Phục hồi chức năng sau đột quỵ não

Post key: 9074eaf4-dded-5b5e-9387-aa41826f1c9a
Slug: phuc-hoi-chuc-nang-sau-dot-quy-nao
Excerpt: Phục hồi chức năng sau đột quỵ não cần được triển khai sớm, ngay trong giai đoạn bệnh nhân còn nằm trên giường (thường 24–48 giờ sau đột quỵ), với mục tiêu tối đa hóa hồi phục các chức năng: vận động, nhận thức, giao tiếp, tự chăm sóc và giảm các biến chứng do bất động. Chương này trình bày các nhóm khiếm khuyết thường gặp (liệt/vấn đề vận động, rối loạn cảm giác-đau, rối loạn ngôn ngữ và chữ viết, rối loạn tư duy-trí nhớ, rối loạn cảm xúc) và vai trò của đội ngũ đa chuyên ngành. Quy trình phục hồi chức năng theo chu trình Lượng giá → Thiết lập mục tiêu → Can thiệp → Tái lượng giá, cá thể hóa theo mức độ tổn thương và khả năng thực hiện. Nội dung cũng tóm tắt các khuyến cáo của hội tim mạch và hội đột quỵ Hoa Kỳ về vận động sớm, phòng loét/co rút, sàng lọc rối loạn nuốt, phòng ngừa và xử trí đau vai-bán trật khớp vai, xử lý co cứng, phục hồi vận động và đi lại, chi trên, thăng bằng, dụng cụ trợ giúp/nẹp/xe lăn và can thiệp rối loạn nhận thức, trí nhớ, mất thực dụng, hội chứng thờ ơ lãng quên nửa người (tham chiếu: Bộ Y tế 5331/QĐ-BYT 2020 và 3312/QĐ-BYT 05/11/2024).
Recognized tags: dieu-tri, bo-y-te

GIỚI THIỆU

Vận động sớm ở bệnh nhân đột quỵ
Vận động sớm ở bệnh nhân đột quỵ
  • Vật lý trị liệu và phục hồi chức năng cần được tiến hành sớm, ngay trong thời gian bệnh nhân còn nằm tại giường bệnh, thường vào khoảng 24-48h sau đột quỵ. Bệnh nhân sau đột quỵ có thể được phục hồi chức năng tại bệnh phòng điều trị, tại khoa phục hồi chức năng trong bệnh viện và khi ra viện, việc phục hồi được tiếp tục tại các cơ sở phục hồi chức năng ngoại trú, các đơn vị điều dưỡng; đồng thời, chương trình phục hồi chức năng tại nhà là nội dung rất quan trọng.
  • Nguyên tắc khởi đầu của phục hồi chức năng là thúc đẩy các vận động chủ động của người bệnh. Do nhiều trường hợp có liệt hoặc yếu cơ, cần thay đổi tư thế bệnh nhân thường xuyên khi còn nằm giường và cho bệnh nhân tham gia các bài tập vận động thụ động hoặc chủ động nhằm tăng cường sức cơ ở chi bị liệt (vận động thụ động là các vận động do bác sỹ thực hiện, còn vận động chủ động là các vận động do chính bệnh nhân tự thực hiện).
  • Vật lý trị liệu và phục hồi chức năng phải được cá thể hóa theo nhiều yếu tố, bao gồm mức độ tổn thương ban đầu; bệnh nhân có thể có khả năng ngồi dậy, di chuyển giữa các giường, đứng lên và đi bộ có hoặc không có sự trợ giúp. Nhân viên phục hồi chức năng giúp người bệnh thực hiện dần các động tác phức tạp hơn như tắm, mặc quần áo, sử dụng toilet, đồng thời hỗ trợ vận động chi bị liệt khi thực hiện các kỹ năng. Việc bắt đầu từ các hoạt động cơ bản trong sinh hoạt hằng ngày là bước nền tảng để hướng tới khả năng tự lập của bệnh nhân.

NHỮNG KHIẾM KHUYẾT CẦN ĐƯỢC PHỤC HỒI CHỨC NĂNG

Đột quỵ có thể gây ra 5 nhóm khuyết tật khác nhau và cần được phục hồi chức năng sớm:
  1. Liệt và các vấn đề vận động;
  2. Rối loạn cảm giác bao gồm cả đau;
  3. Ngôn ngữ và chữ viết;
  4. Tư duy và trí nhớ;
  5. Rối loạn cảm xúc.

Liệt hoặc các vấn đề vận động

  • Liệt là một trong các khuyết tật thường gặp nhất sau đột quỵ.
  • Liệt thường xuất hiện ở một bên cơ thể đối diện với bên não bị tổn thương; mức độ có thể ảnh hưởng ở mặt, tay, chân hoặc toàn bộ một bên cơ thể.
  • Liệt hoàn toàn khi bệnh nhân mất hoàn toàn khả năng vận động; liệt bán phần khi bệnh nhân còn khả năng vận động một phần.
  • Bệnh nhân đột quỵ bị liệt có thể gặp khó khăn khi thực hiện các vận động trong sinh hoạt hằng ngày; một số trường hợp gặp khó khăn khi nuốt (nuốt khó) do tổn thương phần não kiểm soát các cơ nuốt.
  • Tổn thương tiểu não làm ảnh hưởng đến khả năng giữ thăng bằng và tư thế của cơ thể.

Rối loạn cảm giác

  • Bệnh nhân đột quỵ có thể mất khả năng cảm nhận sờ, đau, nhiệt độ hoặc vị trí.
  • Người bệnh có rối loạn cảm giác nặng có thể mất khả năng nhận biết một phần cơ thể.
  • Một số bệnh nhân xuất hiện đau, tê, ngứa hoặc cảm giác như bị châm chích; các biểu hiện này được gọi là dị cảm.
  • Mất cảm giác tiểu tiện ngay sau đột quỵ khá thường gặp.
  • Một số bệnh nhân mất khả năng đi tiểu hoặc kiểm soát cơ bàng quang; ngược lại, một số khác có thể không nhịn tiểu trước khi đến phòng vệ sinh.
  • Mất kiểm soát nhu động ruột hoặc táo bón cũng thường gặp.
  • Ngoài ra, đôi khi xuất hiện hội chứng đau mạn tính do tổn thương hệ thần kinh (bệnh lý đau do thần kinh). Ở một số bệnh nhân, đường dẫn truyền cảm giác trong não bị tổn thương dẫn tới dẫn truyền tín hiệu sai lạc, gây cảm giác đau ở chi hoặc ở một bên cơ thể bị rối loạn cảm giác. Hội chứng đau phổ biến nhất là hội chứng đau vùng đồi thị (do tổn thương vùng đồi thị - vùng trung gian dẫn truyền cảm giác đau từ cơ thể đến não). Đau cũng có thể xảy ra mà không có tổn thương hệ thần kinh; thường do tình trạng yếu liệt cơ khiến khớp bị bất động trong thời gian dài kèm theo tổn thương gân và dây chằng quanh khớp. Hiện tượng này thường được gọi là “khớp đông cứng”, cần dự phòng bằng cách tập vận động thụ động sớm.

Vấn đề ngôn ngữ và chữ viết

  • Ít nhất 1/4 số bệnh nhân đột quỵ có rối loạn ngôn ngữ, liên quan đến khả năng nói, viết và hiểu ngôn ngữ.
  • Trung tâm chính kiểm soát ngôn ngữ nằm ở bán cầu não trái của những người thuận tay phải và nhiều người thuận tay trái.
  • Tổn thương trung tâm ngôn ngữ ở vùng bán cầu ưu thế (vùng Broca) gây mất vận ngôn. Những người bị tổn thương vùng này gặp khó khăn khi thể hiện suy nghĩ do mất khả năng nói những từ ngữ họ nghĩ và viết câu không hoàn chỉnh.
  • Ngược lại, tổn thương một vùng ngôn ngữ khác là vùng Wernicke làm người bệnh nói không lưu loát, khó hiểu người khác nói gì hoặc viết gì.
  • Dạng nặng nhất của mất ngôn ngữ là mất ngôn ngữ toàn thể do tổn thương rộng vùng não kiểm soát ngôn ngữ; bệnh nhân mất khả năng nói, nghe hiểu, đọc và viết.

Vấn đề về tư duy và trí nhớ

  • Đột quỵ có thể gây tổn thương các phần não kiểm soát trí nhớ, khả năng học hỏi và nhận thức.
  • Bệnh nhân có thể mất trí nhớ ngắn hạn hoặc giảm sự chú ý; đồng thời có thể mất khả năng lập kế hoạch, hiểu ý nghĩa, học thứ mới và thực hiện các hoạt động tinh thần phức tạp khác.

Rối loạn cảm xúc

  • Nhiều bệnh nhân sau đột quỵ xuất hiện cảm giác sợ hãi, lo lắng, thất vọng, giận dữ, buồn bã và cảm giác đau buồn do suy giảm thể chất và tinh thần.
  • Các cảm giác này là phản ứng tự nhiên với sang chấn tâm lý do đột quỵ.
  • Một số rối loạn cảm xúc và thay đổi tính tình có thể liên quan đến tác động vật lý của tổn thương não.
  • Trầm cảm là rối loạn hay gặp nhất, với các biểu hiện như rối loạn giấc ngủ, thay đổi cảm giác ngon miệng dẫn tới sụt cân hoặc tăng cân, thờ ơ, hạn chế giao tiếp xã hội, hay cáu gắt, mệt mỏi, tự ti, suy nghĩ tự tử.
  • Trầm cảm sau đột quỵ có thể điều trị bằng thuốc chống trầm cảm và tư vấn tâm lý.

VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ

Phục hồi chức năng sau đột quỵ bao gồm nhiều nhóm chuyên trách: bác sỹ, điều dưỡng phục hồi chức năng; vật lý trị liệu, chức năng nghề nghiệp, ngôn ngữ - lời nói; và chuyên gia sức khỏe tinh thần.

Bác sĩ

  • Bác sĩ giữ vai trò chủ đạo trong quản lý và điều phối chăm sóc dài hạn cho người bệnh sau đột quỵ, bao gồm khuyến cáo chương trình phục hồi chức năng phù hợp cho từng bệnh nhân.
  • Bác sĩ đồng thời chịu trách nhiệm theo dõi và xử trí các vấn đề sức khỏe chung của bệnh nhân và hướng dẫn các biện pháp nhằm ngăn ngừa đột quỵ thứ phát, ví dụ kiểm soát huyết áp, tiểu đường và loại bỏ các yếu tố nguy cơ như hút thuốc lá, thừa cân/béo phì, chế độ ăn nhiều cholesterol, uống rượu.
  • Bác sĩ chuyên ngành thần kinh điều phối hoạt động của đội ngũ nhân viên chăm sóc bệnh nhân trong suốt thời gian nằm viện.
  • Các bác sĩ chuyên ngành khác, đặc biệt là chuyên ngành phục hồi chức năng, tham gia vai trò ở các giai đoạn khác nhau sau đột quỵ.

Điều dưỡng phục hồi chức năng

  • Điều dưỡng hướng dẫn bệnh nhân thực hiện các hoạt động cơ bản hằng ngày và giáo dục các biện pháp bảo vệ sức khỏe, bao gồm dùng thuốc theo đơn, cách chăm sóc da, cách di chuyển từ giường đến ghế ngồi và các kiến thức cần thiết đối với một bệnh nhân tiểu đường; đặc biệt là các sinh hoạt cá nhân như tắm và vệ sinh tự chủ.
  • Nếu bệnh nhân không tự chủ đại tiểu tiện, điều dưỡng có thể hướng dẫn người chăm sóc cách đặt sonde và theo dõi diễn biến.

Chuyên gia vật lý trị liệu

  • Chuyên gia vật lý trị liệu tập trung vào điều trị các khuyết tật liên quan đến suy giảm vận động và cảm giác.
  • Đội ngũ này cần được đào tạo nắm vững giải phẫu và sinh lý liên quan đến chức năng bình thường, đặc biệt là vận động.
  • Chuyên gia vật lý trị liệu đánh giá năng lực của người bệnh đột quỵ, độ bền, phạm vi vận động, dáng đi bất thường và các khiếm khuyết cảm giác, từ đó thiết kế chương trình phục hồi chức năng phù hợp cho từng cá nhân nhằm cải thiện công dụng chi bị đột quỵ và hỗ trợ việc học các kỹ năng mới.
  • Các bài tập bao gồm kích thích cảm giác chọn lọc như ấn hoặc sờ; các bài tập vận động chủ động và thụ động có đối kháng.
  • Thông thường, vật lý trị liệu chú trọng thực hành các vận động chuyên biệt, lặp lại nhiều lần; đồng thời thực hiện các bài tập phức tạp đòi hỏi phối hợp và cân bằng, ví dụ đi lên hoặc đi xuống cầu thang hoặc di chuyển an toàn giữa các chướng ngại vật.
  • Những bệnh nhân quá yếu có thể thực hiện các động tác trong nước (nước tạo ra kích thích cảm giác đồng thời hỗ trợ trọng lực) hoặc được hỗ trợ một phần bằng dây buộc.
  • Một xu hướng gần đây trong vật lý trị liệu nhấn mạnh hiệu quả của việc tham gia các hoạt động có mục tiêu (những trò chơi) để thúc đẩy khả năng phối hợp.
  • Vật lý trị liệu thường sử dụng kích thích cảm giác chọn lọc nhằm tăng cường sử dụng các chi bị suy yếu và giúp bệnh nhân nhận thức phần cơ thể bị “lãng quên”.

Vật lý trị liệu và thư giãn

  • Phương pháp này hỗ trợ bệnh nhân học lại các kỹ năng cần thiết để thực hiện các hoạt động tự chủ như chải chuốt bản thân, chuẩn bị bữa ăn và lau dọn nhà cửa.
  • Bên cạnh đó, phương pháp còn giúp bệnh nhân biết cách chia các hoạt động phức tạp thành các phần nhỏ để thực hiện đồng thời phát triển các hoạt động bù trừ nhằm cải thiện điều kiện môi trường sống, loại bỏ các rào chắn, tăng tính an toàn và hỗ trợ các hoạt động chức năng.

Chuyên gia trị liệu ngôn ngữ - lời nói

  • Trị liệu ngôn ngữ - lời nói giúp bệnh nhân học lại cách sử dụng ngôn ngữ hoặc phát triển các kỹ năng giao tiếp, góp phần cải thiện khả năng nuốt và các kỹ năng xã hội sau đột quỵ.
  • Các bài tập tích cực như lặp lại lời của bác sĩ, thực hành theo hướng dẫn, kỹ năng đọc hoặc viết là nền tảng của phục hồi ngôn ngữ.
  • Một số chuyên gia sử dụng bảng ký hiệu hoặc các cử chỉ ngôn ngữ; các tiến bộ khoa học máy tính phát triển các dụng cụ mới nhằm tăng cường khả năng giao tiếp.
  • Các chuyên gia ứng dụng kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh đặc biệt để nghiên cứu quá trình nuốt ở bệnh nhân, từ đó tìm ra nguyên nhân gây suy giảm khả năng nuốt.
  • Có nhiều nguyên nhân dẫn tới nuốt khó, bao gồm: rối loạn phản xạ nuốt; lưỡi mất khả năng nhào trộn thức ăn; mất cảm giác nhận biết thức ăn tồn dư trong miệng sau khi nuốt.
  • Đôi khi, chỉ cần thay đổi tư thế cũng đã mang lại hiệu quả.
  • Thay đổi thức ăn và cách thức ăn như thức ăn lỏng, ăn ít một, nhai chậm có thể giúp giảm bớt chứng khó nuốt.

Trung tâm dạy nghề và tái hoạt động nghề nghiệp

  • Khoảng 1/4 số bệnh nhân đột quỵ trong độ tuổi 45 – 65, trong đó phần lớn quay trở lại công việc nhưng với mức độ rất khó khăn.
  • Các trung tâm dạy nghề có thể giúp bệnh nhân sau đột quỵ phát hiện và phát huy thế mạnh nghề nghiệp cá nhân, đồng thời hỗ trợ tìm kiếm công việc phù hợp.

CÁC VẤN ĐỀ KHIẾM KHUYẾT SAU ĐỘT QUỴ

Khiếm khuyết vận động

  • Liệt: Liệt là một trong những dạng khuyết tật thường gặp nhất sau đột quỵ. Trên 80 % người bệnh đột quỵ có yếu/liệt vận động; trong đó 1/3 không có khả năng đi lại và 1/3 tàn tật nặng. Giảm hoặc mất vận động chủ động thường biểu hiện ở một bên cơ thể đối diện với bên não bị tổn thương, có thể liên quan đến mặt, tay, chân hoặc toàn bộ một bên cơ thể. Người bệnh đột quỵ bị liệt thường gặp khó khăn trong việc thực hiện các hoạt động sinh hoạt hằng ngày.
  • Hiện tượng đồng động (synergy): là hiện tượng các vận động không tự chủ, không có ý thức của các cơ bên liệt xuất hiện cùng lúc với các vận động tự chủ.
  • Tăng trương lực cơ - co cứng (spasticity): đặc trưng bởi phản xạ gân xương tăng, đa động, lan tỏa, rung giật (clonus) và các cơn co thắt…; mô tả kiểu co cứng hình tháp với ưu thế ở các nhóm cơ gấp tại chi trên và các cơ duỗi tại chi dưới.
  • Các rối loạn vận động khác: bao gồm triệu chứng ngoại tháp, các cử động bất thường và loạn trương lực cơ khu trú (đặc biệt ở các ngón chân).

Các khiếm khuyết khác

  1. Rối loạn thăng bằng và điều hợp.
  2. Rối loạn cảm giác nông và sâu:
    • Người bệnh đột quỵ có thể mất hoặc giảm cảm giác sờ, đau và nhiệt độ. Ở người bệnh rối loạn cảm giác nặng, có thể mất khả năng nhận biết một phần cơ thể. Một số người bệnh có cảm giác đau, tê, ngứa hoặc cảm giác như bị châm chích, gọi là các dị cảm. Đôi khi xuất hiện hội chứng đau mạn tính do tổn thương hệ thần kinh (bệnh lý đau do thần kinh). Ở một số trường hợp, con đường dẫn truyền cảm giác trong não bị tổn thương dẫn tới dẫn truyền tín hiệu sai lạc, gây cảm giác đau ở chi hoặc ở một bên cơ thể bị rối loạn cảm giác. Hội chứng đau phổ biến nhất là hội chứng đau vùng đồi thị (do tổn thương vùng đồi thị - vùng trung gian dẫn truyền cảm giác đau từ cơ thể đến não). Rối loạn cảm giác sâu (tư thế, cảm thụ bản thể, lập thể tri giác…) gây ra các vấn đề về thăng bằng và vận động.
  3. Rối loạn đại tiểu tiện:
    • Tiểu không tự chủ có thể gặp ở cả giai đoạn sớm và giai đoạn muộn sau đột quỵ, gây ảnh hưởng tới chất lượng sống, làm tăng nguy cơ nhiễm khuẩn tiết niệu, ngã gãy xương, mất ngủ và đột quỵ tái phát. Cơ chế gồm: do mất tính liên tục đường dẫn truyền thần kinh từ vỏ não và/ hoặc cầu não; hoặc do sự mất cân bằng giữa vỏ não và trung tâm tiểu tiện tại cầu não.
    • Trong số các rối loạn đại tiện sau đột quỵ, táo bón và đại tiện không tự chủ là gặp nhiều nhất. Tỷ lệ táo bón dao động từ 22,9 đến 60%, trong khi tỷ lệ đại tiện không tự chủ dao động từ 31 đến 40% trong hai tuần sau đột quỵ và từ 9 đến 15% trong giai đoạn mạn tính. Rối loạn đại tiểu tiện có thể do nhiều yếu tố, bao gồm: tổn thương vùng thân não, thùy trán, rối loạn vận động và cảm giác, người bệnh nằm một chỗ, rối loạn nhận thức, rối loạn cảm xúc,…
  4. Rối loạn về thị giác và thị trường:
    • Các rối loạn thị trường (bán manh), thị lực và liệt cơ vận nhãn… có thể gây khó khăn cho quá trình phục hồi chức năng.
  5. Rối loạn nuốt:
    • Khoảng 42-67% người bệnh bị rối loạn nuốt trong vòng 3 ngày đầu sau đột quỵ. 25-50% bị rối loạn nuốt ở bất kỳ thời điểm nào trong diễn tiến bệnh lý đột quỵ (theo Hội Đột quỵ Hoa Kỳ, 2000). Hít sặc vào phổi là biến chứng nặng nhất của rối loạn nuốt. Khoảng 2/3 trường hợp hít sặc sau đột quỵ là thầm lặng. Tỉ lệ tử vong sau đột quỵ do viêm phổi liên quan đến hít sặc tăng lên 3% trong 3 tháng, 6% trong năm đầu.
  6. Các rối loạn giao tiếp, ngôn ngữ (thất ngôn, loạn vận ngôn…):
    • Khoảng một nửa số người sống sót sau đột quỵ có rối loạn giọng nói và ngôn ngữ. Rối loạn ngôn ngữ và lời nói gây khó khăn cho giao tiếp giữa người bệnh và nhân viên phục hồi chức năng hoặc người chăm sóc trong giai đoạn đầu của đột quỵ, từ đó làm trở ngại cho việc đánh giá toàn diện người bệnh.
    • Thất ngôn thường xảy ra khi có tổn thương bán cầu ưu thế; có thể phân loại dựa trên sự trôi chảy, mức độ hiểu và khả năng lặp lại.
    • Thất ngôn được chia thành hai loại chính: thất ngôn lưu loát (giọng nói và cấu trúc câu tương đối nguyên vẹn nhưng thiếu ý nghĩa) và thất ngôn không lưu loát (quá trình tạo giọng nói bị dừng lại và tốn nhiều công sức, đồng thời ngữ pháp bị suy giảm, nhưng các từ nội dung có thể được bảo tồn). Suy giảm khả năng trôi chảy, suy giảm khả năng hiểu và suy giảm khả năng lặp lại được gọi là thất ngôn toàn bộ. Thất ngôn của broca đặc trưng bởi sự suy giảm khả năng lưu loát và lặp lại, trong khi khả năng hiểu tương đối bị hạn chế. Ngược lại, thất ngôn của wernicke vẫn trôi chảy, nhưng khả năng lặp lại và khả năng hiểu đều bị suy giảm. Những người bệnh có suy giảm khả năng nói trôi chảy và khả năng hiểu, như trong thất ngôn của broca, nhưng có thể lặp lại được gặp trong thất ngôn xuyên vỏ vận động. Những người bệnh có khả năng nói trôi chảy bình thường, sự lặp lại nguyên vẹn nhưng khả năng hiểu kém, như trong thất ngôn của wernicke, gặp trong thất ngôn xuyên vỏ cảm giác.
  7. Các rối loạn nhận thức:
    • Suy giảm nhận thức xảy ra rất thường gặp sau đột quỵ. Khoảng 30% người bệnh tiến triển thành sa sút trí tuệ sau 1 năm khởi phát đột quỵ. Dựa trên các lĩnh vực của nhận thức, rối loạn nhận thức bao gồm:
      • Giảm khả năng tập trung, chú ý, định hướng không gian thời gian.
      • Suy giảm khả năng học tập, ghi nhớ, suy giảm trí nhớ hay sa sút trí tuệ.
      • Rối loạn chức năng điều hành.
      • Rối loạn thị giác không gian: như hội chứng lãng quên nửa người hay lãng quên không gian bên liệt, ..
      • Rối loạn ngôn ngữ: thất ngôn.
      • Rối loạn cảm xúc, hành vi xã hội.
  8. Các rối loạn về cảm xúc, hành vi, thái độ, cách cư xử:
    • Nhiều người bệnh sau đột qụy xuất hiện cảm giác sợ hãi, lo lắng, thất vọng, giận dữ, buồn bã và một cảm giác đau buồn do suy giảm thể chất và tinh thần. Các cảm giác này là phản ứng tự nhiên với sang chấn tâm lý do đột quỵ. Một số rối loạn cảm xúc và thay đổi tính tình có thể do tác động vật lý của tổn thương não. Trầm cảm là rối loạn hay gặp nhất, với các biểu hiện như rối loạn giấc ngủ, thay đổi cảm giác ngon miệng dẫn tới sụt cân hoặc tăng cân, thờ ơ, hạn chế giao tiếp xã hội, hoặc hay cáu gắt, mệt mỏi, tự ti, suy nghĩ tự tử. Trầm cảm sau đột quỵ có thể điều trị bằng thuốc chống trầm cảm và tư vấn tâm lý.

PHỤC HỒI CHỨC NĂNG ĐA CHUYÊN NGÀNH

Điểm cốt lõi của phục hồi chức năng sau đột quỵ là tổ chức một chương trình phối hợp đa ngành. Tại NICE (2013), một nhóm phục hồi chức năng đột quỵ đa chuyên ngành cơ bản cần có sự tham gia của các chuyên gia sau:
  • Bác sĩ
  • Điều dưỡng
  • Kỹ thuật viên vật lý trị liệu
  • Kỹ thuật viên hoạt động trị liệu
  • Kỹ thuật viên ngôn ngữ trị liệu
  • Kỹ thuật viên chỉnh hình
  • Chuyên gia tâm lý học lâm sàng
  • Nhân viên công tác xã hội
  • Chuyên viên dinh dưỡng
Nhóm phục hồi chức năng đa chuyên ngành kết hợp các năng lực của y học, điều dưỡng và các chuyên ngành sức khoẻ khác (khi liên quan) để thực hiện lượng giá, điều trị, đánh giá lại định kỳ, lập kế hoạch xuất viện và theo dõi.
Nhóm phục hồi chức năng đa chuyên ngành sử dụng kỹ năng và kinh nghiệm của các chuyên gia từ nhiều lĩnh vực khác nhau; mỗi lĩnh vực tiếp cận người bệnh theo quan điểm riêng trong các buổi tư vấn và tập luyện, điều trị riêng biệt.

Bác sĩ phục hồi chức năng

  • Là một thành viên của nhóm đa chuyên ngành đối với người bệnh đột quỵ, bác sĩ phục hồi chức năng phối hợp chăm sóc y tế toàn diện, hỗ trợ người bệnh đột quỵ và gia đình trong việc lựa chọn phương án điều trị; đồng thời thực hiện phòng ngừa các biến chứng và tái phát của đột quỵ.
  • Bác sĩ cần phối hợp chặt chẽ với các thành viên khác trong nhóm đa chuyên ngành khi người bệnh xuất viện hoặc chuyển tuyến (bao gồm các bệnh viện tuyến tỉnh/huyện, các bệnh viện phcn, các phòng khám tư nhân và các phòng khám khác tại địa phương... ).

Điều dưỡng

Vai trò của điều dưỡng đột quỵ
  • Lượng giá điều dưỡng toàn diện
  • Theo dõi người bệnh
  • Sàng lọc rối loạn nuốt
  • Lượng giá nguy cơ loét ép và xử lý tổn thương da
  • Lượng giá về bàng quang và đường ruột, xử lý tiểu tiện không tự chủ.
  • Phòng ngừa và kiểm soát các biến chứng thứ phát
  • Trợ giúp di chuyển
  • Xử lý đau
  • Chăm sóc điều dưỡng 24 giờ
  • Tham gia lập kế hoạch xuất viện
  • Trợ giúp và giáo dục cho người bệnh và gia đình/người chăm sóc.

Kỹ thuật viên vật lý trị liệu

  • Trong phục hồi chức năng đột quỵ, vật lý trị liệu sử dụng các can thiệp thể chất có kỹ năng nhằm hồi phục vận động chức năng, giảm khiếm khuyết và hạn chế hoạt động, đồng thời gia tăng tối đa chất lượng cuộc sống sau đột quỵ. Vật lý trị liệu cũng hỗ trợ điều trị các vấn đề hô hấp và cơ xương (ví dụ như đau vai), cũng như phòng ngừa và điều trị các biến chứng sau đột quỵ.
  • Các kỹ thuật viên vật lý trị liệu thường tham gia chăm sóc và phục hồi cho người bệnh đột quỵ ở tất cả các giai đoạn (cấp tính và mạn tính) trong nhiều bối cảnh, bao gồm phòng cấp cứu, đơn vị chăm sóc tích cực, đơn vị đột quỵ, khoa nội tổng hợp và nội thần kinh, khoa phcn, người bệnh ngoại trú tại bệnh viện, các phòng khám tư và tại nhà của người bệnh.

Kỹ thuật viên hoạt động trị liệu

  • Kỹ thuật viên hoạt động trị liệu làm việc với người bệnh đột quỵ nhằm tối ưu khả năng tham gia và mức độ độc lập của người bệnh trong tất cả hoạt động hằng ngày (bao gồm tự chăm sóc như tắm rửa, mặc quần áo, ăn uống), kết hợp với giải trí và nghề nghiệp. Mục tiêu này có thể đạt được trực tiếp thông qua gia tăng sự hồi phục chức năng (bao gồm chức năng vận động, nhận thức hoặc nhận cảm) hoặc bằng cách thay đổi thích nghi nhiệm vụ hoặc môi trường.
  • Kỹ thuật viên hoạt động trị liệu thực hiện can thiệp dựa trên lượng giá các vấn đề đặc thù của từng người bệnh trong cả giai đoạn cấp và giai đoạn phục hồi chức năng.

Kỹ thuật viên ngôn ngữ trị liệu

  • Kỹ thuật viên ngôn ngữ trị liệu là một phần không thể tách rời của nhóm chăm sóc đột quỵ. Chuyên môn của họ bao gồm lượng giá và xử lý các vấn đề nuốt (khó nuốt) cũng như các rối loạn giao tiếp thường gặp sau đột quỵ.
  • Kỹ thuật viên ngôn ngữ trị liệu tham gia vào chăm sóc điều trị đột quỵ ở tất cả các giai đoạn trong quá trình hồi phục; tuy nhiên việc lượng giá và điều trị các vấn đề khó khăn về nuốt cần được bắt đầu càng sớm càng tốt sau khởi phát cấp. Họ cần phối hợp chặt chẽ với tất cả nhân viên y tế có liên quan khác và người bệnh đột quỵ cùng với gia đình/người chăm sóc.

Kỹ thuật viên chỉnh hình

  • Kỹ thuật viên chỉnh hình phối hợp với kỹ thuật viên vật lý trị liệu/hoạt động trị liệu để lượng giá người bệnh đột quỵ khi cần một loại dụng cụ chỉnh hình cụ thể.
  • Dụng cụ chỉnh hình có thể gồm nẹp để duy trì/gia tăng tầm vận động hoặc tạo thuận vận động ở một khớp; trợ giúp đi lại (ví dụ nẹp cổ bàn chân để nâng đỡ bàn chân); và hỗ trợ vận động chức năng (ví dụ gắn vào một cái thìa để giúp người bệnh tự ăn).
  • Cần theo dõi sát sao dụng cụ nhằm đảm bảo dụng cụ được lắp đặt phù hợp, dễ chịu và đạt đúng mục tiêu đã đề ra.

Nhân viên công tác xã hội

  • Nhân viên công tác xã hội hỗ trợ, tư vấn và cung cấp thông tin cho người bệnh đột quỵ và gia đình của họ về các lựa chọn nhằm tối ưu sự thoải mái về thể chất, tinh thần và xã hội. Nhân viên công tác xã hội cũng có thể chịu trách nhiệm tổ chức các nguồn lực của cộng đồng, thực hiện phương pháp điều trị phcn đơn giản trong cộng đồng và hỗ trợ người khuyết tật tiếp cận các mạng lưới an sinh xã hội.
  • Một số người bệnh cần được nhân viên xã hội tư vấn và cung cấp thông tin sớm trong quá trình chăm sóc do các vấn đề về tài chính, mối quan hệ hoặc nhà ở. Nhân viên công tác xã hội cần có hiểu biết rộng về nguồn lực trong cộng đồng để tư vấn cho nhóm đa chuyên ngành và người bệnh về những điều người bệnh có thể nhận được khi xuất viện.

Nhà tâm lý học lâm sàng

  • Nhiều người bệnh bị đột quỵ nặng có thể thay đổi về cảm xúc, tính cách và suy giảm một phần khả năng nhận thức. Các vấn đề này có thể làm người thân/gia đình lo lắng và là một trong những nguyên nhân gây các rối loạn liên quan đến căng thẳng.
  • Nhà tâm lý học lâm sàng làm việc với người bệnh đột quỵ có các khiếm khuyết về trí tuệ/nhận thức, khó khăn về hành vi và hoạt động hằng ngày, các vấn đề về cảm xúc và quan hệ giữa các cá nhân. Đồng thời, nhà tâm lý học lâm sàng làm việc với gia đình/người chăm sóc để điều chỉnh và giúp họ hiểu về các khiếm khuyết nhận thức của người thân người bệnh.

Chuyên viên dinh dưỡng

  • Chuyên viên dinh dưỡng phối hợp với người bệnh đột quỵ và gia đình/người chăm sóc nhằm thực hiện điều trị dinh dưỡng y học, bao gồm chế độ ăn uống; điều chỉnh kết cấu thức ăn và phương thức cho ăn qua ống thông, đặc biệt ở những người có nguy cơ hoặc đang suy dinh dưỡng. Chuyên viên dinh dưỡng còn thực hiện giáo dục và tư vấn để thay đổi các yếu tố nguy cơ và xử lý các bệnh kèm theo ở người bệnh có nhu cầu chế độ ăn uống đa dạng (ví dụ đái tháo đường, tăng lipid máu, cao huyết áp và khó nuốt).
  • Nhóm đa chuyên khoa cũng có thể được mở rộng để bao gồm bác sĩ tâm thần, bác sĩ nhãn khoa và/hoặc các trợ lý kỹ thuật viên tùy theo từng trường hợp người bệnh và mức độ sẵn có.

CÁC NGUYÊN TẮC PHỤC HỒI CHỨC NĂNG ĐỘT QUỴ

  • Các lĩnh vực quan trọng của phục hồi chức năng cho người bệnh đột quỵ gồm: can thiệp sớm; lượng giá và xử lý các khiếm khuyết; lượng giá và gia tăng tối đa các chức năng (nhận thức, vận động, giao tiếp, tự chăm sóc); lượng giá và xử lý các tình trạng bệnh, tổn thương phối hợp; chỉ định và cung cấp các dụng cụ trợ giúp, dụng cụ thích nghi phù hợp.
  • Các hướng dẫn hiện nay về điều trị phục hồi chức năng sau đột quỵ kết luận rằng việc cung cấp một chương trình phục hồi chức năng toàn diện với các thiết bị, liều lượng và thời gian đầy đủ là cần thiết cho việc chăm sóc người bệnh đột quỵ.
  • Phục hồi chức năng sau đột quỵ nên được tiến hành trong một môi trường nhiều yếu tố kích thích nhằm tạo thuận cho quá trình tái cấu trúc các tế bào thần kinh và cải thiện phục hồi chức năng. Môi trường phục hồi chức năng cần bao gồm các bài tập phù hợp, cá thể hóa, tạo động lực và tập theo tác vụ chuyên biệt để người bệnh luyện tập có hiệu quả, thúc đẩy sự hồi phục các kỹ năng vận động.
  • Người bệnh đột quỵ cần được tạo điều kiện để luyện tập chủ động, không phải thụ động, nhằm có cơ hội tiếp cận các bài tập và kỹ thuật tập tích cực; từ đó cải thiện quá trình học vận động, tính mềm dẻo thần kinh và thích nghi.
  • Các bài tập theo tác vụ hiện nay được xem là có hiệu quả nhất trong phục hồi chức năng sinh hoạt hằng ngày sau đột quỵ. Quá trình học vận động thông qua các bài tập theo tác vụ phụ thuộc vào cơ chế của tính mềm dẻo và khả năng thích nghi của hệ thần kinh trung ương, cũng như những thay đổi sinh lý thích nghi. Các bài tập theo tác vụ giúp kích thích học hỏi các kỹ năng, tăng cường sức mạnh và sức bền cơ, đồng thời tăng cường thể lực. Bên cạnh đó, các bài tập này cải thiện các hoạt động chức năng và thúc đẩy sự thích nghi, giảm thiểu các biến chứng do bất động lâu ngày, tăng cường trao đổi chất và tăng cường tái cấu trúc não, cũng như tính mềm dẻo thần kinh sau đột quỵ.
  • Hiệu quả của quá trình học tập kỹ năng được đánh giá bằng số lần người bệnh thực hiện thành công các tác vụ. Đặc biệt, để cải thiện chức năng đi lại sau đột quỵ, các bài tập cần mang tính cá nhân, tập theo chức năng; đồng thời tăng tiến dần về độ khó, đủ về cường độ, tần số và thời gian.
  • Mục đích của phục hồi chức năng thần kinh là xây dựng một khung các can thiệp dựa trên bằng chứng nhằm cải thiện chức năng sinh hoạt hằng ngày; điều này đặc biệt quan trọng đối với người bệnh, giúp họ tái hòa nhập cuộc sống (ví dụ: hoạt động nghề nghiệp, tự chăm sóc bản thân, làm việc nhà, vui chơi, thực hiện vai trò trong gia đình và/hoặc với người thân).

QUY TRÌNH PHỤC HỒI CHỨC NĂNG

Lặp lại "Lượng giá >> Thiết lập mục tiêu >> Can thiệp"
Theo Langhorne và cộng sự, phục hồi chức năng sau đột quỵ cần được cá thể hóa theo một chu trình liên tục bao gồm: Lượng giá >> Thiết lập mục tiêu >> Can thiệp >> Tái lượng giá.
  • Lượng giá: Khám và lượng giá, xác định nhu cầu của người bệnh.
  • Thiết lập mục tiêu: Trên cơ sở lượng giá, xây dựng mục tiêu cá nhân bảo đảm tính thực tế và khả thi. Các mục tiêu có thể được phân thành mục tiêu ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. Đồng thời, lập kế hoạch để đạt được những mục tiêu đã đề ra.
  • Can thiệp: Tiến hành can thiệp cá thể và hiệu quả, hỗ trợ người bệnh trong quá trình phục hồi nhằm đạt được các mục tiêu đã thống nhất.
  • Tái lượng giá: Thực hiện lượng giá tiến triển của người bệnh để xác định can thiệp có đạt được các mục tiêu đã thống nhất hay không. Nếu không đạt, cần xem xét lại các mục tiêu và điều chỉnh các can thiệp tương ứng.

Lượng giá

  • Khuyến cáo sử dụng các công cụ đo lường đi kèm biểu mẫu ghi điểm tương ứng nhằm lượng giá khách quan các khía cạnh như triệu chứng thần kinh và các hậu quả chức năng của đột quỵ.
  • Khi bắt đầu trị liệu, bác sĩ/kỹ thuật viên cần nắm được tình trạng hoạt động chức năng của người bệnh trước khi bị bệnh, hiện tại, sự tồn tại các khiếm khuyết và các giới hạn/hạn chế; đồng thời đánh giá hỗ trợ xã hội hiện có và các mong muốn của người bệnh. Nếu không có sẵn thông tin, bác sĩ/kỹ thuật viên phải hỏi người bệnh để xác định và lượng giá mức độ các khiếm khuyết chức năng như tình trạng yếu liệt, tầm vận động, điều hợp, cảm giác thân thể; cũng như lượng giá các giới hạn hoạt động như dịch chuyển, khả năng đi lại, sự khéo léo của tay và sinh hoạt hàng ngày. Nếu người bệnh không thể cung cấp các thông tin cần thiết, bác sĩ/kỹ thuật viên có thể hỏi vợ/chồng hoặc người chăm sóc của người bệnh.
  • Sau khi hỏi bệnh, đưa ra kết luận sơ bộ và hình thành các giả thiết làm cơ sở cho chẩn đoán. Khuyến cáo sử dụng một số công cụ đo lường chọn lọc để lượng giá khách quan các khiếm khuyết về chức năng của cơ thể, giới hạn các hoạt động và hạn chế sự tham gia, cũng như các yếu tố môi trường cản trở và tạo thuận. Các công cụ này cho phép lượng giá các lĩnh vực điều trị liên quan đến người bệnh ở cấp độ hoạt động và sự tham gia, bao gồm: sự khéo léo của tay, đi và các khả năng có liên quan, sinh hoạt hàng ngày cơ bản và sinh hoạt hàng ngày phức tạp có sử dụng công cụ và chất lượng cuộc sống. Ở cấp độ chức năng của cơ thể, các công cụ này có thể liên quan đến các chức năng thần kinh, các chức năng về thể chất, tâm lý, tâm thần kinh và mệt mỏi. (KNGF, 2014).
  • Cần lượng giá tình trạng dinh dưỡng và chức năng nuốt, lượng giá nguy cơ các biến chứng hô hấp và nguy cơ hình thành loét ép.
  • Có thể phân loại các biến chứng và di chứng sau đột quỵ cấp theo Phân loại quốc tế về chức năng của Tổ chức y tế thế giới WHO (ICF). Phân loại ICF gồm 3 mục chính: cấu trúc chức năng, các hoạt động và sự tham gia; đồng thời có 2 mục nhỏ khác, tất cả cho biết một cách tổng thể ảnh hưởng của đột quỵ đến người bệnh về:
    • Cấu trúc và chức năng.
    • Các hoạt động (liên quan đến các công việc và hành động của người bệnh).
    • Sự tham gia (bao gồm các tình huống trong cuộc sống).
  • ICF cũng cung cấp thêm thông tin về hoàn cảnh và các yếu tố môi trường của người bệnh.

Can thiệp Phục hồi chức năng

Sự hồi phục sau đột quỵ không phải là một đường thẳng mà diễn tiến theo một đường cong, và phần lớn hồi phục xảy ra trong những ngày tháng đầu tiên. Quá trình hồi phục bao gồm bốn giai đoạn, đan xen lẫn nhau và không phân chia một cách rõ ràng:
- Giai đoạn (tối) cấp (0-24 giờ)
- Giai đoạn bán cấp:
  • Giai đoạn phục hồi sớm (24 giờ - 3 tháng)
  • Giai đoạn phục hồi muộn (3 - 6 tháng)
- Giai đoạn mạn tính (> 6 tháng)
Phục hồi chức năng người bệnh đột quỵ có thể chia thành 3 giai đoạn: Giai đoạn đầu là chăm sóc cấp cứu tại các đơn vị đột quỵ và phục hồi chức năng sớm trong những giờ đầu tiên. Giai đoạn 2 là chuyển người bệnh đến các cơ sở phục hồi chức năng.

Giai đoạn (tối) cấp

Trong giai đoạn cấp tính, việc phối hợp chăm sóc điều dưỡng, phục hồi chức năng và xử lý y học cấp là yếu tố quan trọng. Bác sĩ và kỹ thuật viên phục hồi chức năng cần khám và lượng giá ngay tại giường, sau đó ra chỉ định tập, bao gồm:
  • Tập vật lý trị liệu bằng các bài tập thụ động hoặc chủ động nhẹ nhàng.
  • Đặt tư thế đúng, thích hợp và xoay trở thường xuyên.
  • Giữ vệ sinh tốt/phòng ngừa loét do đè ép.
  • Phòng ngừa nhiễm trùng hô hấp, vật lý trị liệu hô hấp (nếu có viêm phổi).
  • Tạo thuận lợi cho nuốt được an toàn; tập nuốt các loại thức ăn trong chỉ định nhằm phòng ngừa sặc và viêm phổi do hít.
  • Tập hoạt động trị liệu đơn giản (như lau mặt, cầm thìa, cốc...).
  • Tư vấn dinh dưỡng, duy trì cung cấp dịch và dinh dưỡng tốt.
  • Tâm lý trị liệu.

Giai đoạn bán cấp

  • Sau giai đoạn cấp, các hướng dẫn khuyến cáo người bệnh ở giai đoạn sớm cần được trị liệu phục hồi chức năng càng nhiều càng tốt tùy theo mong muốn và khả năng chịu đựng. Thời gian được khuyến cáo tối thiểu ít nhất 45 phút đến 60 phút mỗi ngày cho mỗi phương pháp điều trị (Vật lý trị liệu, Hoạt động trị liệu, Ngôn ngữ trị liệu...).
  • Đối với những người không thể tiếp cận các dịch vụ phục hồi chức năng do hạn chế về địa lý và tài chính, khuyến cáo thực hiện các đợt phục hồi chức năng nội trú tích cực nhằm tăng cường tối đa sự hồi phục (ví dụ ở Khoa Phục hồi chức năng, Bệnh viện Phục hồi chức năng). Các tài liệu cho thấy cần tập phục hồi chức năng càng nhiều càng tốt trong 6 tháng đầu sau đột quỵ mặc dù sự hồi phục vẫn có thể xảy ra sau thời gian này. Phục hồi chức năng liên tục có thể giúp phòng ngừa các biến chứng thứ phát.
  • Đột quỵ không chỉ là một tình trạng cấp tính mà còn gây ra các khiếm khuyết, giới hạn hoạt động và hạn chế sự tham gia kéo dài. Để xử lý tốt nhất nhiều loại rối loạn về thể chất, nhận thức và cảm xúc..., người bệnh đột quỵ cần được chăm sóc phục hồi chức năng kết hợp liên tục bắt đầu tại bệnh viện ở giai đoạn cấp và chủ động theo dõi, hỗ trợ người bệnh khi chuyển qua các giai đoạn phục hồi chức năng bán cấp và mạn tính.
Sau khi ra khỏi khoa cấp cứu, các biện pháp sau được xem là một phần của chăm sóc phục hồi chức năng cho người bệnh đột quỵ đã ổn định; các biện pháp này có thể được thực hiện tại bệnh viện hoặc ở cộng đồng:
  • Tư thế trị liệu.
  • Vận động sớm, rời giường sớm: Vật lý trị liệu và phục hồi chức năng nên được thực hiện sớm, ngay khi người bệnh còn đang nằm trên giường bệnh, thường 24-48 giờ sau đột quỵ khi tình trạng người bệnh cho phép.
  • Xử lý những thay đổi trong trương lực cơ, co cứng.
  • Xử lý các rối loạn cảm giác.
  • Xử lý các khó khăn trong giao tiếp.
  • Tạo thuận cho nuốt an toàn, xử lý rối loạn nuốt.
  • Tạo thuận phục hồi chức năng chi trên.
  • Cải thiện cơ lực.
  • Cải thiện dáng đi, thăng bằng và di chuyển.
  • Cải thiện sức bền và sức khoẻ chung.
  • Khuyến khích các hoạt động sinh hoạt hàng ngày (ADL).
  • Phòng ngừa và xử lý co rút.
  • Xử lý đau, bán trật khớp vai.
  • Xử lý đau thần kinh.
  • Xử lý phù nề chi.
  • Xử lý mệt mỏi sau đột quỵ.
  • Xử lý các thay đổi về nhận thức.
  • Xử lý các rối loạn về tâm trạng, cảm xúc, hành vi + trầm cảm.
  • Ngăn ngừa huyết khối tĩnh mạch sâu, thuyên tắc mạch phổi.
  • Xử lý loét do tỳ ép.
  • Xử lý nhiễm trùng.
  • Phòng ngừa ngã.
  • Xử lý vấn đề tiểu tiện không tự chủ.
  • Xử lý các vấn đề về thị giác.
  • Một số kỹ thuật kích thích não không xâm lấn: Kích thích điện 1 chiều xuyên sọ (tDCS), kích thích từ trường xuyên sọ (rTMS: Các phương pháp kích thích não không xâm lấn: đã có nhiều bằng chứng rõ rệt về hiệu quả của các phương pháp kích thích não không xâm lấn, đặc biệt là phương pháp kích thích điện 1 chiều xuyên sọ và phương pháp kích thích từ trường xuyên sọ làm tăng cường tính mềm dẻo của hệ thần kinh sau tổn thương não cấp và mạn giúp cải thiện chức năng sinh hoạt hàng ngày sau đột quỵ não.
  • Sử dụng thuốc hỗ trợ: Vai trò của thuốc trong phục hồi chức năng đột quỵ: một số thuốc có tác dụng bảo vệ thần kinh, dinh dưỡng và tăng tính mềm dẻo thần kinh, tham gia vào quá trình bảo vệ thần kinh; phục hồi thần kinh, thúc đẩy quá trình tái sửa chữa và tái học tập của não, đặc biệt khi được phối hợp với quy trình phục hồi chức năng chuẩn. Có thể sử dụng peptid (cerebrolysin concentrate); phức hợp: succcinic acid, nicotinamide, inosine và riboflavin sodium phosphat; choline alphoscerate; citicoline; saponin; piracetam; vinpocetine và các thuốc được cấp phép lưu hành sản phẩm và có phạm vi chỉ định.

Theo dõi y tế và phục hồi chức năng sau xuất viện

  • Sau khi xuất viện, người khuyết tật sau đột quỵ cần được theo dõi trong vòng 72 giờ bởi nhóm đa chuyên ngành để lượng giá các nhu cầu của người bệnh và xây dựng các kế hoạch can thiệp.
  • Bên cạnh theo dõi y học, những người bệnh đột quỵ sẽ cần được tiếp tục điều trị phục hồi chức năng khi xuất viện sau tình trạng cấp tính. Khi được ra viện, công tác phục hồi chức năng được tiến hành tại các đơn vị phục hồi chức năng ngoại trú, các cơ sở điều dưỡng và quan trọng là có chương trình phục hồi chức năng tại nhà đối với người bệnh.
  • Cần giải thích và khuyến cáo về cách thức và địa điểm để tiếp cận các dịch vụ phục hồi chức năng cho người bệnh đột quỵ và gia đình/người chăm sóc trước khi xuất viện. Nếu có thể, cần thông báo cho một cơ sở phục hồi chức năng cụ thể về tình trạng sắp xuất viện để hỗ trợ theo dõi người bệnh đột quỵ.

Hình thức phục hồi chức năng tại nhà/cộng đồng

Phục hồi chức năng khi xuất viện sau giai đoạn cấp cần phải được tiếp tục với một trong 2 hình thức sau:
a. Phục hồi chức năng dựa vào viện/trung tâm
  • Phục hồi chức năng dựa vào viện có thể được thực hiện tại khoa điều trị ngoại trú của bệnh viện địa phương (như là Bệnh viện Phục hồi chức năng) hoặc cơ sở y tế ở cộng đồng (ví dụ như phòng khám tư nhân hoặc các phòng khám khác ở địa phương).
  • Phục hồi chức năng có thể được thực hiện bởi các kỹ thuật viên. Khuyến khích người bệnh đột quỵ phải chủ động trong phục hồi chức năng để tăng cường sự hồi phục và chức năng. Sự tham gia của người bệnh đột quỵ và gia đình/người chăm sóc rất cần thiết để đảm bảo rằng các bài tập có thể được tiếp tục thực hiện ở nhà và sử dụng hết mức các chiến lược chức năng nhằm đạt được khả năng độc lập tại nhà và cộng đồng.
b. Phục hồi chức năng tại nhà
  • Các dịch vụ phục hồi chức năng hướng đến người bệnh đột quỵ đang sống ở nhà giúp cải thiện sự độc lập trong sinh hoạt hàng ngày của người bệnh.
  • Phục hồi chức năng tại nhà cho phép can thiệp phục hồi chức năng có mục đích hơn với người bệnh đột quỵ, tập trung giải quyết các vấn đề thực tế và chức năng mà người bệnh đột quỵ và gia đình/người chăm sóc gặp phải ở nhà và cộng đồng.
  • Có thể phát triển các hình thức phục hồi chức năng tại nhà sử dụng những nguồn lực sẵn có ở địa phương và thay đổi thích ứng ngôi nhà nếu cần thiết.
  • Nếu có thể, một nhân viên công tác xã hội/nhân viên phục hồi chức năng cộng đồng được đào tạo sơ bộ có thể đi kèm với kỹ thuật viên để trợ giúp tiếp tục thực hiện và theo dõi các bài tập khi kỹ thuật viên không thể trực tiếp điều trị cho người bệnh đột quỵ.

MỘT SỐ KHUYẾN CÁO CỦA HỘI TIM MẠCH VÀ HỘI ĐỘT QUỴ HOA KỲ

Vận động sớm, rời giường sớm

Vật lý trị liệu và phục hồi chức năng cần được tiến hành sớm, ngay khi người bệnh còn đang nằm trên giường bệnh; thường là sau 24-48 giờ kể từ đột quỵ, khi tình trạng người bệnh cho phép (mức độ bằng chứng B).
Được khuyến cáo
I
A
Vận động rất sớm với cường độ cao trong vòng 24 giờ sau đột quỵ có thể làm giảm kết quả tốt ở 3 tháng sau đột quỵ và do đó không được khuyến cáo.
Không khuyến cáo
III
A

Phòng ngừa loét do đè ép và phòng ngừa co rút

Trong thời gian nằm viện, cần đánh giá thường xuyên nguy cơ loét bằng các thang điểm khách quan, ví dụ thang điểm Braden.
Được khuyến cáo
I
C
Thực hiện các biện pháp giảm thiểu hoặc loại trừ ma sát da, giảm áp lực lên da, cung cấp các bề mặt nâng đỡ, tránh ẩm ướt quá mức và duy trì cung cấp chất dinh dưỡng và nước đầy đủ nhằm phòng ngừa tổn thương da. Lăn trở thường xuyên, vệ sinh da tốt, sử dụng đệm nằm và đệm ngồi xe lăn chống loét cho đến khi phục hồi vận động.
Được khuyến cáo
I
C
Tư vấn về loét do tì đè cho nhân viên y tế, người bệnh và người chăm sóc.
Được khuyến cáo
I
C
Đặt tư thế vai bên liệt ở tư thế xoay ngoài tối đa khi người bệnh nằm hoặc ngồi; thực hiện mỗi ngày 30 phút.
Nên cân nhắc dùng
IIa
B
Có thể cân nhắc nẹp nghỉ cho cổ tay/bàn tay nhằm kéo giãn và xử lý co cứng ở những người bệnh mất vận động bàn tay chủ động.
Có thể cân nhắc
IIb
C
Có thể cân nhắc sử dụng nẹp bột chu kỳ hoặc nẹp cố định có điều chỉnh để giảm co rút khuỷu tay và cổ tay từ nhẹ đến vừa.
Có thể cân nhắc
IIb
C
Có thể cân nhắc phẫu thuật giải phóng cơ cánh tay trước, cơ cánh tay quay và cơ nhị đầu trong trường hợp co rút khuỷu và gây đau.
Có thể cân nhắc
IIb
B
Nẹp nghỉ cổ chân sử dụng ban đêm và khi đứng hỗ trợ có thể cân nhắc nhằm phòng ngừa co rút cổ chân.
Có thể cân nhắc
IIb
B

Sàng lọc và xử lý rối loạn nuốt

Khuyến cáo sàng lọc nuốt sớm cho người bệnh đột quỵ cấp để nhận diện rối loạn nuốt hoặc hít sặc dẫn đến viêm phối, suy dinh dưỡng, mất nước và các biến chứng khác.
Được khuyến cáo
I
B
Sàng lọc rối loạn nuốt nên được thực hiện bởi chuyên gia ngôn ngữ trị liệu hoặc nhân viên y tế được đào tạo.
Nên cân nhắc dùng
IIa
C
Cần đánh giá nuốt trước khi người bệnh bắt đầu ăn, uống hoặc uống thuốc.
Được khuyến cáo
I
B
Đánh giá bằng dụng cụ được chỉ định cho những người bệnh nghi ngờ hít sặc.
Nên cân nhắc dùng
IIa
B
Lựa chọn phương pháp đánh giá (nội soi ống mềm, ghi video có thuốc cản quang) dựa trên sự sẵn có tại cơ sở y tế.
Có thể cân nhắc
IIb
C
Nên thực hiện quy trình vệ sinh miệng để làm giảm nguy cơ hít sặc phổi sau đột quỵ.
Được khuyến cáo
I
B
Cho ăn bằng ống thông nên bắt đầu trong vòng 7 ngày sau đột quỵ ở những người bệnh không thể nuốt an toàn.
Được khuyến cáo
I
A
Ống thông dạ dày qua mũi nên được sử dụng ngắn hạn (2-3 tuần) để hỗ trợ dinh dưỡng cho người bệnh không thể nuốt an toàn.
Được khuyến cáo
I
B
Ống thông dạ dày qua da được đặt ở những người bệnh mất khả năng nuốt an toàn mạn tính.
Được khuyến cáo
I
B
Cân nhắc bổ sung dinh dưỡng cho những người bệnh nuôi dưỡng kém hoặc có nguy cơ suy dinh dưỡng.
Nên cân nhắc dùng
IIa
B
Phối hợp các nguyên lý mềm dẻo thần kinh trong phục hồi chức năng và/hoặc can thiệp rối loạn nuốt.
Nên cân nhắc dùng
IIa
C
Có thể cân nhắc các biện pháp can thiệp hành vi như một phần trong điều trị rối loạn nuốt.
Có thể cân nhắc
IIb
A
Châm cứu có thể được cân nhắc như một phương pháp điều trị bổ sung cho rối loạn nuốt.
Có thể cân nhắc
IIb
B

Phòng ngừa và xử lý đau vai, bán trật khớp vai bên liệt

Hướng dẫn người bệnh và người nhà về đau vai và chăm sóc vai sau đột quỵ (ví dụ tầm vận động, đặt tư thế), đặc biệt trước khi ra viện.
Được khuyến cáo
I
C
Tiêm botulinum toxin có thể có ích trong việc làm giảm co cứng nặng ở các cơ vùng vai.
Nên cân nhắc dùng
IIa
A
Thuốc điều biến thần kinh được xem là hợp lý đối với người bệnh đau vai bên liệt có biểu hiện và triệu chứng lâm sàng của đau thần kinh (tăng cảm, dị cảm).
Nên cân nhắc dùng
IIa
A
Cân nhắc đặt tư thế thích hợp và sử dụng dụng cụ hoặc băng treo nhằm nâng đỡ khớp vai trong bán trật khớp vai.
Nên cân nhắc dùng
IIa
C
Có thể cân nhắc sử dụng kích thích điện thần kinh cơ (NMES) (kích thích bề mặt hay trong cơ) trong đau vai.
Có thể cân nhắc
IIb
A
Có thể cân nhắc dùng siêu âm để chẩn đoán tổn thương mô mềm vùng vai.
Có thể cân nhắc
IIb
B
Lợi ích của châm cứu như là điều trị bổ sung trong đau vai bên liệt có giá trị không chắc chắn.
Có thể cân nhắc
IIb
B
Có thể cân nhắc tiêm corticoid dưới mỏm cùng vai hoặc ổ khớp vai ở những người bệnh có viêm vùng này nhưng chưa được xác lập rõ.
Có thể cân nhắc
IIb
B
Phong bế thần kinh trên vai có thể được cân nhắc như một điều trị bổ sung cho đau vai bên liệt.
Có thể cân nhắc
IIb
B
Phẫu thuật cắt gân cơ ngực lớn, cơ lưng rộng, cơ tròn lớn hoặc cơ dưới vai có thể cân nhắc cho người bệnh liệt nửa người và hạn chế nặng tầm vận động khớp vai.
Có thể cân nhắc
IIb
C
Không khuyến cáo các bài tập sử dụng ròng rọc cao phía trên đầu.
Không khuyến cáo
III
C

Xử lý co cứng

Khuyến cáo tiêm botulinum toxin vào các cơ mục tiêu ở chi trên để làm giảm co cứng, cải thiện tầm vận động thụ động và chủ động, đồng thời cải thiện mặc quần áo, vệ sinh và đặt tư thế chi.
Được khuyến cáo
I
A
Khuyến cáo tiêm botulinum toxin vào các cơ mục tiêu ở chi dưới để làm giảm co cứng ảnh hưởng đến chức năng dáng đi.
Được khuyến cáo
I
A
Thuốc chống co cứng đường uống có thể có ích trong loạn trương lực cơ co cứng toàn thể, tuy nhiên có thể gây ra tác dụng an thần do liều hạn chế hoặc các tác dụng phụ khác.
Nên cân nhắc dùng
IIa
A
Các tác nhân vật lý như kích thích điện thần kinh cơ hoặc dụng cụ rung đặt tại cơ co cứng có thể cải thiện co cứng tạm thời, như một liệu pháp phục hồi chức năng bổ sung.
Có thể cân nhắc
IIb
A
Liệu pháp bơm baclofen trong màng cứng có thể có ích trong trường hợp co cứng nặng không đáp ứng với các điều trị khác.
Có thể cân nhắc
IIb
A
Không khuyến cáo sử dụng nẹp hoặc băng để phòng ngừa co cứng cổ tay và ngón tay sau đột quỵ.
Không khuyến cáo
III
B

Phục hồi chức năng vận động và đi lại

Vận động tích cực, lặp đi lặp lại và tập theo tác vụ được khuyến cáo cho tất cả người bệnh hạn chế đi lại sau đột quỵ.
Được khuyến cáo
I
A
Nẹp dưới gối được khuyến cáo cho người bệnh sau đột quỵ có khiếm khuyết dáng đi (ví dụ bàn chân rủ).
Được khuyến cáo
I
A
Phối hợp tập luyện tim mạch và tập mạnh cơ có thể được cân nhắc nhằm phục hồi khả năng đi lại và các tác vụ liên quan đến dáng đi.
Nên cân nhắc dùng
IIa
A
Kích thích điện thần kinh cơ có thể được cân nhắc như một biện pháp thay thế nẹp dưới gối trong bàn chân rủ.
Nên cân nhắc dùng
IIa
A
Tập đi trên thảm lăn có hoặc không có nâng đỡ trọng lượng, hoặc tập đi trên bề mặt phối hợp với phục hồi chức năng cổ điển có thể phù hợp để phục hồi khả năng đi lại.
Có thể cân nhắc
IIb
A
Cân nhắc tập phục hồi chức năng thường quy kết hợp với tập tobot nhằm cải thiện chức năng vận động và đi lại sau đột quỵ.
Có thể cân nhắc
IIb
A
Tập đi với các thiết bị cơ học (thảm lăn, khung tập đi cơ điện..) có nâng đỡ trọng lượng có thể cân nhắc sớm cho người bệnh đột quỵ không có khả năng đi lại.
Có thể cân nhắc
IIb
A
Chưa có đủ bằng chứng để khuyến cáo châm cứu nhằm tạo thuận cho phục hồi vận động và đi lại.
Có thể cân nhắc
IIb
B
Hiệu quả của kích thích điện qua da trong việc phối hợp với các hoạt động hàng ngày để cải thiện đi lại, sức mạnh chi dưới và tốc độ đi là không chắc chắn.
Có thể cân nhắc
IIb
B
Lợi ích của phản hồi sinh học thông qua điện cơ trong tập luyện dáng đi sau đột quỵ là không chắc chắn.
Có thể cân nhắc
IIb
B
Tập với môi trường thực tế ảo có thể hiệu quả trong cải thiện dáng đi.
Có thể cân nhắc
IIb
B
Hiệu quả của các phương pháp sinh lý thần kinh (ví dụ: liệu pháp phát triển thần kinh, tạo thuận thần kinh cơ cảm thụ bản thể) so với các PP khác trong tái tập luyện sau đột quỵ cấp chưa được xác lập.
Có thể cân nhắc
IIb
B

Phục hồi chức năng chi trên

Nên tổ chức các bài tập theo tác vụ và các hoạt động chức năng, trong đó các tác vụ được điều chỉnh theo mức độ có thể thực hiện của từng cá nhân; áp dụng tập lặp đi lặp lại và tăng dần độ khó.
Được khuyến cáo
I
A
Tất cả người bệnh đột quỵ não nên được luyện tập các hoạt động sinh hoạt hằng ngày cơ bản được thiết kế riêng theo nhu cầu của từng cá nhân và phù hợp với hoàn cảnh cụ thể khi ra viện.
Được khuyến cáo
I
A
Tất cả người bệnh đột quỵ não nên được luyện tập các hoạt động sinh hoạt hằng ngày có công cụ, được thiết kế riêng theo nhu cầu của từng cá nhân và phù hợp với hoàn cảnh cụ thể khi ra viện.
Được khuyến cáo
I
B
Phương pháp tập cưỡng bức có thể được cân nhắc sử dụng cho người bệnh đột quỵ.
Nên cân nhắc dùng
IIa
A
Nên cân nhắc tập với robot nhằm tăng tính luyện tập tích cực cho người bệnh liệt chi trên mức độ vừa đến nặng trong những tháng đầu sau đột quỵ.
Nên cân nhắc dùng
IIa
A
Kích thích điện thần kinh cơ có thể được cân nhắc sử dụng cho người bệnh có một chút vận động chủ động trong những tháng đầu sau đột quỵ não hoặc cho người bệnh bị bán trật khớp vai.
Nên cân nhắc dùng
IIa
A
Tập thực hành theo tâm trí và gương trị liệu có thể được cân nhắc như là phương pháp bổ sung cho các bài tập phục hồi chức năng chi trên.
Nên cân nhắc dùng
IIa
A
Các bài tập mạnh cơ có thể được cân nhắc sử dụng để bổ sung cho các bài tập chức năng theo tác vụ.
Nên cân nhắc dùng
IIa
B
Tập trong môi trường thực tế ảo cũng có thể được xem xét như một phương pháp tập luyện vận động chi trên.
Nên cân nhắc dùng
IIa
B
Có thể cân nhắc tái tập luyện cảm giác nhằm cải thiện chức năng phân biệt cảm giác cho người bệnh đột quỵ bị mất cảm giác.
Có thể cân nhắc
IIb
B
Các thiết bị tập luyện hai tay có thể có ích cho tập chi trên.
Có thể cân nhắc
IIb
A
Châm cứu không được khuyến cáo nhằm cải thiện hoạt động sinh hoạt hằng ngày và các hoạt động chi trên.
Không khuyến cáo
III
C

Phục hồi chức năng thăng bằng, điều hợp

Nên xây dựng một chương trình luyện tập thăng bằng cho người bệnh đột quỵ có thăng bằng kém, mức độ tự tin thăng bằng thấp, sợ ngã hoặc nguy cơ ngã cao.
Được khuyến cáo
I
A
Nên chỉ định và lắp đặt cho người bệnh đột quỵ một dụng cụ hoặc nẹp trợ giúp phù hợp để cải thiện thăng bằng.
Được khuyến cáo
I
A
Nên lượng giá thăng bằng, mức độ tự tin thăng bằng và nguy cơ ngã cho người bệnh đột quỵ.
Được khuyến cáo
I
C
Có thể cân nhắc các bài tập về vị thế và các bài tập theo tác vụ trong phục hồi chức năng thất điều.
Có thể cân nhắc
IIb
C

Dụng cụ trợ giúp, nẹp chỉnh hình và xe lăn

Các dụng cụ trợ giúp đi lại (ví dụ: gậy chống, khung tập đi) nên được sử dụng nhằm giúp người bệnh có khiếm khuyết dáng đi và thăng bằng, đồng thời cần thiết cho việc đi lại hiệu quả và an toàn.
Được khuyến cáo
I
B
Nẹp dưới gối nên được sử dụng cho khớp cổ chân không ổn định hoặc yếu nhóm cơ gấp mu chân.
Được khuyến cáo
I
B
Xe lăn nên được sử dụng cho người không thể đi lại được hoặc bị hạn chế khả năng đi bộ.
Được khuyến cáo
I
C
Các dụng cụ thích nghi và dụng cụ trợ giúp nên được áp dụng vì lý do an toàn và chức năng khi các phương pháp hỗ trợ để thực hiện hoạt động/tác vụ khác không sẵn có hoặc khi người bệnh không thể học các phương pháp đó, hoặc cần lưu ý đến an toàn của người bệnh.
Được khuyến cáo
I
C

Phục hồi chức năng rối loạn nhận thức, trí nhớ, mất thực dụng, hội chứng thờ ơ lãng quên

Khuyến cáo tập luyện trong môi trường giàu kích thích nhằm tăng các hoạt động nhận thức.
Được khuyến cáo
I
A
Nên cân nhắc sử dụng các phương pháp phục hồi chức năng nhận thức để cải thiện sự chú ý, trí nhớ, lãng quên thị giác và chức năng điều hành.
Nên cân nhắc dùng
IIa
B
Nên cân nhắc sử dụng các chiến lược tập luyện nhận thức như thực hành, bù trừ và các kỹ thuật thích nghi nhằm tăng sự độc lập.
Nên cân nhắc dùng
IIa
B
Các chiến lược bù trừ có thể cân nhắc để cải thiện trí nhớ, bao gồm các chiến lược bên trong (ví dụ: hình ảnh thị giác, sự sắp đặt có ý nghĩa, thực hành giãn cách) và công nghệ trợ giúp trí nhớ bên ngoài (ví dụ: sách vở, máy tính, các dụng cụ khác).
Có thể cân nhắc
IIb
A
Có thể cân nhắc một vài dạng tập luyện trí nhớ chuyên biệt, ví dụ: quá trình thúc đẩy toàn bộ trí nhớ không gian-thị giác và xây dựng một khung có nghĩa cho trí nhớ dựa trên lời nói.
Có thể cân nhắc
IIb
B
Liệu pháp âm nhạc có thể phù hợp để cải thiện trí nhớ lời nói.
Có thể cân nhắc
IIb
B
Việc tập luyện có thể cân nhắc như là liệu pháp bổ sung để cải thiện nhận thức và trí nhớ sau đột quỵ.
Có thể cân nhắc
IIb
C
Tập với môi trường thực tế ảo có thể cân nhắc cho việc học lời nói, thị giác và không gian, nhưng hiệu quả chưa xác lập rõ ràng.
Có thể cân nhắc
IIb
C
Kích thích điện một chiều xuyên sọ cực dương lên vỏ não trước trán phía sau ngoài làm cải thiện trí nhớ làm việc vẫn còn thử nghiệm.
Không khuyến cáo
III
B
Khuyến cáo khám sàng lọc các khiếm khuyết về nhận thức cho tất cả người bệnh đột quỵ trước khi ra viện.
Được khuyến cáo
I
B
Khuyến cáo chiến lược tập luyện tư thế, cử chỉ, điệu bộ cho người bệnh mất thực dụng.
Có thể cân nhắc
IIb
B
Có thể khuyến cáo tập theo tác vụ cho người mất thực dụng có hoặc không có vấn đề tâm thần.
Có thể cân nhắc
IIb
C
Có thể áp dụng các can thiệp lặp tại từ trên xuống dưới và từ dưới lên trên như lăng kính thích nghi, máy quét thị giác, kích thích thị động lực, mô phỏng thực tế ảo, kích hoạt chi trong hình ảnh trong tâm trí và kích thích rung vùng cổ kết hợp với lăng kính thích nghi để cải thiện các triệu chứng lãng quên nửa người.
Nên cân nhắc dùng
IIa
A
Kích thích từ trường xuyên sọ lặp lại có thể được cân nhắc để cải thiện các triệu chứng lãng quên nửa người.
Có thể cân nhắc
IIb
B

Tài liệu tham khảo

  1. Hướng dẫn chẩn đoán và xử trí đột quỵ não. Số 5331/QĐ-BYT. 2020. Bộ Y Tế
  2. Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị đột quỵ não. 3312/QĐ-BYT 05/11/2024