn đoán và phân độ tăng huyết áp

Theo Hội Tim Mạch quốc gia Việt nam 2022:

  • Chẩn đoán THA khi huyết áp tâm thu (HATT) ≥ 140mmHg và/hoặc huyết áp tâm trương (HATTr) ≥ 90 mmHg. Huyết áp bình thường khi cả HATT < 130 mmHg và HATTr < 85mmHg.
  • Huyết áp bình thường – cao hoặc tiền THA: 130 mmHg ≤ HATT < 140 mmHg và/hoặc 85 mmHg ≤ HATTr < 90 mmHg.
  • Chẩn đoán cơn THA khi HATT ≥ 180 mmHg và/hoặc HATTr ≥ 120 mmHg. Trong bối cảnh đó cần đánh giá tổn thương cơ quan đích để phân loại THA khẩn cấp (không có tổn thương cơ quan đích trừ võng mạc) hoặc cấp cứu (có dấu hiệu tổn thương cơ quan đích) nhằm xác định hướng xử trí phù hợp.

Hướng dẫn đo HA theo KDIGO 2021 ở người bị BTM:

  • Phòng yên tĩnh; không hút thuốc, uống cà phê hoặc tập thể dục từ 30 phút trở lên trước khi đo; đi tiểu hết, nghỉ ngơi từ 5 phút trở lên.
  • Không nói chuyện trong thời gian nghỉ ngơi và khi đo HA; lưng tựa vào ghế.
  • Chọn băng đo HA thích hợp cho từng tay; thiết bị đo HA phải được hiệu chỉnh định kỳ.
  • Điểm giữa cánh tay ngang điểm giữa của xương ức; chân đặt trên sàn nhà.
  • Đo tối thiểu 2 lần cách nhau 1-2 phút và lấy chỉ số trung bình cộng.
Sơ đồ tiếp cận chẩn đoán tăng huyết áp
HAPK : huyết áp đo tại phòng khám.
HATN : huyết áp đo tại nhà.
HALT : huyết áp đo liên tục (đo 24 giờ).
HABT : huyết áp bình thường (nếu < 130/85 mmHg).
THA : tăng huyết áp (nếu HAPK ≥ 140/90 mmHg hoặc HATN ≥ 135/85 mmHg hoặc HATL 24h trung bình ≥ 130/80 mmHg hoặc HA ban ngày trung bình ≥ 135/85 mmHg),
* HAPK với tiêu chuẩn thiết yếu và HATN hoặc HALT với tiêu chuẩn tối ưu,
** THA áo choàng trắng khi HAPK ≥ 140/90 mmHg mà HATN hoặc HA ban ngày < 135/85 mmHg và HALT < 130/80 mmHg,
*** THA ẩn giấu nếu HAPK < 140/90 mmHg và HATN ≥ 135/85 mmHg hoặc HALT ≥ 130/80 mmHg hoặc HA buổi sáng ≥ 135/85 mmHg.

Xem thêm:

Tăng huyết áp

Điều trị

Huyết áp mục tiêu trên bệnh nhân bệnh thận mạn tăng huyết áp

Các khuyến cáo về mức huyết áp mục tiêu cho người mắc BTM
Hiệp hội Huyết áp mục tiêu Tổn thương thận
ACC (American College of Cardiology 2017) < 130/80 mmHg Có protein niệu
NICE (National Institute for Health and Care Excellence) < 140/90 mmHg
< 130/80 mmHg
Protein niệu <1g/ ngày
Protein niệu >1g/ ngày
ESC/ESH 2018 (European Society of Cardiology/European Society of Hypertension) HA tâm thu <130mmHg Có protein niệu
KDIGO 2024 HA tâm thu <120mmHg (nếu có thể dung nạp được) MLCT <60ml/phút/1,73m2 hoặc Albumin niệu >30mg/g
VSH/VNHA (Phân hội tăng huyết áp – Hội tim mạch quốc gia Việt Nam) - HAPK mục tiêu:
120-129/70-79 mmHg
- Chưa rõ, cá thể hóa điều trị
- THA kèm BTM
- BTM đang lọc máu

Điều trị thuốc

  • Khuyến cáo khởi trị bằng thuốc ức chế hệ thống renin-angiotensin-aldosteron (RAASi): ƯCMC/ƯCTT, đặc biệt khi có microalbumin hoặc albumin/protein niệu (G1-4, A3 ở BN không ĐTĐ, G1-4, A2-3 ở BN ĐTĐ – mức 1B; G1-G4, A2 ở BN không ĐTĐ – mức 2C) khi không có chống chỉ định.
  • Kết hợp thuốc ức chế RAS với chẹn Canxi hoặc thuốc lợi tiểu.
  • Không phối hợp đồng thời các nhóm thuốc ƯCMC, ƯCTT hoặc ức chế renin trực tiếp (DRI) trên bệnh nhân BTM có hoặc không có đái tháo đường (1B).
  • Khuyến cáo sử dụng thuốc MRA ở BN ĐTĐ type 2, MLCT ≥25ml/phút/1,73m2, nồng độ kali máu bình thường, và có albumin niệu (≥30 mg/g ) khi đã dùng thuốc ức chế RAS ở liều tối đa dung nạp được. Thuốc MRA nhìn chung là lựa chọn thứ 2 trong kiểm soát HA trên bệnh cầu thận.
  • Theo dõi HA, nồng độ creatinin và kali máu mỗi 2 – 4 tuần sau khi bắt đầu hoặc tăng liều thuốc RAASi, tùy thuộc MLCT và nồng độ kali máu hiện tại. Nếu creatinin huyết thanh tăng hơn 30% trong vòng 4 tuần sau khi bắt đầu điều trị hoặc tăng liều thuốc RAASi thì xem xét giảm liều hoặc ngừng thuốc RAASi.
Chỉnh liều một số thuốc ƯCMC và ƯCTT trong BTM
Thuốc RAASi Liều khởi đầu Liều tối đa Chỉnh liều theo chức năng thận
Benazepril 10 mg/ngày 80 mg CrCl ≥30 ml/phút: không chỉnh liều.
CrCl <30 ml/ phút: giảm liều khởi đầu còn 5mg/ ngày. Thuốc không qua màng lọc
Captopril 12,5 – 25 mg, 2-3 lần/ngày 50 mg, 3 lần/ngày (có thể 450mg/ngày) Thời gian bán hủy gia tăng khi chức năng thận giảm:
CrCl 10–50 ml/phút: 75% liều hàng ngày 12–18 giờ;
CrCl <10 ml/phút: 50% liều mỗi 24 giờ.
Lọc máu: uống sau lọc máu, khoảng 40% qua màng lọc
Enalapril 5 mg, 1 lần/ngày 40 mg CrCl ≤30 ml/phút: người lớn liều khởi đầu 2,5 mg 1 lần/ngày; 2,5 mg ngày sau lọc máu;
Bệnh nhân chưa lọc máu liều dựa vào đáp ứng lâm sàng
Lisinopril 10 mg, 1 lần/ngày 40 mg CrCl 10–30 ml/phút: người lớn liều khởi đầu giảm 50%, tối đa 40 mg/ngày
CrCl <10 ml/phút: liều khởi đầu giảm còn 2,5 mg/ngày. Tối đa 40 mg/ngày
Perindopril 2 mg, 1 lần/ngày 8 mg Không sử dụng khi CrCl <30 ml/phút
Perindopril và chuyển hóa của nó thải qua màng lọc
Quinapril 10 mg, 1 lần/ngày 80 mg CrCl 61–89 ml/phút: 10 mg ngày;
CrCl 30–60 ml/phút: bắt đầu 5 mg 1 lần ngày;
CrCl 10–29 ml/phút : ít dữ liệu sử dụng
Ramipril 2,5 mg, 1 lần/ngày 20 mg Dùng 25% liều bình thường khi CrCl <40 ml/ phút
Đào thải tối thiểu qua màng lọc
Trandolapril 1 mg, 1 lần/ngày 4 mg CrCl <30 ml/ phút: giảm liều khởi đầu còn 0,5 mg/ngày
Candesartan 16 mg, 1 lần/ngày 32 mg Ở những bệnh nhân có CrCl <30 ml/phút, AUC và Cmax tăng gấp đôi khi dùng liều lặp lại.
Không đào thải qua màng lọc thận nhân tạo
Irbesartan 150 mg, 1 lần/ngày 300 mg Không cần điều chỉnh liều lượng.
Không thải qua lọc thận nhân tạo
Losartan 50 mg, 1 lần/ngày 100 mg Không cần điều chỉnh liều lượng.
Không thải qua màng lọc thận nhân tạo
Olmesartan 20 mg, 1 lần/ngày 40 mg AUC tăng gấp 3 lần ở những bệnh nhân có CrCl <20 ml/phút.
Không khuyến cáo điều chỉnh liều ban đầu cho bệnh nhân suy thận từ trung bình đến nặng (CrCl < 40 ml/phút).
Chưa được nghiên cứu ở bệnh nhân lọc máu
Telmisartan 40 mg, 1 lần/ngà 80 mg Không cần điều chỉnh liều lượng.
Không thải qua màng lọc thận nhân tạo
Valsartan 80 mg, 1 lần/ngày 320 mg Không có điều chỉnh liều lượng cho CrCl < 30ml/phút- thận trọng khi dùng.
Không thải qua màng lọc thận nhân tạo
Thuốc đối vận thụ thể mineralcorticoid (MRA) có 2 nhóm: steroid và không-steroid.
- Nhóm đối vận thụ thể mineralcorticoid steroid:
  • Spironolactone sử dụng trong điều trị THA, THA kháng trị, suy tim, phù. Lưu ý thuốc làm tăng Kali máu, cần theo dõi Kali, có thể phải giảm liều hoặc ngừng thuốc. BN tăng Kaly hoặc MLCT <30ml/phút/1,73m2 không nên sử dụng nhóm này. Liều Spironolactone từ 25mg-200mg, liều thông thường 100mg chia 2 lần ngày.
- Nhóm đối vận thụ thể mineralcorticoid không-steroid:
  • Nhóm thuốc này có lợi ích trên thận hoặc tim mạch đã được chứng minh, đặc biệt trên BN ĐTĐ type 2. Liều thuốc cần phải điều chỉnh theo chức năng thận và Kali huyết thanh, cần theo dõi nồng độ Kali tháng đầu và định kỳ mỗi 4 tháng.

Phối hợp với các biện pháp không thuốc, chế độ ăn, thay đổi lối sống, luyện tập cho người mắc BTM.

KIỂM SOÁT THIẾU MÁU

Chẩn đoán

  • Chẩn đoán thiếu máu ở người lớn và trẻ em >15 tuổi khi nồng độ Hb <13,0 g/dL (<130 g/L) ở nam và <12,0 g/dL (<120 g/L) ở nữ.
  • Chẩn đoán thiếu sắt tuyệt đối: TSAT <20% và ferritin <100 mg/L ở bệnh nhân không lọc máu hoặc <200 mg/L ở bệnh nhân lọc máu.
  • Chẩn đoán thiếu sắt chức năng: TSAT <20% và ferritin >100 mg/L ở bệnh nhân BTM không điều trị lọc máu, hoặc ferritin >200 mg/L ở bệnh nhân BTM có lọc máu.
  • Tình trạng thiếu sắt có thể được suy luận dựa vào tỷ lệ hồng cầu lưới nhược sắc và/hoặc lượng Hb trong hồng cầu lưới.

Tần suất và xét nghiệm theo dõi tình trạng thiếu máu ở BTM
Đối tượng bệnh nhân Tần suất theo dõi Hb Các xét nghiệm
Chưa thiếu máu BTM giai đoạn 3 ≥ 1 lần/năm
  • Công thức máu, số lượng hồng ncầu lưới
  • Độ bão hòa transferrin (TSAT), ferritin
  • Định lượng nồng độ B12 và folate trong huyết thanh
  • Xác định tan máu: haptoglobin, LDH, bilirubin, Coombs
  • Điện di protein huyết tương và/hoặc nước tiểu; điện di Hb; định lượng chuỗi nhẹ; xét nghiệm tủy xương
BTM giai đoạn 4-5 chưa lọc máu (ND) ≥ 2 lần/năm
BN lọc máu chu kỳ (HD), lọc màng bụng (PD) ≥ 1 lần/3 tháng
Thiếu máu, chưa dùng EPO BTM giai đoạn 3-5 ≥ 1 lần/3 tháng
BN lọc máu chu kỳ (HD) ≥ 1 lần/tháng

Điều trị

Bù sắt

Mục tiêu:
  • Ferritin huyết thanh 200-500 µg/L ở bệnh nhân BTM lọc máu, 100-500 µg /L ở bệnh nhân BTM không lọc máu và TSAT>20%.
  • Và/hoặc hồng cầu nhược sắc (hypochromic red cell, HRC) <6%, hoặc lượng Hb hồng ncầu lưới >29 pg.
  • Nồng độ ferritin huyết thanh không được vượt quá 800 μg/L ở những bệnh nhân được điều trị sắt; cần xem xét chỉnh liều sắt khi ferritin >500 μg/L.
  • Không nên bắt đầu điều trị bằng Erythropoietin (ESA) khi thiếu sắt tuyệt đối (ferritin <100 µg /L) cho đến khi tình trạng này được khắc phục và tình trạng thiếu máu vẫn tiếp diễn. Bệnh nhân thiếu sắt chức năng cần được bổ sung sắt trước hoặc khi bắt đầu điều trị bằng ESA.
  • Giá trị Ferritin huyết thanh bình thường hoặc cao (≥100 μg/L) không loại trừ tình trạng thiếu sắt do có thể tồn tại các nguyên nhân khác như nhiễm trùng hoặc viêm nhiễm.
  • Sử dụng sắt uống đủ để duy trì và có thể đủ để đạt được Hb mục tiêu ở bệnh nhân BTM được điều trị bằng ESA chưa cần lọc máu và ở những bệnh nhân đang lọc màng bụng (PD).
  • Đối với bệnh nhân BTM không lọc thận nhân tạo, lựa chọn giữa sắt uống hay tiêm truyền dựa trên mức độ nghiêm trọng của thiếu sắt, đáp ứng trước đó và tác dụng phụ, khả năng tiếp cận tĩnh mạch, cũng như nhu cầu bắt đầu điều trị bằng ESA. Ngược lại, đa số bệnh nhân lọc thận nhân tạo sẽ cần truyền sắt tĩnh mạch.
  • Đối với bệnh nhân lọc thận nhân tạo, cung cấp sắt sucrose đường tĩnh mạch liều cao chủ động 400 mg mỗi tháng hoặc tương đương (phác đồ “liều cao, tần suất thấp” -HD/LF), trừ khi ferritin > 700 μg/L hoặc TSAT > 40%.
  • Xét nghiệm theo dõi tình trạng sắt mỗi 1-3 tháng một lần ở những bệnh nhân được truyền sắt tĩnh mạch nhằm tránh ngộ độc; ferritin huyết thanh luôn trên 800 μg/L mà không có bằng chứng về viêm có thể gợi ý tình trạng quá tải sắt.
Các chế phẩm sắt:
  • Sắt uống: Các chế phẩm sắt không gây biến chứng và không có tác dụng trực tiếp để tạo ra FGF23 nhưng có nhược điểm là hiệu quả thấp hơn so với truyền tĩnh mạch, kém dung nạp qua đường tiêu hóa, hấp thu kém do tăng hepcidin, và có thể thay đổi hệ vi sinh vật.
Một số chế phẩm sắt uống
Tên hoạt chất Hàm lượng sắt/viên (v) Tổng lượng muối/viên Liều dùng
Ferrous sulfate 65mg 325mg 1000mg/ngày cho BN BTM
Ferrous fumarate 106mg 325mg 600mg/ngày cho BN BTM
Ferrous gluconate 38mg 325mg 1600mg cho BN BTM
Liposomal iron 30mg 30mg 30mg/ ngày cho BN BTM

  • Sắt truyền tĩnh mạch: Chế phẩm sắt truyền tĩnh mạch (hạt nano) có lõi Fe3+ oxyhydroxide/oxit, với lớp vỏ carbohydrate truyền tĩnh mạch có hiệu quả tương đương trong việc cải thiện Hb, ferritin và TSAT, đồng thời giảm sử dụng ESA hoặc nhu cầu truyền máu. Tuy nhiên hiệu quả và độ an toàn của các sản phẩm sắt sucrose tương tự có thể giảm so với sắt sucrose gốc, và có một số khác biệt về độ an toàn giữa các công thức. Một số chế phẩm sắt truyền tĩnh mạch có thể làm giảm phosphat máu, như oxit sắt saccharated và sắt polymaltose, do chúng có khả năng tạo ra FGF23.
  • Cung cấp sắt qua dịch lọc máu: Một số muối sắt hòa tan trong nước như muối sắt III của citrate với pyrophosphate có thể được cung cấp qua dịch lọc hoặc truyền tĩnh mạch.
Một số chế phẩm sắt truyền tĩnh mạch
Tên dược chất Nồng độ Fe (mg/ml) Liều đơn tối đa Liều tối đa mỗi tuần Số phút (p) truyền cho liều tối đa Số phút (p) ntiêm TM/ liều tối đa
Iron sucrose 20 200mg 500mg 30ph (EMA) 15ph (FDA) 10p (EMA) 2-5p (FDA)
LMW iron dextran 50 20mg/kg Không đề cập 15p, sau đó 100mg/15p, tổng 4-6 giờ (EMA) Khoảng 20p (EMA) >60p (FDA)
FDA: Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ; EMA: Cơ quan Dược phẩm Châu Âu; EMC: quản lý thuốc điện tử, LMW: trọng lượng phân tử thấp.

Thuốc kích thích tạo hồng cầu (Erythropoiesis-Stimulating Agents - ESAs)

Điều trị ESA cho bệnh nhân BTM thiếu máu nhằm giúp giảm nguy cơ truyền máu;
Trước khi triển khai ESA, cần đạt mục tiêu đủ sắt với Ferritin ≥ 100 μg/L và TSAT>20%, và/ hoặc hồng cầu nhược sắc (HRC) <6%, hoặc Hb hồng cầu lưới >29 pg.

(1) Mục tiêu Hb:
- Mục tiêu điều trị: Hb 10-12 g/dl
- Khi Hb <10,0 g/dl, xem xét thời điểm bắt đầu ESA tùy theo cá thể, dựa trên tốc độ giảm nồng độ Hb, đáp ứng điều trị thiếu sắt, nguy cơ cần truyền máu, các rủi ro liên quan đến liệu pháp ESA và sự hiện diện của các triệu chứng do thiếu máu.
- Đối với bệnh nhân BTM giai đoạn 5 đã lọc máu, cần tránh để nồng độ Hb <9g/dL (90g/L).

(2) Sử dụng và theo dõi điều trị thuốc kích thích tạo hồng cầu:
- Đường dùng ESA được khuyến cáo: tiêm dưới da cho bệnh nhân điều trị bảo tồn; tiêm tĩnh mạch cho bệnh nhân lọc máu.
Sử dụng thuốc kích thích tạo hồng cầu
Thuốc ESA Thời gian bán hủy (giờ) Liều khởi đầu
Epoetin alfa và Epoetin beta Tiêm TM: 6,8
Tiêm dưới da: 19,4
TNT: 50-100 U/kg TM hoặc TDD 3 lần/tuần
Chưa TNT: 50-100 U/kg TM hoặc TDD 1-2 nlần/tuần
Methoxy polyethylene glycol-epoetin beta Tiêm TM :130
Tiêm dưới da: 133
TNT: 0,6 mcg/kg TM hoặc TDD mỗi 2 tuần Chưa
TNT: 0,6 mcg/kg TM hoặc TDD mỗi 2-4 ntuần
- Theo dõi đáp ứng ESA dựa trên nồng độ Hb mục tiêu và tốc độ gia tăng Hb trong khoảng 10 -20g/L (1-2g/dL)/ 4 tuần. Nếu chưa đạt mục tiêu hoặc tăng Hb chậm, có thể tăng 25% liều mỗi 2 tuần; ngược lại, nếu Hb đạt trên mục tiêu thì giảm 25% mỗi 2 tuần. Duy trì liều ESA khi đạt mục tiêu và theo dõi Hb mỗi 1-3 tháng.
- Đáp ứng không đầy đủ với ESA được xác định là không đạt mức Hb mục tiêu dù đã dùng liều epoetin đường tiêm dưới da >300 IU/kg/tuần (đường tĩnh mạch >450 IU/kg/tuần).
- Tiếp tục sử dụng ESA trong thời gian bệnh cấp tính, phẫu thuật hoặc bất kỳ nguyên nhân nhập viện nào khác, trừ khi có chống chỉ định rõ ràng như tăng huyết áp cấp tính.
- Thận trọng khi chỉ định liệu pháp ESA ở bệnh nhân BTM có tiền sử đột quỵ hoặc bệnh ác tính, đặc biệt ở bệnh nhân đang điều trị bệnh ác tính. Cần theo dõi huyết áp ở tất cả bệnh nhân sử dụng ESA.
Chẩn đoán bất sản riêng dòng hồng cầu do ESA (PRCA):
+ PRCA do ESA trên bệnh nhân được điều trị bằng ESA kéo dài (hơn 8 tuần) khi có đầy đủ các dấu hiệu sau:
  • Giảm đột ngột nồng độ Hb với tốc độ 5 đến 10g/L mỗi tuần HOẶC yêu cầu truyền máu với tốc độ khoảng 1 đến 2 lần mỗi tuần,
  • Số lượng tiểu cầu và bạch cầu bình thường,
  • Số lượng hồng cầu lưới tuyệt đối nhỏ hơn 10.000/µl.
+ Ngừng thuốc ESA trên bệnh nhân PRCA do ESA, thực hiện xét nghiệm kháng thể kháng EPO và sinh thiết tủy xương (có biểu hiện giảm các tế bào tiền thân sinh hồng cầu). Điều trị bệnh nhân bằng thuốc ức chế miễn dịch tùy theo mức kháng thể kháng EPO. Khuyến cáo sử dụng Peginesatide để điều trị PRCA.

Truyền máu

- Hạn chế truyền hồng cầu nhằm giảm thiểu rủi ro liên quan truyền máu; nếu cần truyền khối hồng cầu thì ưu tiên truyền hồng cầu rửa qua phin lọc bạch cầu để giảm thiểu nguy cơ dị ứng và giảm nguy cơ tạo kháng thể, yếu tố có thể cản trở bệnh nhân ghép thận về sau.
- Cân nhắc chỉ định truyền hồng cầu trong các tình huống khi lợi ích lớn hơn rủi ro, bao gồm:
  • Điều trị ESA không hiệu quả (ví dụ: bệnh huyết sắc tố, suy tủy xương, kháng ESA).
  • Sử dụng ESA kèm nguy cơ cao (ví dụ: bệnh ác tính, đột quỵ trước đó).
  • Cần điều chỉnh nhanh tình trạng thiếu máu để ổn định bệnh nhân (ví dụ: xuất huyết cấp tính, bệnh động mạch vành không ổn định) hoặc khi cần điều chỉnh nhanh Hb trước phẫu thuật.

Thuốc ức chế Prolyl Hydroxylase của yếu tố cảm ứng khi thiếu oxy

  • Trong những năm gần đây, đã phát triển một nhóm thuốc đường uống mới nhằm điều trị thiếu máu do BTM, gồm các chất ức chế HIF-prolyl-hydroxylase (HIF-PHIs). Cơ chế là ức chế hoạt động của prolyl-hydroxylase, qua đó làm tăng nồng độ HIF và tăng EPO nội sinh.
  • Hiện có bốn thuốc HIF-PHI đã hoặc đang được đánh giá trong thử nghiệm lâm sàng giai đoạn III: roxadustat, daprodustat, vadadustat và molidustat. Nhóm thuốc này khác biệt về dược lực học và dược động học, vì vậy có khác biệt trong tương tác với hệ thống HIF và khác biệt về dữ liệu hiệu quả, cũng như tính an toàn.

KIỂM SOÁT ĐƯỜNG MÁU

Rối loạn đường máu trên bệnh nhân bệnh thận mạn (BTM) gồm các tình huống sau:
  • Bệnh thận đái tháo đường: tổn thương thận do đái tháo đường (ĐTĐ) gây ra. Tham khảo chủ đề CHẨN ĐOÁN VÀ XỬ TRÍ MỘT SỐ BỆNH THẬN THƯỜNG GẶP phần Bệnh thận đái tháo đường.
  • Rối loạn đường máu hoặc ĐTĐ trên người bệnh BTM không do nguyên nhân ĐTĐ, hoặc BTM kèm ĐTĐ.
  • Rối loạn đường máu ở người bệnh BTM là yếu tố nguy cơ làm tiến triển BTM, giảm mức lọc cầu thận (MLCT), tăng đáng kể nguy cơ tim mạch và chi phí chăm sóc sức khỏe.

Chẩn đoán ĐTĐ và theo dõi đường máu

Tiêu chuẩn chẩn đoán đái tháo đường

Chẩn đoán dựa trên 1 trong 4 tiêu chí:
  1. Glucose huyết tương lúc đói ≥ 126 mg/dl (hay 7 mmol/l) hoặc:
  2. Glucose huyết tương tại thời điểm sau uống 75g glucose 2 giờ (nghiệm pháp dung nạp glucose) ≥ 200 mg/dl (hay 11,1 mmol/l);
  3. HbA1c ≥ 6,5% (48 mmol/mol);
  4. Người bệnh có triệu chứng kinh điển của tăng glucose máu hoặc của cơn tăng glucose máu cấp kèm mức glucose huyết tương bất kỳ ≥ 200 mg/dl (hay 11,1 mmol/l).
Chẩn đoán xác định khi có 2 kết quả của cùng một mẫu máu xét nghiệm trên ngưỡng chẩn đoán hoặc ở 2 thời điểm khác nhau đối với tiêu chí 1, 2 hoặc 3; riêng tiêu chí 4 chỉ cần một lần xét nghiệm duy nhất.

Chẩn đoán tiền ĐTĐ

  • Rối loạn glucose máu đói (100-125 mg/dl), hoặc
  • Rối loạn dung nạp glucose máu (140-199 mg/dl), hoặc
  • HbA1c 5,7%-6,4%.

Theo dõi đường máu

- Khuyến cáo sử dụng HbA1c để theo dõi kiểm soát đường máu ở người bệnh ĐTĐ và BTM.
  • Theo dõi điều trị bằng HbA1c 2-4 lần/năm.
  • Bệnh thận mạn tiến triển giai đoạn 4-5(G4–G5) và giai đoạn lọc máu: giá trị HbA1c ít tin cậy.

Điều trị

Mục tiêu đường máu:
  • Khuyến cáo mục tiêu HbA1c: cá thể hóa trong khoảng từ 6,5% - 8,0% ở người bệnh ĐTĐ và BTM không lọc máu, thông thường mục tiêu < 7%.

Kiểm soát đường máu

Bao gồm các liệu pháp thay đổi lối sống, chế độ ăn, luyện tập và các can thiệp dùng thuốc theo nguyên tắc sau:
  • Điều trị đầu tay với metformin kết hợp thuốc ức chế kênh đồng vận chuyển natri-glucose-2 (SGLT2i) cho người bệnh ĐTĐ týp 2 và BTM có MLCT ≥30 ml/phút/1,73 m2 da.
  • Thuốc ức chế SGLT2 cho người bệnh ĐTĐ týp 2 và BTM có MLCT ≥20 ml/phút/1,73 m2 da.
  • Thuốc đồng vận thụ thể peptide-1 giống glucagon (GLP-1 RA) được ưu tiên sử dụng khi không đạt được mục tiêu đường máu hoặc không dung nạp với metformin và ức chế SGLT2. Nên dùng loại GLP-1 RA tác dụng kéo dài. GLP-1 RA được ưu tiên vì có lợi ích tim mạch, đặc biệt ở người bệnh mắc bệnh tim mạch do xơ vữa đã được xác lập ngay cả với MLCT <60 ml/phút/1,73 m2, làm giảm albumin niệu và làm chậm quá trình giảm MLCT.
  • Các nhóm thuốc hạ đường máu khác cũng có thể được sử dụng như thuốc ức chế DPP-4 với nguy cơ hạ đường máu thấp.
  • Tất cả các loại thuốc hạ đường máu nên được lựa chọn và chỉnh liều theo MLCT.

Các nhóm thuốc kiểm soát đường máu

Metformin

Khuyến cáo sử dụng metformin điều trị ĐTĐ týp 2 khi MLCT ≥30 ml/phút/1,73 m2.
  • Tăng cường theo dõi mức lọc cầu thận khi MLCT < 60 ml/phút/1,73 m2.
  • Cân nhắc liều khi MLCT từ 45–59 ml/phút/1,73 m2.
  • Liều tối đa nên giảm một nửa khi MLCT giảm xuống còn 30–45 ml/phút/1,73 m2.
  • Nên ngừng metformin khi MLCT giảm còn < 30 ml/phút/1,73 m2 hoặc khi người bệnh bắt đầu lọc máu.
  • Nên theo dõi để phát hiện thiếu máu do thiếu vitamin B12 nếu người bệnh đã được điều trị bằng metformin từ 4 năm trở lên. Lưu ý các tác dụng phụ như tiêu chảy, hạ huyết áp, nôn mửa,… có thể gây suy giảm chức năng thận và các biến chứng do tích lũy metformin vì suy thận.

Nhóm thuốc ức chế kênh đồng vận chuyển natri-glucose-2 (SGLT2i)

  • Khuyến cáo sử dụng thuốc ức chế SGLT2 cho bệnh nhân ĐTĐ týp 2 có MLCT ≥20 ml/phút/1,73 m2.
  • Ngừng thuốc ức chế SGLT2 trong thời gian nhịn ăn kéo dài, phẫu thuật hoặc bệnh nặng (khi người bệnh có thể tăng nguy cơ nhiễm toan ceton).
  • Có thể xảy ra tình trạng giảm MLCT có hồi phục khi bắt đầu điều trị thuốc ức chế SGLT2 và thường không phải là dấu hiệu để ngừng điều trị.
  • Sau khi khởi trị, thuốc ức chế SGLT2i được tiếp tục sử dụng ngay khi MLCT giảm xuống dưới 20 ml/phút/1,73 m2, trừ khi người bệnh không dung nạp hoặc bắt đầu điều trị thay thế thận.
  • Thuốc SGLT2i chưa được nghiên cứu đầy đủ ở người bệnh ghép thận hay lọc máu.
  • Liều dùng:
    • Dapagliflozin 10mg/ngày
    • Empagliflozin 10mg/ngày (có thể tăng đến 25mg/ngày nếu cần kiểm soát đường máu)
    • Canagliflozin 100mg/ngày

Thuốc đồng vận thụ thể GLP-1 (GLP-1 RA)

  • Khuyến cáo sử dụng thuốc nhóm GLP-1 RA cho người bệnh ĐTĐ týp 2 và BTM không đạt được mục tiêu đường máu hoặc không dung nạp với metformin và ức chế SGLT2.
  • Để giảm tác dụng phụ của GLP-1 RA trên đường tiêu hóa, nên bắt đầu với liều thấp và chỉnh liều từ từ. Không nên phối hợp đồng thời thuốc ức chế DPP-4 và GLP-1 RA.
  • GLP-1 RA có thể được ưu tiên ở những người bệnh béo phì, ĐTĐ týp 2 và BTM nhằm giảm cân có chủ ý.
  • Nguy cơ hạ đường máu tăng lên nếu sử dụng đồng thời với các thuốc điều trị ĐTĐ khác; do đó khi dùng GLP-1 RA nên giảm liều sulfonylurea hoặc insulin.
  • Liều lượng và cách sử dụng: xem phần bệnh thận Đái tháo đường.

Thuốc ức chế men Dipeptidyl peptidase 4 (DPP-4)

Liều thuốc ức chế DPP-4 hàng ngày theo chức năng thận
Liều thuốc ức chế DPP4 theo MLCT ước tính (ml/phút/1,73m2)
Nhóm ức chế DPP4 ≥ 60 45-59 30-44 15-29 < 15
Sitagliptin 100 mg/ngày 100 mg/ngày 50 mg/ngày 25 mg/ngày 25 mg/ngày
Vildagligtin 100 mg/ngày 50 mg/ngày 50 mg/ngày 50 mg/ngày 50 mg/ngày
Saxagliptin 5 mg/ ngày 5 mg/ ngày 2,5 mg/ngày 2,5 mg/ngày Không
Linagliptin 5 mg/ ngày 5 mg/ ngày 5 mg/ ngày 5 mg/ ngày 5 mg/ ngày

Các thuốc ức chế DPP-4 không gây hạ đường máu và được dung nạp rất tốt; có thể sử dụng đơn trị liệu hoặc kết hợp với bất kỳ loại thuốc nào khác, ngoại trừ GLP-1 RA. Hầu hết các thuốc ức chế DPP-4 cần chỉnh liều theo chức năng thận ngoại trừ linagliptin.

Sulfonylurea (SU)

  • SU không phải là thuốc được ưu tiên trong BTM.
  • Glipizide là SU duy nhất có thể dùng được cho người bệnh BTM vì được chuyển hóa thành các dẫn chất không hoạt tính, nhưng không dùng khi MLCT thấp <30 ml/phút/1,73 m2.
  • Repaglinide được chuyển hóa ở gan với tỉ lệ thải trừ qua thận dưới 10%, nhưng nên bắt đầu với liều thấp 0,5 mg/ngày.

Ức chế α-Glucosidase

  • Dữ liệu của các thuốc này ở BTM còn hạn chế.
  • Các thuốc ức chế α-Glucosidase có hiệu lực thấp trong việc giảm đường máu, gây tác dụng phụ đáng kể trên đường tiêu hóa và có nguy cơ tích lũy ở người bệnh suy thận; vì vậy không khuyến cáo sử dụng.

Glitazon

  • Có thể sử dụng ở người BTM mà không phải chỉnh liều do thuốc không được thải trừ qua thận. Các thuốc nhóm này làm tăng nhạy cảm với insulin và không gây hạ đường máu.
  • Do thuốc gây giữ nước nên cần thận trọng khi sử dụng ở người bị phù và tăng cân; thuốc bị chống chỉ định ở người suy tim nặng. Thuốc cũng có thể gây mất xương và tăng nguy cơ gãy xương.

Insulin

Nhu cầu insulin của mỗi người bệnh rất khác nhau, do đó cần điều chỉnh phù hợp thông qua theo dõi đường máu và MLCT:
  • MLCT > 50 ml/phút/1,73 m2: không cần điều chỉnh liều.
  • MLCT 50-10 ml/phút/1,73 m2: giảm 25% liều insulin trước đó.
  • MLCT < 10 ml/phút/1,73 m2: giảm 50% liều insulin trước đó.
Chế độ điều trị insulin sẽ được điều chỉnh phù hợp với mục tiêu kiểm soát đường, có thể là liệu pháp điều trị thông thường hoặc điều trị tích cực, trong đó chế độ điều trị “nền - nhanh” (basal-bolus) có tỷ lệ hạ đường máu thấp nhất.
Người bệnh BTM giai đoạn muộn (MLCT< 20 ml/phút/1,73 m2) kèm ĐTĐ týp 2 khi tiến triển đến giai đoạn cuối sẽ cần liều insulin thấp hơn hoặc không cần dùng thuốc kiểm soát đường máu.

Kiểm soát hạ đường máu

  • Nguy cơ hạ đường máu tăng lên ở người bệnh BTM tiến triển được điều trị bằng thuốc do nồng độ insulin máu, sulfonylurea, meglitinide… trong máu tăng. Nên sử dụng các thuốc ít gây nguy cơ hạ đường máu như metformin, thuốc ức chế SGLT2, thuốc đồng vận GLP-1, thuốc ức chế DPP-4.
  • Cần theo dõi sát đường máu và có thể dùng thiết bị theo dõi liên tục để cải thiện việc kiểm soát đường máu, đồng thời giảm nguy cơ gây hạ đường máu.
Nguy cơ hạ đường máu của các thuốc điều trị ĐTĐ
Thuốc điều trị ĐTĐ Nguy cơ hạ đường máu
  • Insulin
  • Sulfonylurea
  • Meglitinide
Cao
  • Metformin
  • Ức chế SGLT2
  • Đồng vận thụ thể GLP-1
  • Ức chế DPP-4
Thấp
DPP-4: dipeptidyl peptidase-4; GLP-1: glucagon-like peptide-1; SGLT2: sodiumglucose cotransporter-2

KIỂM SOÁT LIPID MÁU

Mục tiêu kiểm soát và khởi trị rối loạn lipid máu trên BTM

Các rối loạn lipid máu ở các nhóm BTM
HCTH BTM
gđ 1-2
BTM
gđ 3-4
Lọc máu Lọc màng
bụng
Ghép
thận
Cholesterol ↑↑ = = =/↑
LDL ↑↑ = =/↓ =/↓
HDL =/↓
Triglycerides ↑↑ ↑↑ ↑↑ =/↑ ↑↑ ↑/↑↑
* HCTH: hội chứng thận hư; BTM gđ: bệnh thận mạn giai đoạn.

Tầm soát rối loạn lipid máu

  • Kiểm soát nguy cơ tim mạch là ưu tiên hàng đầu ở người bệnh BTM ở tất cả các giai đoạn.
  • Xét nghiệm lipid (bao gồm cholesterol toàn phần và HDL, triglyceride và LDL) là bắt buộc để xây dựng chiến lược điều trị tối ưu.
  • Phân tầng nguy cơ tim mạch mức độ cao đối với BTM giai đoạn 3 tương ứng MLCT 30-59 ml/phút/1,73m2, mức độ rất cao đối với BTM giai đoạn 4-5 tương ứng MLCT < 30 ml/phút/1,73m2.
BTM được công nhận là nguy cơ tương đương với bệnh động mạch vành (CAD).

Mục tiêu kiểm soát và khởi trị rối loạn lipid máu trên BTM

- Mục tiêu kiểm soát
  • Đối với BTM không lọc máu, mục tiêu khuyến cáo là LDL < 70 mg/dl ở người bệnh nguy cơ cao và < 55 mg/dl ở những người bệnh có nguy cơ rất cao.
- Khởi trị rối loạn lipid máu
  • Người bệnh BTM có nguy cơ cao hoặc rất cao, đã áp dụng các biện pháp thay đổi lối sống, chế độ ăn mà vẫn không đạt mục tiêu LDL cần điều trị bằng thuốc.
  • Khuyến cáo điều trị bằng statin hoặc statin/ezetimibe cho người bệnh BTM giai đoạn 3-5; nên tiếp tục điều trị cho người bệnh đã bắt đầu dùng các thuốc này tại thời điểm bắt đầu lọc máu, đặc biệt ở người bệnh có bệnh tim mạch do XVĐM.
  • Người bệnh lọc TNT và lọc màng bụng: không nên bắt đầu điều trị bằng statin hoặc statin/ezetimibe nếu không có bệnh tim mạch do XVĐM.
  • Tiếp tục điều trị statin cho người bệnh sau ghép thận.

Các nhóm thuốc

Phối hợp với các biện pháp không dùng thuốc, bao gồm chế độ ăn, điều chỉnh lối sống và luyện tập phù hợp cho người bệnh mắc bệnh thận mạn (btm).

Statin

Liều các thuốc statin sử dụng trong BTM
Statin BTM giai đoạn 1-2 BTM giai đoạn 3a-5, Lọc máu, ghép thận (mg/ngày)
Lovastatin Liều thông thường Không có nghiên cứu
Fluvastatin Liều thông thường 80 (ALERT)
Atorvastatin Liều thông thường 20 (4D)
Rosuvastatin Liều thông thường 10 (AURORA)
Simvastatin/ Ezetimibe Liều thông thường 20/10 (SHARP)
Pravastatin Liều thông thường 40
Simvastatin Liều thông thường 40
Pitavastatin Liều thông thường 2

  • Chỉ định: tăng LDL, cholesterol toàn phần, triglyceride (TG).
  • Tác dụng phụ: bệnh cơ (bao gồm viêm cơ), tiêu cơ vân kèm hoặc không kèm tổn thương thận cấp, đau cơ, chuột rút, suy nhược, viêm gan/vàng da; tăng men gan, phosphatase kiềm, CPK, HbA1c và đường máu lúc đói.

Nhóm thuốc Ezetimibe

  • Chỉ định: tăng cholesterol toàn phần, tăng LDL.
  • Liều lượng:
    • Ezetimibe đơn trị liệu không được khuyến cáo, khuyến cáo điều trị bằng statin hoặc statin/ezetimibe. Ezetimibe liều kết hợp là 10mg.
    • Bệnh nhân lọc màng bụng: Ezetimibe 10 mg kết hợp simvastatin 10 - 20mg/ngày.
    • Không có chỉ định chuyên biệt cho Ezetimibe trên ghép thận.
  • Tác dụng phụ: suy nhược, đau cơ, đau khớp, tăng men gan và creatine phosphokinase, tiêu chảy, khó tiêu, viêm dạ dày, đau đầu.

Nhóm Fibrate

  • Tác dụng: giảm triglycerid (TG) từ 35–50%, tăng HDL-cholesterol (đơn trị liệu) từ 5 đến 20%. Bệnh nhân có TG huyết thanh > 500 mg/dL cần sử dụng nhóm Fibrate kết hợp thay đổi lối sống để giảm TG, do nguy cơ viêm tụy cấp cao, đặc biệt khi TG >1000 mg/dL.
  • Khuyến cáo: Fibrate có thể là nhóm thuốc hàng thứ hai để giảm TG trong HCTH. Nên tránh kết hợp fibrate và statin (làm tăng nguy cơ viêm cơ), nên tránh dùng Benzafibrate trong BTM do thuốc được bài tiết chủ yếu qua thận.
  • Tác dụng phụ: mày đay, đau cơ (chủ yếu khi kết hợp với statin), tăng nhẹ transaminase và phosphatase kiềm, tăng sinh sỏi mật, các triệu chứng tiêu hóa.
  • Tương tác thuốc: có thể làm tăng tác dụng của thuốc chống đông đường uống (warfarin), tăng độ thanh thải cyclosporine gây giảm nồng độ cyclosporine huyết thanh (ở bệnh nhân ghép tạng).
  • Theo dõi: cần theo dõi chặt chẽ creatinine huyết thanh trong quá trình điều trị bằng fenofibrate, đặc biệt ở người cao tuổi, ĐTĐ; nên ngừng thuốc nếu creatinine tăng >30% giá trị nền. Fenofibrate nên được sử dụng thận trọng ở BN ghép thận đang dùng cyclosporine. Fibrate bị chống chỉ định ở BN có MLCT < 15 ml/phút/1,73 m2.

Nhóm ức chế Proprotein convertase subtilisin/kexin type 9

  • Proprotein convertase subtilisin/kexin type 9 (PCSK9) là một protease gây ra sự thoái giáng của thụ thể LDL. FDA đã phê duyệt một số kháng thể đơn dòng có tác dụng ức chế PCSK9, giúp giảm cholesterol huyết thanh một cách hiệu quả cho đến khi giá trị trung bình là 20–30 mg/dL ở người đã điều trị bằng statin liều tối đa. Các thuốc này được chỉ định cho những người có nguy cơ bệnh tim mạch cao và người trưởng thành bị tăng cholesterol máu có tính chất gia đình.
  • Bên cạnh đó, FDA và châu Ân cũng đã phê duyệt cho nhóm thuốc ức chế PCSK9 thông qua tác động đến mRNA của protein này.

KIỂM SOÁT TĂNG ACID URIC MÁU

Lâm sàng của tăng acid uric

Tăng acid uric máu có thể không triệu chứng hoặc biểu hiện dưới dạng viêm khớp cấp do sự kết tủa các tinh thể urat monosodium trong khớp; bệnh gút có hạt tophi do kết tủa các tinh thể trong da và mô tế bào dưới da; sỏi thận do urat; bệnh thận do acid uric cấp tính và mạn tính.

Điều trị

Hiện chưa có đủ bằng chứng để điều trị tăng acid uric máu không triệu chứng. Quyết định bắt đầu điều trị sẽ dựa trên nguy cơ phát triển lắng đọng tinh thể, bệnh gút hoặc bệnh thận do acid uric của mỗi BN, cũng như các tác dụng phụ liên quan đến điều trị và cần được cá thể hóa. Cần điều trị cho BN bị BTM và tăng acid uric máu có triệu chứng.
Thuốc hạ acid uric máu bao gồm:
a) Thuốc ức chế xanthine oxidase (XO) ngăn chặn quá trình chuyển hóa purine.
b) Uricosurics tác động lên nguyên nhân chính gây tăng acid uric máu, đó là khả năng bài tiết qua thận kém.
c) Điều trị bằng uricase giúp oxy hóa urat, thông qua một phản ứng enzym.
Nên bắt đầu điều trị bằng thuốc hạ acid uric sau khi xảy ra cơn gút đầu tiên ở bệnh nhân BTM từ giai đoạn 2 trở lên. Mục tiêu là giữ nồng độ acid uric dưới 6 mg/dL (5 mg/dL đối với bệnh gút có hạt tophi). Ưu tiên sử dụng thuốc ức chế XO hơn là uricosurics.
Bảng trình bày danh sách các loại thuốc hạ acid uric (bên dưới), cơ chế hoạt động và liều lượng của chúng đối với các giai đoạn BTM khác nhau.
Quy tắc chung trong sử dụng thuốc hạ acid uric:
a) Luôn bắt đầu điều trị dự phòng.
b) Bắt đầu với liều thấp nhất và theo dõi nồng độ acid uric cho đến khi đạt được mục tiêu.
c) Không nên ngừng thuốc hoặc thay đổi liều lượng trong cơn gút cấp.
d) Khi khởi trị, nên dùng thuốc sau khi đã giải quyết xong cơn gút cấp.
Khuyến cáo điều trị dự phòng cơn gút cấp trong ba hoặc sáu tháng khi bắt đầu dùng thuốc hạ acid uric máu ở những trường hợp bệnh gút có hạt tophi. Ưu tiên dùng colchicine liều thấp phối hợp glucocorticoid tiêm vào khớp hoặc uống để điều trị cơn gút cấp hơn là dùng NSAIDs. Colchicine chống chỉ định ở bệnh nhân có MLCT dưới 30 ml/phút/1,73 m2 và giảm liều 0,5 mg/ngày ở bệnh nhân BTM giai đoạn 3. Cần tư vấn thay đổi chế độ ăn uống như giảm thịt, hạn chế dùng đồ uống có cồn, sirô chứa nhiều fructose. br>
Liều khuyến cáo cho các thuốc hạ acid uric máu ở BTM
Thuốc Nhóm Liều Lưu ý ở BN CKD (G3-5) Khuyến cáo (G5D)
Allopurinola Ức chế XO (iXO) Khởi đầu: 50-100 mg /ngày
Tối đa: 800mg /ngày
MLCT ≥ 30 Khởi đầu 50-100 mg/ngày
MLCT < 30 Khởi đầu 50 mg/ngày
HD: khởi đầu 100 mg sau lọc máu
PD: khởi đầu 50 mg/ngày
Febuxostatb Ức chế XO Khởi đầu: 40mg /ngày
Tối đa: 120mg /ngày
Chưa đủ dữ liệu ở bn với MLCT < 30 ml/phút Chưa đủ dữ liệu
Các thuốc tăng đào thải acid uric qua nước tiểu Chỉnh liều tùy theo MLCT, cần dùng phối hợp với iXO Chống chỉ định
HD: lọc máu chu kỳ, PD: lọc màng bụng.
  • a: Có thể tăng liều Allopurinol sau mỗi 2-5 tuần cho đến khi đạt mục tiêu acid uric máu.
  • b: Febuxostat không nên sử dụng ở những bệnh nhân có nguy cơ tim mạch cao.
Thuốc chỉ định điều trị cơn gút cấp và chỉnh liều trong BTM
Thuốc Chức năng thận bình thường BTM (G3-G5) Lọc máu
Colchicine 1-2 mg/ngày, tối đa 2 mg/ngày.
Không vượt quá 6 mg trong 4 ngày
GĐ G3 giảm nửa liều và tăng khoảng cách Chống chỉ định
NSAIDs Bất cứ loại nào với liều thông thường MLCT< 30: chống chỉ định
GĐ G3 dùng thận trọng và giảm liều
Bất cứ loại nào với liều thông thường
Glucocorticoids (BN chống chỉ định colchicin, NSAIDs) 0.5 mg/kg/ngày, giảm 5 mg mỗi 2 ngày Giống trong chức năng thận bình thường Giống trong chức năng thận bình thường
ACTH analog (tetracosactide depot) 25-40 mg (TB/TDD) ở BN không đáp ứng điều trị khác Không cần chỉnh liều Không cần chỉnh liều
Ức chế IL-1 (gút kháng trị) Anakinra liều 100 mg TDD/ngày*
Canakinumab 150 mg, TDD một liều đơn
GĐ G4: Anakinra 100 mg/48h
Canakinumab: không cần chỉnh liều
Anakinra 100 mg/48h
Canakinumab: không chỉnh liều
Không có chỉ định trong bảng dữ liệu của thuốc, mặc dù có những nghiên cứu hỗ trợ việc sử dụng nó.

KIỂM SOÁT RỐI LOẠN CHUYỂN HÓA XƯƠNG VÀ KHOÁNG XƯƠNG

Rối loạn chuyển hóa xương và khoáng xương do bệnh thận mạn (Chronic kidney disease–Mineral bone disease, CKD–MBD) được xem là “một rối loạn hệ thống” của quá trình chuyển hóa các chất khoáng và cấu trúc xương trong bệnh thận mạn, với biểu hiện có thể dưới một hoặc nhiều nhóm rối loạn sau:

  • Bất thường chuyển hóa canxi, phốt pho, PTH hoặc vitamin D.
  • Bất thường trong chuyển hóa xương, khoáng hóa, khối lượng hoặc độ bền của xương.
  • Vôi hóa mạch máu hoặc mô mềm.

Rối loạn về hóa sinh thường gặp gồm các bất thường liên quan đến canxi huyết thanh, phosphate, magie, hormon tuyến cận giáp (PTH), yếu tố tăng trưởng nguyên bào sợi-23 (FGF-23) và vitamin D.

CKD–MBD bao gồm các thực thể sau:

  • Viêm xương xơ: là một biểu hiện của cường tuyến cận giáp, đặc trưng bởi tăng hoạt động của hủy cốt bào và nguyên bào xương, kèm xơ hóa quanh bè xương và tăng chu chuyển xương.
  • Nhuyễn xương: biểu hiện của giảm khoáng hóa xương, trước đây thường liên quan ứ đọng nhôm.
  • Bệnh xương bất sản (ABD): đặc trưng bởi giảm chu chuyển xương.
  • Thiểu xương và loãng xương.
  • Loạn dưỡng xương hỗn hợp do thận: là tình trạng phối hợp các bất thường kể trên.
  • Các bất thường khác về xương trong BTM (ví dụ nhiễm toan mạn tính, bệnh amyloidosis do β2-microglobulin).
Các chỉ dấu của cường cận giáp thứ phát do thận
Xương Ngoài xương
Loãng xương Canxi hóa mạch máu, mô mềm
Gãy xương Loét da hoại tử do canxi (calciphylaxis)
Đau cơ, đau khớp Ngứa
Biến dạng xương Thiếu máu
Chậm phát triển ở trẻ nhỏ Hội chứng mắt đỏ
Hệ thống TMV phân loại loạn dưỡng xương do thận
Chu chuyển xương (T) Khoáng hoá xương (M) Thể tích xương (V)
Thấp Bình thường Thấp
Bình thường Bình thường Bình thường
Cao Cao

Sinh thiết xương được coi là tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán loạn dưỡng xương do thận. Do chi phí cao và yêu cầu kỹ thuật chặt chẽ, trong thực hành lâm sàng, đa số trường hợp thường sử dụng các dấu ấn sinh học của xương để đánh giá loạn dưỡng xương do thận.

Chẩn đoán và chẩn đoán phân biệt

Xét nghiệm

  • Canxi máu: thường giảm từ giai đoạn 4, và tăng khi có cường cận giáp.
  • Phosphate máu: thường tăng rõ từ giai đoạn 4 trở đi.
  • Hormon cận giáp PTH: thường định lượng PTH nguyên vẹn (iPTH), giới hạn bình thường ở người lớn là ~60 pg/ml; chẩn đoán loạn dưỡng xương do thận bằng iPTH chỉ khi giá trị ở mức rất cao.
  • Ở bệnh nhân lọc máu, nồng độ iPTH trên 600 pg/ml là dấu hiệu của viêm xương xơ hóa. Ở các giai đoạn sớm của BTM, ngưỡng iPTH trong chẩn đoán chưa được xác định rõ.
  • Vitamin D: định lượng nồng độ 25-hydroxyvitamin D3 huyết thanh.
  • Phosphatase kiềm (ALP): tăng cao trong bệnh xương do cường cận giáp, là dấu hiệu của hủy xương. Chỉ số phosphatase kiềm đặc hiệu xương (b-ALP) có giá trị chẩn đoán cao hơn ALP.
  • Osteocalcin: giúp đánh giá tốc độ chu chuyển xương.
  • Phosphatase acid kháng tartrate và các sản phẩm thoái hóa collagen: đánh giá hoạt động của hủy cốt bào.

X quang xương

  • X quang xương có thể phát hiện các biểu hiện trong bệnh lý xương do thận ở giai đoạn muộn, do hậu quả của cường cận giáp thứ phát: xói mòn dưới màng xương ở tay, xương đòn, xương chậu, các ổ khuyết xương khu trú trên phim X quang sọ…
  • X quang xương có giá trị chẩn đoán hạn chế do có thể bình thường ngay cả khi bệnh nhân có rối loạn nặng trên sinh thiết xương.

Đo mật độ xương

  • Đo hấp phụ năng lượng tia X kép (Dual Energy X-ray Absorptiometry, DEXA) được sử dụng rộng rãi; mặc dù DEXA không xác định bản chất của loạn dưỡng xương hoặc không giúp chẩn đoán phân biệt với loãng xương nguyên phát, nhưng có giá trị dự đoán nguy cơ gãy xương ở bệnh nhân BTM.

Sinh thiết xương

Không được áp dụng rộng rãi trong lâm sàng; có thể cân nhắc chỉ định khi:

  • Có sự khác biệt/không đồng nhất giữa các kết quả xét nghiệm.
  • Gãy xương hoặc đau xương không giải thích được.
  • Canxi hóa mạch máu tiến triển nặng.
  • Tăng canxi máu không giải thích được.
  • Nghi ngờ nhiễm độc nhôm.
  • Cân nhắc điều trị ở bệnh nhân BTM bị gãy xương.

Kiểm soát rối loạn xương và khoáng xương trong BTM

  • Mục tiêu chính là điều trị dự phòng sự xuất hiện các rối loạn xương và khoáng xương, đồng thời kiểm soát cường cận giáp thứ phát.
  • Nên điều trị cường cận giáp ở bệnh nhân BTM từ giai đoạn 3 nhằm ngăn ngừa tăng sản tuyến cận giáp.

Kiểm soát canxi, phosphate và PTH máu bằng phương pháp nội khoa

  • Chế độ ăn hạn chế phosphate: hạn chế protein, tránh các sản phẩm từ sữa và một số loại hạt (như hạnh nhân), đồng thời hạn chế các thức ăn chế biến sẵn.
  • Các thuốc gắn phosphate: bao gồm các muối nhôm, magie, sắt, canxi và các polymer không hấp thu tại đường ruột. Trong thực hành, các thuốc gắn phosphate chứa canxi và sevelamer được sử dụng nhiều nhất.
  • Bổ sung canxi.
  • Bổ sung vitamin D khi nồng độ 25-hydroxyvitamin D < 30 ng/ml, kèm theo cường cận giáp và/hoặc hạ canxi máu kéo dài.
  • Calcitriol và các vitamin D 1α-hydroxyl hóa như 1α-hydroxyvitamin D3 (alfacalcidol), 1α-hydroxyvitamin D2 (doxercalciferol) và 19-nor-1α,25-dihydroxyvitamin D2 (paricalcitol) đều có hiệu quả trong kiểm soát cường cận giáp thứ phát.
  • Trước khi khởi trị vitamin D, cần tiến hành xét nghiệm hormon cận giáp, đánh giá và điều chỉnh tình trạng thiếu 25-hydroxyvitamin D, đồng thời kiểm soát phosphate huyết thanh.
So sánh các nhóm thuốc gắn phosphate
Thuốc Ưu điểm Nhược điểm
Chứa canxi Hiệu quả, rẻ tiền Có thể gây tăng canxi máu và/hoặc thúc đẩy canxi hoá mạch máu
Sevelamer Hiệu quả, giảm tác dụng phụ trên tiêu hoá (buồn nôn, nôn, tiêu chảy, đầy bụng, đau bụng, canxi hoá mạch máu) do ít làm tăng canxi máu Đắt tiền.
Chứa magie Hiệu quả, rẻ tiền Tác dụng phụ trên đường tiêu hoá (tiêu chảy), suy hô hấp (hiếm gặp)
Chứa nhôm Hiệu quả, rẻ tiền Bệnh não, thiếu máu, nhuyễn xương.
Nồng độ mục tiêu của canxi, phosphate và PTH
KDOQI KDIGO JSDT
Canxi
BTM 3-5 Bình thường Bình thường -
BTM 5D Bình thường Bình thường
(8,4-10 mg/dL)
8,4 - 9,5 mg/dL
Phosphate
BTM 3-4 2,7-4,6 mg/dL Bình thường -
BTM 5 3,5-5,5 mg/dL Bình thường -
BTM 5D < 5,5 mg/dL Bình thường 3,5-6,0 mg/dL
iPTH
BTM 3 35-70 pg/mL - -
BTM 4 70-110 pg/mL - -
BTM 5 200-300 pg/mL - -
BTM 5D 200-300 pg/mL 2-9 lần giới hạn
bình thường trên
60-180 pg/mL

  • Calcimimetics (thuốc bắt chước canxi): chế phẩm sử dụng là Cinacalcet để điều trị cường cận giáp và không làm tăng canxi máu. Chỉ định cho bệnh nhân BTM giai đoạn cuối và bệnh nhân lọc máu khi iPTH huyết thanh > 300 pg/mL.

Phẫu thuật cắt bỏ tuyến cận giáp

Chỉ định phẫu thuật cắt tuyến cận giáp:

  • Bệnh nhân BTM giai đoạn cuối, có cường cận giáp nặng (thường là PTH > 800 pg/mL và ALP tăng cao) và kèm thêm các triệu chứng: tăng canxi máu dai dẳng; tăng phosphate máu dai dẳng; PTH tăng liên tục không đáp ứng điều trị nội khoa; canxi hóa ngoài xương tiến triển, bao gồm calciphylaxis; ngứa dai dẳng.
  • Bệnh nhân được ghép thận: PTH tăng kèm tăng canxi máu không kiểm soát được bằng nội khoa; PTH tăng kèm giảm chức năng thận ghép không giải thích được.
Kiểm soát CKD-MBD theo giai đoạn BTM
Kiểm soát CKD-MBD theo giai đoạn BTM

Bệnh xương do thận có chu chuyển xương thấp

Chẩn đoán

  • Nồng độ iPTH < 100 – 150 pg/mL ở bệnh nhân BTM giai đoạn lọc máu.
  • Dựa vào kết quả sinh thiết xương.

Điều trị

  • Duy trì PTH trong giới hạn khuyến cáo (ở bệnh nhân lọc máu, từ 2 đến 9 lần giới hạn bình thường trên).
  • Phương pháp điều trị:
    • Tránh sử dụng các chế phẩm chứa canxi.
    • Giảm hoặc ngừng sử dụng các chế phẩm vitamin D.
    • Giảm hoặc ngừng các chất gắn phosphate có chứa canxi và giảm nồng độ canxi dịch lọc (thường xuống 1,25 mmol/L).
    • Không sử dụng các thuốc có chứa nhôm.
    • Theo dõi thường xuyên PTH, canxi, phosphate, phosphatase kiềm (đặc biệt là phosphatase kiềm đặc hiệu xương).
  • Một số phương pháp điều trị khác có thể cân nhắc tùy theo từng trường hợp:
    • Tối ưu hoá kiểm soát bệnh đái tháo đường.
    • Thay đổi từ lọc màng bụng sang thận nhân tạo để dễ điều chỉnh canxi dịch lọc.
    • Sử dụng PTH tái tổ hợp (ví dụ: sau phẫu thuật cắt bỏ toàn bộ tuyến cận giáp) và thuốc tiêu canxi (tác nhân đối kháng với thụ thể canxi và làm tăng PTH nội sinh).

KIỂM SOÁT TĂNG KALI MÁU

Nguyên nhân

  • Cung cấp quá nhiều kali: hiếm khi xảy ra ở người khỏe; thường gặp khi dùng kali liều cao qua đường uống hoặc đường tĩnh mạch, đặc biệt khi tốc độ truyền nhanh đi kèm bài tiết kali chậm (điều trị bằng thuốc lợi tiểu giữ kali, suy thận).
  • Dịch chuyển quá mức từ nội bào ra ngoại bào: nhiễm toan chuyển hóa; tăng dị hóa tế bào khi có phá hủy mô cấp gây giải phóng kali (hủy/tiêu cơ vân, dập cơ vân; bỏng rộng; tan máu nội mạch; ly giải khối u; xuất huyết tiêu hóa; tái phân bổ mạch máu; tăng thân nhiệt); tăng áp lực thẩm thấu máu; hoạt động thể lực nặng; một số thuốc (chẹn β không chọn lọc, ức chế hệ renin-angiotensin-aldosterone, ngộ độc digitalis, đồng vận α adrenergic, succinylcholine…).
  • Giảm khả năng bài tiết qua thận: suy thận, suy thượng thận, hội chứng giảm renin giảm aldosterone; một số thuốc (NSAIDs, Cyclosporin, Tacrolimus, Heparin, thuốc ức chế men chuyển/ức chế thụ thể Angiotensin II, ức chế renin trực tiếp, kháng aldosterone, chẹn kênh natri biểu mô…).

Lâm sàng

a. Triệu chứng tim mạch
  • Những thay đổi trên điện tâm đồ xuất hiện tăng dần liên tiếp theo mức độ nặng: Sóng T cao, nhọn, đối xứng có thể vượt quá đỉnh của sóng R; biểu hiện rõ ở các chuyển đạo trước tim (V2 đến V4) và sau (DII và DIII).
  • Bất thường dẫn truyền trong nhĩ (sóng P giảm sau đó biến mất), rối loạn dẫn truyền nhĩ–thất (bloc xoang–nhĩ và bloc nhĩ–thất).
  • Rối loạn dẫn truyền trong thất với QRS giãn rộng.
  • Nhịp tim chậm kèm QRS rộng trước khi vô tâm thu.

Rối loạn nhịp thất (nhịp thất tự phát, nhịp nhanh thất, rung thất) có thể xảy ra khi tăng kali máu đồng thời với thiếu máu cục bộ cơ tim, hạ canxi máu nặng, hạ thân nhiệt, nhiễm toan nặng, nhiễm độc digitalis hoặc kích thích thần kinh phế vị nặng.


b. Triệu chứng thần kinh cơ
  • Thường không đặc hiệu: rối loạn cảm giác nông như nóng rát hoặc dị cảm ở các chi; yếu cơ hoặc thậm chí liệt mềm từ chi dưới và tiến triển lên trên, có thể lan đến cơ cổ làm mất khả năng giữ đầu thẳng. Ở thể nặng, có thể ảnh hưởng đến các cơ hô hấp dẫn đến suy hô hấp. Trên thực tế, liệt mềm do tăng kali máu luôn đi kèm với bất thường trên điện tâm đồ và là dấu hiệu báo trước tình trạng sắp ngừng tim.
c. Triệu chứng huyết động
  • Ở thể nặng tăng kali máu ảnh hưởng đến sự co bóp của tim, gây hạ huyết áp—đây là dấu hiệu của tình trạng nặng.

Chẩn đoán

Khi có nghi ngờ tăng kali máu, cần tiến hành ngay ECG, điện giải đồ và đánh giá mức độ nặng để quyết định điều trị khẩn cấp. Trường hợp có các rối loạn dẫn truyền hoặc các triệu chứng thần kinh cơ thì cần điều trị tối khẩn cấp.

Các bước chẩn đoán nguyên nhân gây tăng kali máu:

  • Loại trừ tình trạng tăng kali máu giả.
  • Đánh giá lượng kali đưa vào.
  • Tìm nguyên nhân gây dịch chuyển kali từ nội bào ra ngoại bào.
  • Đánh giá tình trạng ly giải tế bào.
  • Đo kali niệu.
  • Tìm các yếu tố thúc đẩy tăng kali máu.

Điều trị

  • Tốc độ và phương thức xử trí phụ thuộc vào mức độ cũng như tốc độ khởi phát tăng kali máu; đồng thời đánh giá dấu hiệu trên điện tâm đồ và tình trạng lâm sàng (đặc biệt biểu hiện thần kinh cơ).
  • Xử trí ngay lập tức khi nồng độ kali máu vượt 7 mmol/l hoặc trong trường hợp đặc biệt có mất sóng P và/hoặc rối loạn dẫn truyền trong thất.
  • Cần giảm liều hoặc ngừng các thuốc có nguy cơ gây tăng kali máu; đồng thời điều chỉnh chế độ ăn, hạn chế các thực phẩm giàu kali và tư vấn chuyên gia dinh dưỡng.

Nguyên tắc điều trị

  • Tăng kali máu cấp mức độ nặng > 7 mmol/l hoặc có nguy cơ trên điện tâm đồ, đồng thời không phải đang ngộ độc digitalis:
    • Tiêm canxi tĩnh mạch (ưu tiên canxi gluconate) 1g trong 2-3 phút.
    • Truyền glucose 10% tĩnh mạch với 10-15 IU insulin, kết hợp khí dung salbutamol.
    • Truyền Bicarbonate tĩnh mạch khi có nhiễm toan tăng Cl- máu (và không có phù phổi cấp): dùng dung dịch 1,4% với liều 44 mmol mỗi 5 phút; nếu bệnh nhân phù và THA cân nhắc dùng dung dịch kiềm ưu trương 4,2% tiêm tĩnh mạch chậm.
    • Khi có phù phổi cấp kết hợp: furosemide tĩnh mạch liều cao. Trường hợp có tắc nghẽn đường tiết niệu hoặc không đáp ứng với lợi tiểu (do suy thận thực thể) cần chỉ định lọc máu. Chống chỉ định dùng các dung dịch có chứa natri.
  • Tăng kali máu cấp mức độ trung bình (từ 6-7 mmol/l), không ảnh hưởng dẫn truyền tim:
    • Truyền glucose 10% tĩnh mạch với 10-15 IU insulin và/hoặc khí dung salbutamol.
    • Giảm cung cấp kali qua đường ăn và đường tĩnh mạch.
    • Loại bỏ các thuốc làm tăng kali máu.
    • Điều chỉnh toan chuyển hóa trung bình bằng natri bicarbonate uống 2-4 g/ngày.
  • Tăng kali máu mạn tính vừa phải, đặc biệt trong suy thận mạn: sử dụng Resine trao đổi ion như sodium polystyrene sulfonate hoặc calcium polystyrene sulfonate trao đổi ion kali để lấy ion natri/canxi tại đại tràng không chọn lọc (1-2mmol K+/g resine) với liều 10-15g x 2-3 lần/ngày; hoặc các thuốc polymer gắn Kali đường uống thế hệ mới, như muối silicate của zirconium, có thể điều chỉnh liều để duy trì nồng độ K máu trong giới hạn an toàn.
  • Ngộ độc digitalis: điều trị sớm bằng thuốc đối kháng đặc hiệu (DIGIDOT).
  • Tăng kali máu kèm giảm aldosteron (suy thượng thận): điều trị bằng 9-fluorohydrocortisone.

Điều chỉnh rối loạn dẫn truyền cơ tim

  • Tiêm canxi tĩnh mạch 1g trong 2 đến 3 phút (1 ống canxi gluconate 10 ml 10% hoặc 2 ống canxi chlorid 5ml 10%). Canxi có thể cải thiện các bất thường dẫn truyền tim sau 1 đến 3 phút; thời gian tác dụng tối đa từ 30 đến 60 phút. Ưu tiên canxi gluconate.
  • Tiêm lặp lại sau 5 phút nếu chưa đạt hiệu quả, theo dõi điện tâm đồ.
  • Chống chỉ định dùng canxi khi điều trị bằng digitalis (có thể thay thế bằng magie chlorid); không được trộn lẫn hoặc pha vào natri bicarbonate.

Dịch chuyển kali vào trong tế bào

  • Insulin 10-15 IU phối hợp dung dịch glucose 10% (500ml) để tránh hạ đường máu; truyền tĩnh mạch trong 15-30 phút. Hiệu quả: làm giảm kali máu từ 0,5 đến 1,2 mmol/l trong 1-2 giờ.
  • Thuốc β-adrenergic, đặc biệt là salbutamol, có tác dụng cộng thêm với insulin. Liều khuyến cáo về lý thuyết gấp 4 lần so với liều điều trị hen (20 mg trong 4 ml dung dịch muối đẳng trương 0,9%, khí dung trong 10 phút).
  • Kiềm hóa máu chỉ được khuyến cáo trong trường hợp nhiễm toan chuyển hóa cấp với khoảng trống anion bình thường; hiệu quả không đáng kể ở người bệnh bị suy thận mạn tiến triển. Natri bicarbonate 50mmol truyền tĩnh mạch (300ml dung dịch đẳng trương 1,4%); thời gian tác dụng 4-6 giờ. Có thể cân nhắc sử dụng dung dịch ưu trương 4,2% (100ml) hoặc 8,4% (50ml) tĩnh mạch nếu người bệnh có nguy cơ quá tải dịch hoặc phù phổi, nhưng dung dịch ưu trương có nguy cơ gây tổn thương tĩnh mạch. Không được truyền bicarbonate cùng lúc với tiêm canxi.

Tăng đào thải kali

  • Thuốc lợi tiểu quai: thời gian tác dụng từ 1 đến 4 giờ, hiệu quả không hằng định. Chống chỉ định trong trường hợp mất nước ngoại bào.
  • Lọc thận nhân tạo: chỉ định bắt buộc khi suy thận vô niệu kèm tăng kali máu đe dọa tính mạng với dấu hiệu trên điện tâm đồ, hoặc khi không đáp ứng với thuốc lợi tiểu.
  • Resine trao đổi ion: sodium polystyrene sulfonate hoặc calcium polystyrene sulfonate dạng uống (15-30 g mỗi 4-6 giờ, tác dụng trong vài giờ); dạng thụt (50-100 g). Thuốc có nguy cơ gây các biến chứng tiêu hóa như hoại tử và thủng ruột (hay gặp ở hậu phẫu, hạ huyết áp và giảm thể tích máu làm thay đổi huyết động đường tiêu hóa và ghép thận). Polymer gắn calcium trao đổi kali thế hệ mới hoặc muối silicate của nguyên tố zirconium có vai trò cố định kali ở đường tiêu hóa; các chất này gắn kali chọn lọc tại niêm mạc ruột, có thể sử dụng kéo dài. Tác dụng phụ hay gặp là táo bón, giảm magnesium, hạ kali, triệu chứng phù (đối với muối silicate của zirconium) ít gặp.

KIỂM SOÁT TOAN CHUYỂN HÓA

Nguyên nhân nhiễm toan chuyển hóa

Phân loại cơ chế gây toan chuyển hóa
Cơ chế Khoảng trống anion huyết tương tăng Khoảng trống anion huyết tương bình thường
Tích tụ acid cấp
  • Nhiễm toan lactic
  • Nhiễm toan ceton
  • Ngộ độc acid ngoại sinh (salicylat, etylen glycol, metanol)
  • Ngộ độc Clorua amoni, HCl
Mất bicarbonate
  • Bệnh tiêu chảy
  • Nối niệu quản-ruột
  • Nhiễm toan ống lượn gần (type 2)
Giảm bài tiết acid qua thận
  • Suy thận
  • Nhiễm toan ống lượn xa tăng kali máu (type 4) do rối loạn sản xuất NH4+ (do giảm aldosteron);
  • Nhiễm toan ống lượn xa (type 1) do rối loạn bài tiết H+ đoạn xa

Chẩn đoán nhiễm toan chuyển hóa

  • Rà soát các tình huống lâm sàng gợi ý: suy thận nặng, tiêu chảy nhiều, cắt đoạn ruột v.v.;
  • Giảm bicacbonat huyết tương; tăng clo máu…

Biểu hiện lâm sàng (không đặc hiệu):

  • Nhiễm toan cấp tính nặng: thở nhanh nông (tăng thông khí bù), suy hô hấp, cung lượng tim thấp, hôn mê;
  • Nhiễm toan mạn tính: sỏi và canxi hóa thận, teo cơ, chậm lớn, nhuyễn xương, gãy xương bệnh lý.
Bước 1: xác định toan chuyển hóa
  • Xét nghiệm khí máu: chẩn đoán nhiễm toan khi pH máu động mạch < 7,38 (hoặc tĩnh mạch < 7,32) và HCO3- < 22 mmol/L (giảm thứ phát PCO2 do thông khí bù).
  • Lưu ý: không cần pH máu bất thường để chẩn đoán rối loạn acid-bazơ.

Đáp ứng bù trừ có thể được dự đoán:

  • Trong nhiễm toan chuyển hóa đơn thuần, giảm [HCO3-] làm giảm PaCO2 dự kiến, được ước tính theo công thức Winter:
PaCO2 (mmHg) dự kiến = 1,5 x [HCO3-] + 8 ± 2
  • Trường hợp nhiễm toan chuyển hóa kèm nhiễm toan máu, giá trị PCO2 kỳ vọng gần với giá trị của phần trăm pH (ví dụ pH là 7,32 thì PCO2 là 32mmHg).
  • Nếu PaCO2 thấp hơn hoặc cao hơn giá trị ước tính thì cần nghĩ đến rối loạn acidbazơ hỗn hợp (nhiễm kiềm hô hấp hoặc nhiễm toan hô hấp phối hợp).
Bước 2: xác định khoảng trống anion huyết tương
  • Khoảng trống anion (TA) là chênh lệch nồng độ giữa tổng nồng độ của các cation Na+ và K+ và tổng các anion HCO3- và Cl-.
  • TA = [Na+] – [Cl- + HCO3-] = 12 ± 4 mmol/L (hoặc 16 ± 4 nếu có tính K+).
  • TA > 16 mmol/L (>20mmol/L nếu có tính K+) được xem là cao.
Sự thay đổi khoảng trống anion sẽ giúp đánh giá anion Cl- hoặc các anion không định lượng được (protein huyết tương, phốt phát, sunfat và các anion hữu cơ khác) có tăng hay không, tức có mất HCO3- hay không.
  • Nhiễm toan với khoảng trống anion bình thường (tăng HCl): mất HCO3- qua thận hoặc tiêu hóa; giảm HCO3- được bù lại bằng tăng Cl- (tăng HCl) dẫn đến toan chuyển hóa có tăng Cl-.
  • Nhiễm toan với khoảng trống anion tăng: tăng H+ kèm với một anion không định lượng được, giảm [HCO3-] được thay bằng 1 anion không định lượng được (ví dụ: lactat).
Bước 3a: Chẩn đoán nhiễm toan chuyển hóa có tăng khoảng trống anion
  • Định lượng lactate để chẩn đoán nhiễm toan tăng acid lactic. Nguyên nhân do sốc kèm thiếu oxy mô, ngộ độc thuốc biguanide.
  • Định lượng ceton máu, thử ceton niệu để chẩn đoán nhiễm toan cetone. Nguyên nhân do đái tháo đường và hiếm gặp hơn do rượu, thuốc.
  • Đánh giá chức năng thận để phát hiện nhiễm toan thứ phát do suy thận nặng (cấp hoặc mạn). Đặc điểm là khoảng trống anion tăng ít (< 26 mmol/L). Nguyên nhân do giảm thải ion H+ ở thận và tích tụ các anion không được thải qua thận (các acid hữu cơ, phosphate, sulfate…).
  • Tìm bằng chứng của ngộ độc các acid ngoại sinh: salicylate, ethylene glycol, methanol.
Bước 3b. Chẩn đoán nhiễm toan chuyển hóa có khoảng trống anion bình thường (tăng Cl-)
  • Nguyên nhân thường gặp là ỉa chảy, cắt đoạn ruột non… gây mất bicarbonate qua đường tiêu hóa và nhiễm toan ống thận
Chẩn đoán nhiễm toan ống thận
  • Tính khoảng trống anion niệu: TAniệu = UNa + UK – UCl
  • Bình thường khoảng trống anion niệu dương nhẹ.
  • Nếu TAniệu < 0 (nghĩa là nồng độ NH4+ niệu tăng, đáp ứng thận tốt) → nhiễm toan nguồn gốc ngoài thận (mất bicarbonate qua đường tiêu hóa).
  • Nếu TAniệu > 0 (nghĩa là nồng độ NH4+ niệu thấp, đáp ứng thận không phù hợp) → nhiễm toan nguồn gốc ống thận.
Phân loại toan chuyển hóa với khoảng trống anion bình thường
Ỉa chảy Nhiễm toan ống thận
Ống lượn gần
(type 2)
Ống lượn xa
(type 1)
Ống lượn xa
có tăng kali máu
Cơ chế và khiếm khuyết Mất HCO3- qua đường tiêu hóa Mất HCO3- do khiếm khuyết tái hấp thu ở ống lượn gần Rối loạn sự toan hóa ở ống lượn xa do tiết H+ bởi bơm proton bất thường (rối loạn bài tiết) hoặc bởi tái phân bố H+ (rối loạn chênh lệch áp lực) Rối loạn sản xuất NH4+ do giảm aldosterone là hay gặp nhất
NH+ niệu ↑↑↑ ↓↓↓ ↓↓↓
TA niệu << 0 Ít thay đổi hoặc dương nhẹ > 0 >> 0
Các dấu hiệu đi kèm - Hội chứng Fanconi
- Thiểu xương
- Nhiễm canxi nhu mô thận
- Thiểu xương kèm sỏi thận, rối loạn gen (điếc)
Các dấu hiệu giảm mineralocorticoid
Nguyên nhân - Đa u tủy xương
- Bệnh lý lắng đọng Cystin
- Acetazolamide
- Ifosfamide
- Tenofovir
Rối loạn bài tiết:
- Sjogren's, lupus.
- Tăng canxi niệu
- Bệnh hồng cầu hình liềm.
Rối loạn chênh lệch áp lực:
- Amphotericin B
- Bệnh thận tắc nghẽn
- Giảm renin, giảm aldosterone (ĐTĐ)
- ƯCMC/ức chế thụ thể, NSAIDs.
- Spironolactone, amiloride
- Suy thượng thận
- Heparine
- Thuốc CNI
- Trimethoprime
- Pentamidine
Tần suất (người lớn) Hay gặp Hiếm gặp Hiếm gặp Hay gặp
Kali máu Thấp Thấp, nặng hơn khi bù kiềm Thấp cải thiện khi bù kiềm Tăng
pH niệu < 5,5 Thay đổi,
< 5,5 trong tình trạng ổn định
> 5,5 < 5,5 (thấp theo từng cá nhân)
Sơ đồ chẩn đoán nhiễm toan máu

Điều trị toan chuyển hóa

Toan chuyển hóa cấp tính

Xử trí cấp cứu khi pH < 7,10 hoặc bicarbonate < 8 mmol/L.
  • Điều trị nguyên nhân; đặc biệt với nhiễm toan lactic trước tiên cần cải thiện tình trạng tưới máu mô và phối hợp giải quyết tốt nguyên nhân.
  • Loại bỏ CO2 bằng thông khí nhân tạo, điều chỉnh lưu lượng thấp.
Kiềm hóa:
  • Nhiễm toan tăng Cl- hoặc nhiễm toan liên quan đến một số ngộ độc: truyền tĩnh mạch natri bicarbonate để nhanh chóng tăng độ pH > 7,20 và bicarbonate > 10 mmol/L:
    • Lượng HCO3- (mmol) = {[HCO3-] mong muốn - [HCO3-] đo được} x 0,5 x trọng lượng (tính bằng kg);
    • Tránh kiềm hóa trong trường hợp quá tải muối nước và/hoặc hạ kali máu.
  • Nhiễm toan ceton: phối hợp insulin và bù đủ dịch muối sinh lý.
- Lọc máu ngoài thận nếu có suy thận thực thể kèm theo để tránh quá tải muối nước.

Nhiễm toan mạn tính có nguồn gốc từ thận

  • Nhiễm toan ống lượn gần và nhiễm toan ống lượn xa type 1: thực hiện điều trị bằng muối kiềm (dùng citrate natri hoặc citrate kali, tùy theo dạng bất thường nào chiếm ưu thế) nhằm hạn chế hình thành sỏi.
  • Nhiễm toan ống thận tăng kali máu: áp dụng resine trao đổi ion (sodium polystyrene sulfonate hoặc calcium polystyrene sulfonate, cùng với các thuốc gắn kali mới), đồng thời sử dụng furosemide và fludrocortisone khi có suy thượng thận.
  • Suy thận: duy trì nồng độ bicarbonate huyết tương > 22 mmol/L bằng cách uống natri bicarbonate với liều 1 đến 6 g mỗi ngày.

KIỂM SOÁT TỔN THƯƠNG THẬN CẤP TRONG BỆNH THẬN MẠN

Bệnh nhân bệnh thận mạn (BTM) có nguy cơ xuất hiện tổn thương thận cấp (TTTC) cao, tương ứng với đợt cấp của BTM. TTTC trên nền BTM làm tăng tốc độ tiến triển của BTM.

Chẩn đoán TTTC ở bệnh nhân BTM khi có ít nhất 1 trong 3 tiêu chí sau:

  • Tăng creatinine máu > 0,3 mg/dL (26,5 μmol/L) so với creatinine nền trong vòng 2 ngày (48 giờ);
  • Tăng creatinine máu > 50% so với creatinine nền trong vòng 7 ngày;
  • Lưu lượng nước tiểu < 0,5 ml/kg/h trong 6 giờ.

Nguyên nhân

Nguyên nhân trước thận

  • Mất nước ngoại bào (mất qua da ví dụ mất mồ hôi, bỏng rộng; mất qua đường tiêu hoá ví dụ nôn, tiêu chảy, lỗ rò; mất qua thận).
  • Giảm thể tích máu (trong hội chứng thận hư nặng, xơ gan mất bù, suy tim xung huyết).
  • Tụt huyết áp trong các tình trạng sốc (sốc tim, nhiễm trùng, phản vệ, xuất huyết).
  • Rối loạn cơ chế tự điều hòa huyết động tại thận do thuốc (ƯCMC, ƯCTT angiotenin II, các NSAID, CNI).

Nguyên nhân tại thận

  • Viêm/hoại tử ống thận cấp (chiếm 80% các trường hợp suy thận cấp thực thể) và thường là diễn tiến từ suy thận cấp chức năng; ngoài ra có thể gặp sốt rét đái huyết sắc tố, ngộ độc mật cá trắm, ngộ độc muối kim loại nặng (As, Pb, Hg), tan máu trong lòng mạch do truyền nhầm nhóm máu, nhiễm độc quinine, nấm, một số loại thuốc (kháng sinh Aminosides, kháng nấm Amphotericine B), thuốc cản quang.
  • Viêm cầu thận cấp thể tiến triển nhanh: viêm cầu thận hoại tử và ngoại mạch trong bối cảnh viêm mạch hoại tử; viêm cầu thận tăng sinh nội mạch và ngoại mạch trong lupus, ban xuất huyết dạng thấp; viêm cầu thận thể tiến triển nhanh trong hội chứng Goodpasture.
  • Viêm kẽ thận cấp do vi khuẩn (viêm thận bể thận cấp), ngộ độc thuốc (bệnh cảnh miễn dịch-dị ứng).

Nguyên nhân sau thận

  • Sỏi.
  • Khối u chèn ép hoặc xâm lấn (u lành tính hoặc ác tính, trong đường tiết niệu hoặc từ ngoài đường tiết niệu): phì đại tuyến tiền liệt; ung thư tuyến tiền liệt; u đường bài xuất, bàng quang, tử cung, cổ tử cung, đại trực tràng; u lympho.
  • Dải xơ sau phúc mạc.
  • Lao.
  • Một số nguyên nhân khác: tắc ống thận, máu cục, thắt nhầm niệu quản, dị vật, bàng quang thần kinh, sa cơ quan sinh dục…

Dấu hiệu lâm sàng

Diễn biến lâm sàng điển hình của TTTC gồm 4 giai đoạn:

  1. Giai đoạn khởi đầu: diễn tiến phụ thuộc nguyên nhân; cần chủ động rà soát các yếu tố nguy cơ (ngộ độc, thuốc, nhiễm trùng…).
  2. Giai đoạn thiểu niệu, vô niệu: thiểu niệu khi lượng nước tiểu < 500ml/24 giờ (hoặc dưới 20ml / giờ, hoặc < 0,5ml/kg/h), vô niệu khi lượng nước tiểu < 100ml/24 giờ. Giai đoạn này thường kéo dài trung bình 1-2 tuần. Nếu thiểu niệu kéo dài trên 4 tuần cần tìm tình trạng hoại tử vỏ thận, viêm cầu thận cấp thể tiến triển nhanh, viêm quanh tiểu động mạch thận, sỏi gây tắc niệu quản. Trong giai đoạn này biểu hiện chủ yếu là hội chứng ngộ độc urê cấp; thừa dịch gây THA, phù và nguy cơ phù phổi cấp; rối loạn điện giải đặc biệt là tăng Kali máu; rối loạn thăng bằng kiềm toan; đồng thời có thể kèm triệu chứng của bệnh lý nguyên nhân.
  3. Giai đoạn có lại nước tiểu/tiểu nhiều: nước tiểu xuất hiện lại và tăng dần. Tiểu nhiều có nguy cơ gây rối loạn nước-điện giải, trụy tim mạch, nhiễm trùng, viêm tắc tĩnh mạch, nhất là dị hoá gây mất cơ, và có thể tử vong. Trong những ngày đầu, urê và creatinine máu có thể tiếp tục tăng; một số bệnh nhân vẫn cần lọc máu hỗ trợ. Urê, creatinine niệu vẫn thấp; tỷ trọng nước tiểu thấp, thường dưới 1,005. Sau vài ngày tiểu nhiều, các chỉ số sinh hoá máu bắt đầu giảm dần. Cần xét nghiệm điện giải hằng ngày để điều chỉnh kịp thời.
  4. Giai đoạn phục hồi: urê và creatinine máu giảm dần, khả năng cô đặc nước tiểu tăng dần, lâm sàng cải thiện. Chức năng thận có thể phục hồi chậm; khả năng cô đặc có khi phải hàng năm mới hồi phục. Mức lọc cầu thận phục hồi nhanh hơn. Nếu được phát hiện ở giai đoạn sớm và/hoặc mức độ tổn thương không quá nặng, tổn thương thận cấp có thể không biểu hiện điển hình qua đủ 4 giai đoạn như mô tả ở trên. Trên nền BTM, TTTC có đặc điểm lâm sàng tương tự; tuy nhiên toan máu, tăng kali máu, quá tải thể tích, hạ canxi máu/tăng photphat máu, hạ natri máu, hội chứng ngộ độc urê thường xuất hiện sớm hơn và mức độ nặng hơn.

Cận lâm sàng

Xét nghiệm máu

  • Ở bệnh nhân có yếu tố nguy cơ: cần chủ động xét nghiệm urê và creatinin máu 2 ngày 1 lần hoặc ít nhất 2 lần trong vòng 7 ngày; đồng thời tính tỷ lệ ure máu/creatinin máu. Tỷ lệ > 20/1 chỉ điểm tình trạng tăng tái hấp thu urê (thường do giảm thể tích máu).
  • Tìm nguyên nhân gây TTTC:
    • Công thức máu, phiến đồ máu ngoại vi: tìm nhiễm trùng, mất máu cấp/mạn, bệnh lý vi mạch huyết khối… Mảnh vỡ hồng cầu trong máu ngoại vi gợi ý hội chứng tan máu do urê máu hoặc ban xuất huyết giảm tiểu cầu huyết khối.
    • Tìm các chỉ dấu của nhiễm trùng, Lupus, viêm mạch, viêm cầu thận cấp tiến triển nhanh: định lượng bổ thể, kháng thể Lupus, ANCA, kháng thể kháng màng đáy, PLAR2, bệnh tự miễn khác, CRP, procalcitonin, xét nghiệm huyết thanh học ký sinh trùng, virus…
  • Đánh giá mức độ tổn thương: dựa vào tốc độ tăng của urê/creatinine, kali máu; đồng thời đánh giá các rối loạn điện giải và thăng bằng kiềm toan kèm theo.
Xét nghiệm nước tiểu
  • Tế bào và cặn lắng nước tiểu giúp chẩn đoán tổn thương thận.
  • Tính phân suất bài tiết Na và Ure: phân suất bài tiết Na < 1% giúp chẩn đoán phân biệt suy thận cấp trước thận hay tại thận, nhưng bị ảnh hưởng bởi thuốc lợi tiểu. Phân suất bài tiết urê <35% gợi ý suy thận trước thận và không bị ảnh hưởng bởi thuốc lợi tiểu.
  • Một số chỉ dấu sinh học nước tiểu nhằm phát hiện tổn thương ống thận sớm hoặc đánh giá nguy cơ tiến triển TTTC như NGAL, KIM-1, L-FABP, insulin-like growth factor binding protein 7, ức chế metalloproteinase có thể được cân nhắc nếu sẵn có.
Chẩn đoán hình ảnh
  • Siêu âm bụng: tìm tắc nghẽn đường tiết niệu và gợi ý bệnh thận mạn.
  • Siêu âm Doppler động mạch thận.
  • Chụp mạch thận để chẩn đoán bệnh mạch máu thận.
Sinh thiết thận: nhằm xác định nguyên nhân tổn thương tại thận trong tổn thương thận cấp/đợt cấp trên BTM và đánh giá đáp ứng điều trị khi có chỉ định.
Test Furosemide áp lực (furosemide stress test): tiêm tĩnh mạch furosemide 1-1,5mg/kg và theo dõi lượng nước tiểu sau đó 2h. Nếu lượng nước tiểu <200ml thì bệnh nhân có nguy cơ tiến triển thành tổn thương thận cấp giai đoạn 3. Test áp dụng cho bệnh nhân TTTC giai đoạn sớm và có thể tích máu ổn định. Đáp ứng với test có thể hỗ trợ xác định thời điểm cần điều trị thay thế thận suy.

Chẩn đoán

Hiện nay, tiêu chuẩn chẩn đoán và phân độ/giai đoạn cập nhật nhất, được áp dụng thường xuyên nhất là của KDIGO năm 2012. Có thể tham khảo thêm các tiêu chuẩn khác như RIFLE và AKIN (hay còn gọi là tiêu chuẩn RIFLE điều chỉnh).

Tiêu chuẩn chẩn đoán TTTC của KDIGO 2012: tổn thương thận cấp được chẩn đoán xác định khi bệnh nhân có ít nhất một trong các biểu hiện sau:

Tiêu chuẩn tổn thương thận cấp theo KDIGO 2012
Phân độ KDIGO Tiêu chuẩn tăng creatinin máu Tiêu chuẩn về lưu lượng nước tiểu
Giai đoạn 1
  • ↑ Creatinin máu ≥ 0,3 mg/dL (≥ 26,5 μmol/L) trong vòng 48 giờ hoặc
  • ↑ Creatinin máu gấp 1,5-1,9 giá trị nền trong vòng 7 ngày
  • < 0,5 ml/kg/giờ trong 6 - 12 giờ liên tục
Giai đoạn 2
  • ↑ Creatinin máu gấp 2 – 2,9 lần
  • < 0,5 ml/kg/giờ trong ≥ 12 giờ
Giai đoạn 3
  • ↑ Creatinin máu gấp ≥ 3 lần hoặc
  • ↑ Creatinin máu đến mức ≥ 4mg/dL (≥ 353,6 μmol/L) hoặc
  • BN phải điều trị thay thế thận hoặc
  • ↓ MLCT tới < 35mL/ph/1,73m2 ở BN < 18 tuổi
  • < 0,3 ml/kg/giờ trong ≥ 24 giờ hoặc
  • Vô niệu trong ≥ 12 giờ

Nguyên tắc kiểm soát TTTC ở bệnh nhân BTM

  • Xác định nguyên nhân gây TTTC ở bệnh nhân BTM và điều trị sớm nguyên nhân.
  • Ngừng tất cả các thuốc gây độc cho thận hoặc điều chỉnh liều phù hợp với chức năng thận trong trường hợp sống còn. Cân nhắc ngừng các loại thuốc ức chế hệ RAA (thuốc ức chế men chuyển và thuốc ức chế thụ thể angiotensin II).
  • Đảm bảo huyết động ổn định, đủ dịch. Xử lý kịp thời và đầy đủ các biến chứng của TTTC (tăng kali máu, toan máu, quá tải thể tích).
  • Nhanh chóng xem xét lọc máu nếu điều trị nội khoa không hiệu quả.

Điều trị TTTC ở bệnh nhân BTM cũng giống như điều trị TTTC nói chung, cần lưu ý đặc biệt các rối loạn cấp tính gồm: Toan máu; Tăng kali máu; Quá tải thể tích; Hạ canxi máu; Hạ natri máu; Hội chứng tăng Urê máu.

Điều trị cụ thể tổn thương thận cấp

Tổn thương thận cấp chức năng

  • Khôi phục thể tích tuần hoàn bằng dung dịch điện giải, máu, huyết tương cho phần lớn các nguyên nhân trước thận; thường sử dụng dung dịch tinh thể (như muối đẳng trương 0,9%); truyền máu chỉ khi mất máu cấp gây TTTC chức năng.
  • Cân nhắc dùng thuốc vận mạch khi có tụt HA ở các trường hợp TTTC chức năng.
  • Không khuyến cáo sử dụng Dopamin liều thấp với mục đích giãn mạch tạng để dự phòng và điều trị TTTC.

Tổn thương thận cấp thực thể

  • Khi vô niệu: áp dụng chế độ ăn nhạt hoàn toàn, kiểm soát lượng dịch vào (bao gồm cả dịch truyền và uống) mỗi ngày không quá 700ml ở người trung bình 50kg, không để tăng cân.
  • Khi thừa dịch và không tắc nghẽn đường tiết niệu: tiêm TM Furosemid liều 120-160mg mỗi 3 - 4 giờ, liều tối đa có thể đến 1000mg-1500 mg/24h. Nếu đã dùng đủ liều tối đa trong ngày mà vẫn không có nước tiểu thì ngừng. Không khuyến cáo dùng Furosemid để điều trị dự phòng TTTC.
  • Khi có tăng K máu: tham khảo hướng dẫn cụ thể ở mục “Tăng Kali máu”.
  • Khi có toan chuyển hoá: tham khảo hướng dẫn cụ thể ở mục “Toan chuyển hóa”.
  • Điều trị lọc máu ngoài thận khi điều trị nội khoa không hiệu quả.
  • Theo dõi sát lưu lượng nước tiểu và tình trạng bệnh nhân ở giai đoạn tiểu nhiều để bù dịch và điện giải.

Tổn thương thận cấp sau thận

  • TTTC sau thận còn gọi là TTTC do tắc nghẽn; nguyên tắc quan trọng nhất là loại bỏ yếu tố gây tắc nghẽn.

Điều trị nguyên nhân

  • Tùy theo từng nguyên nhân để chọn điều trị phù hợp; ví dụ điều trị sốt rét trong suy thận cấp sau sốt rét đái Hemoglobin; mổ lấy sỏi trong suy thận cấp do sỏi gây tắc nghẽn...

KIỂM SOÁT VIÊM GAN VIRUS B, C Ở BỆNH NHÂN BỆNH THẬN MẠN

Viêm gan virus B

Sàng lọc nhiễm viêm gan virus B

Khuyến cáo thực hiện sàng lọc nhiễm virus viêm gan B cho mọi bệnh nhân (BN) bị bệnh thận mạn (btm) chưa rõ tình trạng nhiễm, chưa từng được xét nghiệm trước đó và chưa được tiêm vắc xin khi còn nhỏ, với các xét nghiệm HBsAg, anti-HBc và anti-HBs.

Ý nghĩa các xét nghiệm sàng lọc nhiễm virus viêm gan B
Xét nghiệm sàng lọc Giải nghĩa Xử trí Quyết định tiêm vắc xin
HBsAg Anti-HBc Anti-HBs
+ + - Viêm gan B mạn Cần xét nghiệm thêm và cần xử trí Không
- + + Nhiễm viêm gan B cũ, đã khỏi Không cần xử trí thêm trừ người suy giảm miễn dịch, đang phải đi điều trị hóa chất hay thuốc ức chế miễn dịch Không
- + - Nhiễm viêm gan B cũ, đã khỏi hoặc dương tính giả Xét nghiệm HBV-DNA nếu BN suy giảm miễn dịch Có, nếu không đến từ vùng dịch tễ trung bình hoặc cao
- - + Người có miễn dịch Không cần xét nghiệm thêm Không
- - - Người chưa nhiễm hoặc không có miễn dịch Không cần xét nghiệm thêm
Tiêu chuẩn chẩn đoán các thể bệnh nhiễm viêm gan virus B mạn
Thể bệnh HBsAg HBV-DNA HBeAg AST, ALT Sinh thiết gan
Viêm gan B mạn (+) ≥ 6 tháng (+/-) (+/-) Bình thường hoặc tăng Viêm gan mạn kèm viêm hoại tử và xơ hóa
Viêm gan B mạn dung nạp miễn dịch (+) ≥ 6 tháng (++) (+) Bình thường hoặc tăng Viêm tối thiểu, xơ hóa ít
Viêm gan B mạn hoạt động miễn dịch (+) ≥ 6 tháng >20.000UI/m (+) Tăng Viêm gan mạn kèm viêm hoại tử vừa hoặc nặng
Xơ hóa (+/-)
>2.000UI/ml (-)
Viêm gan B mạn không hoạt động (+) ≥ 6 tháng <2.000UI/ml (-)
Anti HBe (+)
Bình thường Viêm hoại tử (-)
Xơ hóa (+/-)

- Các tình trạng khác:

  • Tái hoạt HBV: mất kiểm soát miễn dịch kháng HBV ở người có HBsAg (+), antiHBc (+) hoặc HBsAg (-), anti-HBc (+) đang điều trị thuốc ức chế miễn dịch; tăng HBV-DNA so với chỉ số nền (hoặc phát hiện được HBV-DNA ở người trước đó dưới ngưỡng phát hiện); chuyển đổi huyết thanh từ HBsAg (-) sang (+) đối với người có HBsAg (-) và anti-HBc (+)
  • Cơn viêm gan cấp: tăng ALT gấp ≥ 3 lần so với chỉ số nền và > 100UI/l
  • Viêm gan kèm HBV: tái hoạt HBV và cơn viêm gan cấp
  • Mất HBeAg: không còn HBeAg ở người trước đó có HBeAg (+)
  • Chuyển đổi huyết thanh HBeAg: mất HBeAg và xuất hiện anti-HBe ở người trước đó có HBeAg (+) và anti-HBe (-)
  • Đảo ngược huyết thanh HBeAg: HBeAg (+) lại ở người trước đó có HBeAg (-)
  • Viêm gan virus B đã khỏi: mất HBsAg bền vững ở người trước đó có HBsAg (+), HBV-DNA dưới ngưỡng phát hiện, không có bằng chứng lâm sàng và mô học về nhiễm virus hoạt động
  • Virus đột phá: tăng HBV-DNA >1 log10 (10 lần) từ chỉ số thấp nhất trong quá trình điều trị ở người đã có đáp ứng virus học với điều trị lúc khởi đầu và tuân thủ điều trị tốt.

Tư vấn cho người có HBsAg dương tính

  • Tiêm vắc xin cho những người trong gia đình và bạn tình của họ.
  • Sử dụng các biện pháp tình dục an toàn khi quan hệ tình dục với người chưa tiêm vaccin hoặc chưa có miễn dịch tự nhiên.
  • Không dùng chung các vật dụng cá nhân như bàn chải răng, dao cạo râu,…
  • Không dùng chung bơm kim tiêm và thiết bị thử đường máu.
  • Băng kín các vết cắt hay sước da.
  • Làm sạch các vết máu bằng dung dịch khử trùng.
  • Không hiến máu và hiến tinh trùng.
  • Người đã nhiễm virus viêm gan B có HBsAg âm tính và anti-HBc dương tính không mang nguy cơ truyền bệnh.
  • Phụ nữ mang thai bị viêm gan B mạn cần được tư vấn các biện pháp phòng ngừa lây truyền từ mẹ sang con, đặc biệt ở người có tải lượng HBV-DNA cao (≥ 7 log phiên bản/ml). Trường hợp có HBV-DNA > 200.000UI/ml ở giai đoạn 3 tháng thứ hai cần xem xét chỉ định điều trị. Những người chưa được điều trị bao giờ hoặc đã ngừng điều trị ở thời điểm sinh hay ngay sau sinh cần được theo dõi sát trong vòng 6 tháng sau sinh nhằm phát hiện đợt viêm gan cấp và chuyển đổi huyết thanh; sau đó cần theo dõi định kỳ dài hạn để đánh giá thời điểm cần điều trị trong tương lai. Bạn tình của những phụ nữ nhiễm HBV khi mang thai cần được đánh giá tình trạng nhiễm hoặc miễn dịch chống lại HBV và cần được tiêm vaccin nếu phù hợp. Việc nuôi con bằng sữa mẹ không bị cấm.

Điều trị viêm gan B ở người bệnh thận mạn

Các thuốc tương tự nucleotide/nucleoside (NA) được xem là nền tảng điều trị viêm gan virus B.
- Chỉ định điều trị khi viêm gan virus B đơn độc
  • Khi có biểu hiện viêm gan cấp có triệu chứng hoặc nguy cơ diễn tiến nặng, với bilirubin toàn phần >3mg/dL; bilirubin trực tiếp >1,5mg/dL; INR >1,5; bệnh não gan hoặc cổ trướng.
  • Viêm gan virus B mạn hoạt động miễn dịch với ALT ≥ 2 lần ngưỡng trên của bình thường hoặc có bằng chứng bệnh rõ rệt trên mô học và tăng HBV-DNA trên 2.000UI/ml ở người HBeAg (-) hoặc trên 20.000UI/ml ở người HBeAg (+).
  • Khi có tổn thương nặng trên sinh thiết hoặc test không xâm lấn, với tình trạng xơ gan kèm HBV-DNA >2.000UI/ml và ALT bất kỳ.
  • Cân nhắc điều trị cho người >40 tuổi khi ALT<2 lần ngưỡng trên của bình thường và HBV-DNA ≤2.000UI/ml nếu HBeAg (-), hoặc HBV-DNA ≤ 20.000UI/ml nếu HBeAg (+), đồng thời có một trong các yếu tố: tiền sử gia đình xơ gan hoặc ung thư tế bào gan (HCC); tiền sử điều trị trước đây với peg-IFN có đáp ứng sau khi ngừng điều trị (đáp ứng trễ); tiền sử phơi nhiễm NA là nguy cơ kháng thuốc; có tổn thương ngoài gan (chỉ định điều trị không phụ thuộc mức độ nặng của tổn thương gan); hoặc có xơ gan.
  • Cho người >40 tuổi có ALT bình thường nhưng tăng HBV-DNA (1.000.000UI/ml), có hình ảnh/tiêu bản sinh thiết gan cho thấy tổn thương mô học là viêm hoại tử và xơ hóa đáng kể.
  • Người có tải lượng HBV-DNA thấp (<2.000UI/ml) dưới tác dụng của entecavir hoặc tenofovir: tiếp tục điều trị bằng một thuốc với bất kỳ ALT nào. Nếu có virus đột phá, có thể lựa chọn hoặc đổi sang thuốc khác có hàng rào kháng thuốc cao, hoặc bổ sung thuốc kháng virus thứ hai không bị kháng chéo.
Thuốc ưu tiên gồm entecavir, TDF hoặc TAF. Điều trị đến khi HBsAg (-), hoặc vô thời hạn nếu bệnh nhân được ghép gan. Tất cả thuốc NA trừ TAF phải chỉnh liều khi MLCT <50ml/phút. Các hội chuyên ngành gan mật và truyền nhiễm khuyến cáo điều trị vô thời hạn trừ khi có lý lẽ đủ mạnh để ngừng điều trị.
- Viêm gan virus B và D đồng thời
Tùy theo tải lượng HBV-DNA và HDV-RNA để quyết định chiến lược điều trị bằng NA đơn độc, peg-IFN đơn độc hoặc phối hợp cả hai.
Điều trị viêm gan virus D mạn bằng interferon alfa (IFN-). Peg-IFN--2a liều 180µg/tuần hoặc peg-IFN--2b liều 1,5 µg/kg/tuần trong 12 tháng đã được phê duyệt; thuốc nào hiệu quả hơn còn chưa rõ. Điều trị thành công khi tải lượng HDV-RNA dưới ngưỡng phát hiện tại thời điểm 24 tuần sau hoàn tất liệu trình. Khi có tăng tải lượng HBV-DNA, có thể phối hợp với NA (entecavir, tenofovir TDF hoặc TAF). Cần lưu ý viêm gan virus D hay tái phát nên cần theo dõi và đếm lại tải lượng virus khi có tăng men gan.
- Viêm gan virus B và C đồng thời
Đo tải lượng HBV-DNA và HCV-RNA. Chỉ định điều trị viêm gan virus C khi phát hiện HCV-RNA. Chỉ định điều trị viêm gan virus B phụ thuộc tải lượng HBV-DNA và ALT. Người bệnh viêm gan virus B đáp ứng tiêu chuẩn điều trị cần được điều trị đồng thời với thuốc kháng virus tác động trực tiếp (DAA). Thuốc được ưu tiên lựa chọn là entecavir, TDF hoặc TAF. Bệnh nhân cũng cần được điều trị khi có tái hoạt HBV.
Điều trị loại virus này có thể làm thay đổi hoạt động của loại virus kia, vì vậy cần theo dõi HBV-DNA trong và sau điều trị viêm gan virus C: mỗi 4-8 tuần trong khi điều trị cho đến hết 3 tháng sau kết thúc liệu trình, nhằm đánh giá sự hoạt động của virus. Đồng thời cần theo dõi HBV-DNA cho cả những người có ALT không giảm về bình thường trong và sau điều trị.
- Viêm gan virus B ở người suy giảm miễn dịch
Khuyến cáo bắt đầu điều trị dự phòng viêm gan virus B cho người có HBsAg (+) trước khi bắt đầu (thông thường 1 tuần) điều trị thuốc ức chế miễn dịch hoặc hóa chất độc tế bào. Người có HBsAg (-) và anti-HBc (+) có nguy cơ thấp hơn: có thể chọn lựa điều trị dự phòng hoặc theo dõi (đo tải lượng HBV-DNA mỗi 1-3 tháng) và chỉ điều trị khi có dấu hiệu tái hoạt HBV đầu tiên. Khi đó, sau khi kết thúc liệu trình điều trị HBV, cần theo dõi thêm 12 tháng.
Tuy nhiên, những người sẽ được dùng thuốc nhắm đích vào tế bào lympho B nên được điều trị dự phòng. Thuốc ưu tiên sử dụng là entecavir hoặc tenofovir. Thời gian điều trị dự phòng: 6-12 tháng cho những người sử dụng thuốc ức chế miễn dịch có thời hạn. Chưa rõ thời gian điều trị dự phòng tối ưu cho người cần điều trị ức chế miễn dịch dài hạn.
- Bệnh nhân viêm gan virus B kháng thuốc
Virus đột phá có thể do không tuân thủ điều trị. Virus có thể có tình trạng kháng chéo với các thuốc NA khác. Để phòng ngừa kháng thuốc, cần lựa chọn các thuốc có hàng rào kháng thuốc cao và đồng thời tăng cường sự tuân thủ của bệnh nhân.
- Bệnh nhân xơ gan
Người xơ gan có HBV-DNA thấp (<2.000UI/ml) cần được điều trị thuốc kháng virus bất kể chỉ số ALT nào. Thuốc ưu tiên là Tenofovir và entecavir, thời gian điều trị suốt đời. Bệnh nhân xơ gan mất bù cần được điều trị không phụ thuộc vào tải lượng HBV-DNA, tình trạng HBeAg hay nồng độ ALT; thuốc khuyến cáo là entecavir và tenofovir. Peg-IFN không được sử dụng cho người có xơ gan mất bù.
- Bệnh nhân ghép tạng (không phải gan)
Người có HBsAg (+) được ghép tạng (không phải gan) cần được điều trị thuốc kháng virus dự phòng suốt đời hoặc phải điều trị khi có tái hoạt HBV sau ghép. Tenofovir (TAF, TDF) và entecavir là các thuốc được ưu tiên do có tỷ lệ kháng thuốc thấp khi sử dụng dài hạn. Cần theo dõi sự tái hoạt của HBV nếu không có điều trị dự phòng. Ngoài ra, nên cân nhắc điều trị kháng virus trong 6-12 tháng đầu tiên sau ghép do đây là giai đoạn ức chế miễn dịch mạnh nhất.
Người có HBsAg(-), anti-HBc (+) nhận tạng (khác gan) từ người hiến có anti-HBc (+) cần được theo dõi nhiễm HBV mà không phải điều trị dự phòng. Người nhận tạng (khác gan) không được điều trị và chỉ theo dõi tái hoạt của virus cần được xét nghiệm ALT và HBV-DNA mỗi 3 tháng 1 lần trong năm đầu sau ghép hoặc sau điều trị triệt tiêu tế bào T (ví dụ globulin antithymocyte-ATG).
- Phụ nữ mang thai có HBsAg (+)
Phụ nữ mang thai có HBsAg (+) và HBV-DNA >200.000UI/ml nên được điều trị bằng thuốc kháng virus để giảm nguy cơ lây truyền bệnh cho con khi sinh. TDF là thuốc được ưu tiên lựa chọn. Bắt đầu ở tuần thai 28-32, ngừng điều trị trong khoảng từ lúc sinh đến 3 tháng sau sinh. Sau khi ngừng điều trị cần theo dõi ALT 3-6 tháng 1 lần.

Lựa chọn thuốc kháng virus trong điều trị VGB kháng thuốc
Kháng thuốc phát hiện bằng test định týp gen Chiến lược đổi thuốc (được ưu tiên) Chiến lược bổ sung: 2 thuốc không có kháng chéo
Kháng lamivudine Tenofovir*
(TDF hoặc TAF)
Tiếp tục lamivudin, thêm tenofovir (TDF hoặc TAF) (hoặc thay bằng emtricitabine-tenofovir)
Kháng telbivudine Tenofovir*
(TDF hoặc TAF)
Tiếp tục telbivudine, thêm tenofovir (TDF hoặc TAF)
Kháng adefovir Entecavir hoặc
Tenofovir*
(TDF hoặc TAF)
Tiếp tục adefovir, thêm entecavir
Kháng entecavir Tenofovir*
(TDF hoặc TAF)
Tiếp tục entecavir, thêm tenofovir (TDF hoặc TAF) hoặc thay bằng emtricitabine-tenofovir
Kháng tenofovir Entecavir* Tiếp tục tenofovir (TDF hoặc TAF), thêm entecavir
Đa kháng Tenofovir Phối hợp tenofovir (TDF hoặc TAF) và entecavir*
* Hiệu quả của việc đổi sang thuốc kháng virus có hàng rào di truyền cao với kháng thuốc so với bổ sung 2 thuốc không có kháng chéo là tương tự trong thời gian theo dõi tới 5 năm. Do đó, đổi thuốc là chiến lược được ưu tiên trừ khi HBV là đa kháng.
Liều thuốc nucleoside analogues (NA) điều trị viêm gan B mạn
Thuốc MLCT (ml/phút)
≥ 50 30-49 10-29 <10, lọc máu
Entecavir Không cần chỉnh liều; 0,5mg/ngày 0,5mg/2 ngày 0,5mg/3 ngày 0,5mg/7 ngày
Tenofovir Không cần chỉnh liều BN chưa lọc máu: thiếu dữ liệu
TDF 300mg/ngày 300mg/2 ngày 300mg/3-4 ngày Chỉ cho BN TNT: 300mg/7 ngày
TAF 25mg/ngày 25mg/ngày 25mg/ngày 25mg/ngày
* Cần cân nhắc nguy cơ và lợi ích cho BN có rối loạn chức năng thận ngay cả khi có chỉnh liều theo khuyến cáo. Cần theo dõi creatinine máu, phospho, đường niệu, protein niệu định kỳ (tối thiểu hàng năm và dày hơn nếu BN có nguy cơ bị rối loạn chức năng thận cao hơn hoặc đã có tổn thương thận từ trước). Người dùng TAF có tỷ lệ biến chứng xương và chức năng thận thấp hơn so với TDF.

Theo dõi

  • Người mắc viêm gan virus B mạn không điều trị cần được theo dõi và đánh giá định kỳ. Đối với người có HBeAg (+) và ALT bình thường: làm xét nghiệm ALT mỗi 3-6 tháng; nếu ALT tăng thì cần làm thêm HBV-DNA thường xuyên hơn. Kiểm tra HBeAg mỗi 6-12 tháng. Với người có HBeAg (+), HBV-DNA >20.000UI/ml và ALT <2 lần ngưỡng trên của bình thường: cần đánh giá mức độ tổn thương mô học, đặc biệt ở người >40 tuổi nhiễm HBV từ tuổi trẻ. Có thể sinh thiết gan hoặc làm test không xâm lấn đo độ đàn hồi gan, hoặc các chỉ dấu tình trạng xơ hóa gan như FIB-4, FibroTest. Người có HBeAg (-), HBV-DNA >2.000UI/ml và ALT tăng dưới 2 lần ngưỡng trên của bình thường cần đánh giá mức độ nặng của bệnh, nhất là người >40 tuổi và nhiễm HBV từ tuổi trẻ, bằng sinh thiết hoặc các phương pháp không xâm lấn. Người có HBeAg (-), HBV-DNA <2.000UI/ml và ALT bình thường: kiểm tra ALT và HBV-DNA mỗi 3 tháng trong năm đầu, sau đó mỗi 6-12 tháng. Khi ALT tăng thì cần theo dõi thường xuyên hơn (mỗi 3-6 tháng). Người có viêm gan virus B không hoạt động cần đánh giá HBsAg hằng năm.
  • Theo dõi virus kháng thuốc: kháng thuốc ở người chưa điều trị trước đó là rất hiếm gặp và không khuyến cáo xét nghiệm. Đối với người đang được điều trị, biểu hiện đầu tiên của kháng thuốc là virus đột phá.
  • Theo dõi ung thư tế bào gan bằng siêu âm có hoặc không kèm xét nghiệm AFP, thực hiện 6 tháng 1 lần cho tất cả người có HBsAg (+); cho người có thành viên gia đình có tiền sử ung thư gan; hoặc có đồng nhiễm virus viêm gan D (HDV). Nếu không có siêu âm thì làm xét nghiệm AFP 6 tháng 1 lần.

Viêm gan virus C

  • Tỷ lệ nhiễm virus viêm gan C ở bệnh nhân bệnh thận mạn (BTM) cao hơn so với quần thể dân số chung. Nhiễm HCV làm tăng nguy cơ tiến triển nhanh BTM.
  • Ở bệnh nhân BTM, nhiễm virus HCV tạo ra một số thách thức trong điều trị và quản lý: (1) Lây truyền trong các đơn vị lọc máu dẫn đến tỷ lệ lưu hành cao ở bệnh nhân đang chạy TNT; (2) ảnh hưởng đến kết cục của mảnh ghép; (3) làm tăng nguy cơ mắc bệnh gan tiến triển ở những bệnh nhân BTM ở mọi giai đoạn, kéo theo tiến triển bệnh lý tim mạch và tăng nguy cơ tử vong.

Chẩn đoán

- Tất cả bệnh nhân BTM có yếu tố nguy cơ nhiễm HCV cần được sàng lọc theo các nhóm sau:
  • Tất cả bệnh nhân đã được phát hiện BTM.
  • Khi bắt đầu thực hiện phương pháp thay thế thận hoặc khi chuyển đến từ một cơ sở hoặc phương thức lọc máu khác.
  • Bệnh nhân đang chạy TNT: thực hiện xét nghiệm HCV mỗi 6 tháng.
  • Bệnh nhân BTM tại thời điểm đánh giá ghép thận.
- Các xét nghiệm cần thực hiện bao gồm:
  • Anti HCV, HCV-RNA (khi kháng thể (+), hoặc có bằng chứng tổn thương gan).
  • ALT, AST, GGT.
  • Xét nghiệm đồng nhiễm viêm gan B.
- Ở những bệnh nhân BTM đã nhiễm HCV: cần đánh giá thêm mức độ xơ hóa gan và đánh giá tăng áp lực tĩnh mạch cửa ở bệnh nhân BTM nghi ngờ xơ hóa tiến triển (F3–4).

Điều trị

  • Điều trị bệnh thận do HCV (xem bài bệnh cầu thận thứ phát sau viêm gan virus).
  • Điều trị bệnh nhân BTM nhiễm HCV.
  • Điều trị nhiễm HCV sau ghép thận.
a. Điều trị nhiễm HCV ở bệnh nhân BTM
  • Các thuốc kháng virus tác động trực tiếp (DAA) đường uống hiện có cho thấy hiệu quả cao, dung nạp tốt, cho phép điều trị bệnh nhân HCV ở mọi giai đoạn BTM. Các phác đồ DAA hiện tại luôn phối hợp từ 2 loại thuốc trở lên với các cơ chế hoạt động khác nhau nhằm phá vỡ sự nhân lên của HCV. Do đó có thể chỉ định cho bệnh nhân BTM ở mọi giai đoạn; tuy nhiên một số thuốc cần chỉnh liều dựa trên MLCT ước tính.
  • Tỷ lệ đáp ứng virus bền vững tại thời điểm 12 tuần sau hoàn tất điều trị (SVR12) của nhiều phác đồ DAA nằm trong khoảng từ 92%–100%. Tỷ lệ tác dụng phụ nghiêm trọng do DAA thường được ghi nhận dưới 1% ở số bệnh nhân được điều trị.
  • BTM giai đoạn tiền lọc máu (G1-5 điều trị bảo tồn): không cần điều chỉnh liều DAA. Thời gian điều trị thay đổi tùy theo phác đồ, có hoặc không có xơ gan và liệu pháp DAA trước đó (hiện tại thường là 12 tuần).
  • Hiện có các phác đồ DAA theo từng kiểu gen hoặc áp dụng cho mọi kiểu gen; bệnh nhân BTM dung nạp tốt và đạt hiệu quả cao.
  • Việc lựa chọn thuốc cụ thể dựa trên tiền sử điều trị, tương tác thuốc- thuốc, MLCT, giai đoạn xơ hóa gan, khả năng ghép thận và gan, và các bệnh kèm theo.
Các phác đồ thuốc DAA điều trị viêm gan C theo giai đoạn BTM
Giai đoạn BTM Phác đồ DAA Kiểu gen HCV Mức độ chứng cứ
G1-G3b Phác đồ bất kì được cấp phép Tất cả Không phân loại
G4–G5 chưa lọc máu, bao gồm cả bệnh nhân ghép thận Sofosbuvir / Daclatasvir, 12 - 24 tuần Tất cả Cao
Grazoprevir / Elbasvir, 12 tuần 1a, 1b, 4 Cao
Sofosbuvir / Velpatasvir, 12 tuần Tất cả Thấp
Sofosbuvir / Ledipasvir, 12 tuần Tất cả Rất thấp
G5 lọc máu Sofosbuvir / Velpatasvir, 12 tuần Tất cả Cao
Sofosbuvir / Daclatasvir, 12 - 24 tuần Tất cả Trung bình
Sofosbuvir/Ledipasvir, 12 tuần Tất cả Trung bình
Grazoprevir/Elbasvir, 12 tuần 1a, 1b, 4 Trung bình
Ghép thận, G1–G3b Sofosbuvir / Ledipasvir, 12 - 24 tuần Tất cả Cao
Sofosbuvir / Daclatasvir, 12 - 24 tuần Tất cả Cao
Grazoprevir / Elbasvir, 12 tuần 1a, 1b, 4 Rất thấp
Lưu ý: Bệnh nhân BTM các giai đoạn 1-5D hoặc đang chuẩn bị ghép thận và có nhiễm HCV cần được xét nghiệm sàng lọc đồng nhiễm Viêm gan B trước khi bắt đầu điều trị với DAA (xem phần điều trị Viêm gan B ở BTM).
b. Quản lý bệnh nhân nhiễm HCV trước và sau ghép thận
Trước ghép thận
  • Nhiễm HCV làm giảm tỷ lệ sống của bệnh nhân và của thận ghép sau ghép thận nếu không được điều trị. Tuy nhiên, bệnh nhân BTM G5-5D nhiễm HCV vẫn có khả năng sống sót sau ghép thận cao hơn so với tiếp tục lọc máu chu kỳ. Liệu pháp DAA cũng có hiệu quả và dung nạp tốt ở những bệnh nhân được ghép thận. Vì vậy, ghép thận vẫn là lựa chọn điều trị tốt nhất cho bệnh nhân BTM G5 bất kể có nhiễm HCV hay không.
  • Cần đánh giá mức độ tổn thương gan và tình trạng tăng áp lực tĩnh mạch cửa trước khi quyết định ghép thận:
  • Bệnh nhân có HCV, xơ gan còn bù và không có tăng áp lực tĩnh mạch cửa có thể được ghép thận đơn độc.
  • Bệnh nhân xơ gan mất bù hoặc tăng áp lực tĩnh mạch cửa đáng kể về mặt lâm sàng (nghĩa là chênh lệch áp lực tĩnh mạch gan # 10 mmHg hoặc bằng chứng tăng áp lực tĩnh mạch cửa trên hình ảnh hoặc xét nghiệm) nên được ghép gan-thận đồng thời. Điều trị cho những người bị tăng áp lực tĩnh mạch cửa từ nhẹ đến trung bình cần được thực hiện theo từng trường hợp cụ thể.
  • Tất cả bệnh nhân bị HCV đang chờ ghép thận nên được điều trị bằng DAA, trước hoặc sau khi ghép.
  • Thời điểm điều trị thuốc kháng virus: Ở bệnh nhân xơ gan còn bù hoặc không xơ gan mà thời gian chờ ghép kéo dài hơn 24 tuần, nên bắt đầu DAA trước ghép để hoàn thành 12 tuần điều trị và xác nhận đáp ứng virus bền vững sau khi hoàn tất điều trị 12 tuần.
Sau ghép thận
  • Bệnh nhân ghép thận đang điều trị bằng DAA cần được theo dõi nồng độ thuốc ƯCMD (CNI, ức chế mTOR) để điều chỉnh liều phù hợp.
  • Bệnh nhân trước đây bị nhiễm HCV đã đạt được đáp ứng virus bền vững trước ghép nên được xét nghiệm lại 3 tháng sau ghép hoặc khi có rối loạn chức năng gan.
  • Bệnh nhân sau ghép thận bị nhiễm HCV cần được xét nghiệm protein niệu, hồng cầu niệu và MLCT ít nhất 6 tháng một lần. Nếu protein niệu 24 giờ > 1g 2 lần trở lên phải xem xét sinh thiết thận ghép để chẩn đoán. Nếu có bằng chứng viêm cầu thận liên quan đến HCV sau ghép phải xem xét điều trị lại liệu pháp DAA.

Dự phòng

  • Các cơ sở chạy TNT cần tuân thủ nghiêm ngặt các biện pháp phòng ngừa chuẩn bao gồm các biện pháp kiểm soát nhiễm trùng hiệu quả để ngăn chặn việc máu và chất lỏng bị nhiễm máu lây lan giữa các bệnh nhân.
  • Không cần sử dụng máy lọc máu riêng biệt cho bệnh nhân nhiễm HCV, không cần cách ly bệnh nhân chạy TNT bị nhiễm HCV. Có thể sử dụng chung các máy lọc máu của bệnh nhân nhiễm HCV nếu tuân thủ các biện pháp phòng ngừa chuẩn.
  • Thực hiện các biện pháp tích cực để cải thiện vệ sinh tay (và sử dụng găng tay đúng cách), tiêm an toàn, vệ sinh và khử trùng môi trường khi xác định được một trường hợp nhiễm mới HCV có khả năng lây nhiễm liên quan đến lọc máu.

Tài liệu tham khảo

  1. Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh thận mạn và một số bệnh lý thận. Số 2388/QĐ-BYT. 12/08/2024. Bộ Y Tế.