GIỚI THIỆU
Cập nhật các hướng dẫn tại: Nhiễm trùng huyết và sốc nhiễm trùng. Chủ đề này cung cấp cái nhìn tổng quan về SEPSIS ở người lớn.
DỊCH TỂ
Tỷ lệ mắc bệnh
- Các yếu tố có thể làm tăng tỷ lệ nhiễm trùng huyết bao gồm tuổi cao, ức chế miễn dịch và nhiễm vi trùng đa kháng thuốc. Ngoài ra, khả năng gia tăng tỷ lệ phát hiện nhiễm trùng sớm cũng được nêu ra do các chiến dịch giáo dục và hoạt động tích cực nâng cao nhận thức về nhiễm trùng huyết, song giả thuyết này chưa được chứng minh.
- Tỷ lệ nhiễm trùng huyết không đồng nhất giữa các nhóm chủng tộc và sắc tộc khác nhau.
- Tỷ lệ mắc bệnh cao nhất vào mùa đông, có thể liên quan đến sự gia tăng tỷ lệ nhiễm trùng đường hô hấp.
- Nhóm bệnh nhân lớn tuổi ≥ 65 tuổi chiếm tỷ trọng chủ yếu (60 - 85%) trong toàn bộ các đợt nhiễm trùng huyết; với xu hướng dân số già ngày càng tăng, khả năng tỷ lệ nhiễm trùng huyết sẽ tiếp tục tăng trong tương lai.
Mầm bệnh
- Vi khuẩn là tác nhân được chứng minh gây sepsis chủ yếu ở những bệnh nhân được phát hiện mầm bệnh, trong khi sepsis do vi rút chưa được chẩn đoán trên phạm vi toàn cầu. Tại Mỹ, vi khuẩn gram dương được ghi nhận thường xuyên nhất ở nhóm bệnh nhân sepsis, dù số trường hợp sepsis do gram âm vẫn còn đáng kể.
- Tỷ lệ sepsis do nấm đã tăng trong thập kỷ qua nhưng vẫn thấp hơn sepsis do vi khuẩn.
- Khoảng 1/2 số ca sepsis không xác định được vi sinh vật (sepsis với nuôi cấy âm tính).
- Các tác nhân vi rút có thể gây bệnh gồm: cúm A và B, vi rút hợp bào hô hấp (RSV), corona vi rút, vi rút metapneumo ở người (hMPV), vi rút parainfluenza type 1 đến 3, adeno vi rút, vi rút đường ruột (enteroviruses) và vi rút Rhino (rhinovirus). Bên cạnh các loại vi rút thường gặp, các trường hợp nhiễm vi rút mới nổi cũng có thể dẫn đến nhiễm trùng huyết và gây quan ngại về sức khỏe toàn cầu, bao gồm hội chứng hô hấp cấp nặng do corona vi rút (SARS-CoV), hội chứng hô hấp Trung Đông do corona vi rút (MERS-CoV) và SARS-CoV-2 gây bùng phát bệnh corona vi rút 2019 (COVID-19).
Mức độ nghiêm trọng
- Mức độ nghiêm trọng của bệnh dường như có xu hướng gia tăng. Trong một phân tích hồi cứu, tỷ lệ bệnh nhân sepsis có ít nhất một cơ quan bị rối loạn chức năng tăng từ 26 lên 44% trong giai đoạn từ 1993 đến 2003.
- Các đặc điểm phổ biến nhất của rối loạn chức năng cơ quan nặng gồm hội chứng suy hô hấp cấp tính (ARDS), suy thận cấp và đông máu nội mạch lan tỏa (DIC).
- Tuy vậy, vẫn chưa rõ việc tỷ lệ sepsis và sốc nhiễm trùng (septic shock) ngày càng tăng phản ánh sự gia tăng tổng thể của sepsis hay do thay đổi định nghĩa về sepsis theo thời gian.
ĐỊNH NGHĨA
SEPSIS sớm
Nhiễm trùng và du khuẩn huyết
- Nhiễm trùng được định nghĩa là sự xâm nhập của các vi sinh vật vào mô vô trùng thông thường, gây ra bệnh lý nhiễm trùng.
- Du khuẩn huyết là tình trạng hiện diện của vi khuẩn sống trong máu.
Xác định SEPSIS sớm
SEPSIS
Rối loạn chức năng cơ quan
Nhiễm trùng
SEPTIC SHOCK (sốc nhiễm trùng)
Đối tượng đặc biệt
Phụ nữ mang thai
Bệnh nhân COVID-19 nặng
CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ
- Nhập viện vào ICU: khoảng 50% bệnh nhân ICU bị nhiễm trùng bệnh viện, do đó nguy cơ phát triển nhiễm trùng huyết về bản chất là cao.
- Du khuẩn huyết: nhiễm trùng thường tiến triển với biểu hiện toàn thân do căn nguyên nhiễm trùng. Trong một nghiên cứu dựa trên 270 mẫu cấy máu, 95% mẫu cấy dương tính có liên quan đến SEPSIS hoặc SEPTIC SHOCK.
- Tuổi cao (> 65 tuổi): tuổi là yếu tố dự báo độc lập về tỷ lệ tử vong do SEPSIS.
- Ức chế miễn dịch: các bệnh kèm theo làm suy giảm khả năng bảo vệ của cơ thể (ví dụ: khối u, suy thận, suy gan, AIDS, cắt lách), đồng thời thuốc ức chế miễn dịch là tình trạng thường gặp ở người bệnh SEPSIS và SEPTIC SHOCK.
- Tiểu đường và béo phì: có thể làm thay đổi hệ thống miễn dịch, qua đó làm tăng nguy cơ SEPSIS. Đồng thời, cả 2 tình trạng này đều có liên quan đến việc gia tăng nguy cơ tái phát nhiễm trùng, nhiễm trùng bệnh viện và nhiễm trùng thứ phát dẫn đến SEPSIS.
- Ung thư: bệnh ác tính là một trong các bệnh kèm theo phổ biến nhất ở bệnh nhân SEPSIS. Trong một nghiên cứu, nguy cơ tiến triển SEPSIS có thể tăng gấp 10 lần.
- Viêm phổi mắc phải tại cộng đồng: tiến triển thành nhiễm trùng huyết nặng và sốc nhiễm trùng lần lượt khoảng 48% và 5% trong số bệnh nhân nhập viện vì viêm phổi mắc phải tại cộng đồng.
- Nhập viện trước đó: việc nhập viện trước được xem là yếu tố làm thay đổi hệ vi sinh vật ở người, đặc biệt ở những bệnh nhân đã được điều trị bằng kháng sinh. Nhập viện trước đó có liên quan đến việc tăng nguy cơ SEPSIS lên gấp 3 lần trong 90 ngày tiếp theo. Trong đó, bệnh nhân nhập viện do các tình trạng liên quan đến nhiễm trùng, đặc biệt là nhiễm trùng Clostridium difficile, có nguy cơ cao nhất.
- Yếu tố di truyền: cả nghiên cứu thực nghiệm và lâm sàng đều khẳng định yếu tố di truyền có thể làm tăng nguy cơ nhiễm trùng. Gần đây, các khiếm khuyết di truyền đã được xác định có thể gây suy giảm khả năng nhận biết mầm bệnh của miễn dịch bẩm sinh, từ đó làm tăng tính nhạy cảm với những nhóm vi sinh vật cụ thể.
BIỂU HIỆN LÂM SÀNG
| Đánh giá ban đầu các nguồn SEPSIS phổ biến | ||
|---|---|---|
| Vị trí nghi ngờ | Dấu hiệu/ triệu chứng (1) | Đánh giá vi sinh ban đầu (2) |
| Đường hô hấp trên | Viêm họng với tiết dịch ± sưng và nổi hạch (viêm hạch bạch huyết) | Phết(ngoáy) họng và nuôi cấy hiếu khí |
| Đường hô hấp dưới | Ho có đờm, đau ngực kiểu màng phổi, nghe phát hiện đông đặc phổi | Đờm có chất lượng tốt, xét nghiệm Cúm nhanh, xét nghiệm kháng nguyên trong nước tiểu (ví dụ: phế cầu, Legionella, không được khuyến cáo ở trẻ em), nuôi cấy định lượng bằng lấy bệnh phẩm bằng bàn chải có bảo vệ hoặc rửa phế quản phế nang. |
| Đường tiết niệu | Tiểu gấp, tiểu khó, đau thắt lưng hoặc đau lưng | Nuôi cấy nước tiểu và soi dưới kính hiểu vi thấy mủ niệu |
| Catheter mạch máu: động mạch, tĩnh mạch trung tâm | Đỏ hoặc thoát dịch tại vị trí đặt catheter (không phải luôn hiện diện) | Cấy máu (từ catheter và vị trí ngoại vi), nuôi cấy đầu catheter (nếu rút bỏ catheter) |
| Catheter ở màng phổi | Đỏ hoặc thoát dịch tại vị trí đặt catheter (không phải luôn hiện diện) | Nuôi cấy dịch màng phổi (qua catheter) |
| Vết thương hoặc vết bỏng | Viêm, phù nề, ban đỏ, chảy mủ | Nhuộm Gram và cấy dịch mủ, nuôi cấy vết thương không đáng tin cậy |
| Da/ mô mềm | Ban đỏ, phù nề, nổi hạch | Nuôi cấy dịch phồng rộp hoặc dịch mủ, vai trò của hút mô chưa được chứng minh |
| Thần kinh trung ương | Dấu hiệu kích thích màng não | Đếm số lượng tế bào, protein, glucos, nhuộm Gram, và nuôi cấy dịch não tủy (3) |
| Tiêu hóa | Đau bụng, chướng bụng, tiêu chảy và nôn ói | Nuôi cấy phân để tìm Salmonella, Shigella, hoặc Campylobacter; phát hiện độc tố Clostridium difficile |
| Trong ổ bụng | Các dấu hiệu/ triệu chứng bụng đặc hiệu | Nuôi cấy hiếu khí và kỵ ký dịch ổ bụng được dẫn lưu qua da hoặc phẫu thuật |
| Catheter thẩm phân phúc mạc | Dịch thẩm phân phúc mạc đục, đau bụng | Đếm số lượng tế bào và nuôi cấy dịch thẩm phân phúc mạc |
| Đường sinh dục |
- Nữ: đau bụng dưới, tiết dịch âm đạo - Nam: tiểu khó, tiểu nhiều lần, tiểu gấp, tiểu không tự chủ, nước tiểu đục, đau tuyến tiền liệt |
- Nữ: phết dịch nội mạc tử cung hoặc phần cao của âm đạo trên môi trường chọn lọc - Nam: nhuộm Gram và nuôi cấy nước tiểu |
| Xương | Đau, nóng, sưng, giảm tầm vận động | Cấy máu, chụp MRI, cấy xương khi phẫu thuật hoặc bằng chụp X quang(radiology) can thiệp |
| Khớp | Đau, nóng, sưng, giảm tầm vận động | Chọc dịch khớp với đếm tế bào, nhuộm Gram, và nuôi cấy |
(2) Các xét nghiệm ban đầu được đề xuất không được coi là toàn diện. Xét nghiệm bổ sung và hội chẩn Truyền Nhiễm có thể được đảm bảo
(3) Xét nghiệm kháng nguyên và/hoặc phân tử vi khuẩn cũng có thể phù hợp ở những bệnh nhân chọn lọc.
Dấu hiệu và triệu chứng
- Các dấu hiệu và triệu chứng đặc hiệu của nguồn lây nhiễm (ví dụ: ho và khó thở có thể gợi ý viêm phổi, đau và tiết dịch mủ ở vết thương phẫu thuật có thể gợi ý áp xe tiềm ẩn).
- Hạ huyết áp động mạch (ví dụ, huyết áp tâm thu < 90 mmHg, huyết áp động mạch trung bình < 70 mmHg, huyết áp tâm thu giảm > 40 mmHg, hoặc ít hơn 2 độ lệch chuẩn dưới mức bình thường so với tuổi).
- Nhiệt độ > 38.3 hoặc < 36 độ C.
- Nhịp tim > 90 nhịp/phút, hoặc nhiều hơn 2 độ lệch chuẩn trên mức bình thường so với tuổi.
- Thở nhanh, tầm số thở > 20 nhịp/phút.
-
Các dấu hiệu của tới máu cơ quan đích:
- Da ấm, đỏ bừng có thể xuất hiện trong giai đoạn đầu của SEPSIS. Khi SEPSIS tiến triển đến sốc, da có thể trở nên lạnh do sự dịch chuyển lượng máu đến các cơ quan quan trọng. Giảm khả năng đổ đầy mao mạch, tím tái hoặc nổi vân tím có thể là dấu hiệu của sốc.
- Các biểu hiện khác của giảm tưới máu gồm: tình trạng ý thức thay đổi, lơ mơ hoặc bồn chồn, thiểu niệu hoặc vô niệu.
- Tắc ruột hoặc mất nhu động ruột thường là dấu hiệu gợi ý giai đoạn cuối của giảm tưới máu.
Dấu hiệu xét nghiệm
- Tăng số lượng bạch cầu (WBC > 12.000/ mL) hoặc giảm (WBC < 4.000/ mL).
- Số lượng bạch cầu bình thường kèm > 10% bạch cầu non (chưa trưởng thành).
- Tăng đường máu (glucose huyết tương > 140 mg/dL hoặc > 7.7 mmol/L) ở người không có bệnh tiểu đường.
- CRP huyết tương vượt quá 2 độ lệch chuẩn so với giá trị bình thường.
- Giảm oxy máu động mạch (PaO2/FiO2 < 300).
- Thiểu niệu cấp (lượng nước tiểu < 0.5 mL/kg/giờ trong ít nhất 2 giờ mặc dù đã hồi sức dịch đầy đủ).
- Tăng creatinine > 0.5 mg/dL hoặc 44.2 mcromol/L.
- Bất thường đông máu (INR > 1.5 hoặc aPTT > 60 giây).
- Giảm tiểu cầu (số lượng tiểu cầu < 100.000/ mL).
- Tăng bilirubin máu (Bilirubin huyết tương toàn phần > 4 mg/dL hoặc 70 micromol/L).
- Suy tuyến thượng thận (ví dụ, hạ natri máu, tăng kali máu) và hội chứng bệnh mà không mắc bệnh tuyến giáp(Euthyroid) cũng có thể gặp trong SEPSIS.
- Tăng Lactate máu (lớn hơn giới hạn trên của xét nghiệm bình thường). Lactate huyết thanh tăng lên (ví dụ > 2 mmol/L) có thể là chỉ dấu của giảm tưới máu cơ quan khi có hoặc không có hạ huyết áp và là thành phần quan trọng trong đánh giá ban đầu, vì tăng Lactate có liên quan đến tiên lượng xấu. Mức Lactate huyết thanh ≥ 4 mmol/L phù hợp với sốc nhiễm trùng nhưng không phải là tiêu chuẩn chẩn đoán sốc nhiễm trùng. Mặc dù Lactate động mạch và tĩnh mạch có mối tương quan với nhau, việc đo Lactate động mạch chính xác và được ưu tiên hơn.
- Procalcitonin (PCT) huyết tương lớn hơn 2 độ lệch chuẩn so với giá trị bình thường (không được thực hiện thường quy ở nhiều trung tâm). Mức độ PCT huyết thanh tăng lên có liên quan đến nhiễm khuẩn và SEPSIS. Tuy nhiên, trong một phân tích tổng hợp 18 nghiên cứu, PCT không dễ dàng phân biệt viêm hệ thống do nhiễm trùng với viêm hệ thống không do nhiễm trùng.
- MR-proADM đã được sử dụng để dự đoán tần xuất xảy ra và mức độ xấu đi của suy cơ quan ở bệnh nhân hồi sức. Dù vậy, vẫn còn nhiều tranh cãi về việc theo dõi nồng độ MR-proADM có thể cải thiện chẩn đoán nhiễm khuẩn và góp phần tiên lượng và hiệu quả điều trị bằng kháng sinh.
Chẩn đoán hình ảnh
Xét nghiệm vi sinh
CHẨN ĐOÁN
ĐÁNH GIÁ VÀ XỬ TRÍ NGAY LẬP TỨC
Ổn định hô hấp
- Cung cấp oxy cho tất cả bệnh nhân SEPSIS có tình trạng thiếu oxy, đồng thời theo dõi liên tục quá trình oxy hóa bằng máy đo SpO2. Mặc dù mục tiêu SpO2 lý tưởng chưa được thiết lập, trên thực hành thường hướng tới SpO2 từ 90 - 96%.
- Theo dõi khí máu động mạch (ABG) thường quy nhìn chung không được khuyến cáo.
- Thông khí không xâm lấn (NIV), liệu pháp oxy lưu lượng cao (HFNC) hoặc đặt nội khí quản và thở máy có thể cần thiết để hỗ trợ quá trình oxy hóa, hoặc khi xảy ra tăng công thở kèm theo trong SEPSIS.
- Đặt nội khí quản và thở máy cũng có thể cần thiết để bảo vệ đường thở vì bệnh não hoặc suy giảm mức độ ý thức thường gặp là biến chứng của SEPSIS.
Thiết lập đường truyền tĩnh mạch
- Thiết lập đường truyền tĩnh mạch ở bệnh nhân nghi ngờ SEPSIS nên được thực hiện càng sớm càng tốt.
- Trong một số trường hợp, đường truyền ngoại vi hoặc trong xương (IO) có thể đáp ứng đủ cho hồi sức ban đầu. Tuy nhiên, trong quá trình hồi sức, nhiều người bệnh sẽ cần thiết lập đường truyền tĩnh mạch trung tâm ở một số thời điểm nhất định. Việc đặt đường truyền tĩnh mạch trung tâm không được làm trì hoãn hồi sức dịch và kháng sinh.
- Catheter tĩnh mạch trung tâm (CVC) có thể dùng để truyền dịch, dùng thuốc (đặc biệt là thuốc vận mạch) và các chế phẩm máu, đồng thời để lấy máu làm xét nghiệm thường quy.
- Mặc dù CVC có thể hỗ trợ theo dõi đáp ứng điều trị bằng đo áp lực tĩnh mạch trung tâm (CVP) và độ bão hòa oxy hemoglobin tĩnh mạch trung tâm (ScvO2), nhưng bằng chứng từ các thử nghiệm ngẫu nhiên cho thấy giá trị của các chỉ số này bị hạn chế. Theo khuyến cáo về nhiễm trùng huyết và sốc nhiễm trùng, nên dùng các chỉ số động để định hướng hồi sức dịch hơn là dựa vào khám lâm sàng hoặc chỉ sử dụng một thông số tĩnh đơn thuần.
Thăm dò ban đầu
- Xét nghiệm thường quy: công thức máu có thay đổi, xét nghiệm sinh hóa, chức năng gan và xét nghiệm đông máu (bao gồm cả mức độ D-dimer). Kết quả các xét nghiệm này có thể hỗ trợ chẩn đoán, phản ánh mức độ nghiêm trọng của SEPSIS và cung cấp cơ sở để theo dõi đáp ứng điều trị.
- Lactate huyết thanh: lactate huyết thanh tăng cao (ví dụ > 2 mmol/l hoặc lớn hơn giới hạn trên bình thường) gợi ý mức độ nghiêm trọng của SEPSIS và có thể được sử dụng để theo dõi đáp ứng điều trị.
- Cấy máu ngoại vi: thực hiện cấy máu ngoại vi (nuôi cấy hiếu khí và kỵ khí từ ít nhất 2 vị trí khác nhau), phân tích nước tiểu và nuôi cấy vi sinh từ các nguồn lây nhiễm nghi ngờ (ví dụ: đờm, nước tiểu, catheter nội mạch, vết thương hoặc vị trí phẫu thuật, dịch cơ thể, kháng nguyên nhanh hoặc kiểm tra phản ứng chuỗi polymerase) tại các vị trí dễ tiếp cận. Cần tránh lấy máu để nuôi cấy thông qua catheter nội mạch hoặc catheter tĩnh mạch trung tâm bất cứ khi nào có thể vì các cổng thường xuyên bị vi khuẩn trên da xâm chiếm, từ đó làm tăng khả năng cấy máu dương tính giả. Nếu lấy cấy máu từ đường truyền tĩnh mạch, mẫu thứ hai phải được lấy từ vị trí tiêm tĩnh mạch ngoại vi. Cấy máu trước khi dùng kháng sinh giúp tăng khả năng phát hiện mầm bệnh; vì vậy, việc lấy mẫu cấy và bắt đầu điều trị kháng sinh cần được tiến hành nhanh chóng ở các bệnh nhân có dấu hiệu nhiễm trùng huyết nặng.
- Phân tích khí máu động mạch (ABG): có thể phát hiện tình trạng nhiễm toan, thiếu oxy hoặc tăng CO2 máu.
- Chẩn đoán hình ảnh: tập trung vào vị trí nghi ngờ nhiễm trùng (ví dụ: chụp x quang ngực, CT ngực và/ hoặc bụng).
- Procalcitonin (pct): mặc dù giá trị chẩn đoán của pct ở bệnh nhân SEPSIS còn thiếu bằng chứng thuyết phục, nhưng giá trị của xét nghiệm này trong giảm leo thang liệu pháp kháng sinh đã được khẳng định rõ ràng ở một số nhóm bệnh, đặc biệt là viêm phổi cộng đồng và nhiễm trùng hô hấp. Xét nghiệm pct để hướng dẫn thời gian sử dụng kháng sinh phù hợp khi vai trò của nó ở các nhóm khác chưa rõ ràng. Theo khuyến cáo, không nên sử dụng pct kết hợp với đánh giá lâm sàng để quyết định thời điểm dùng kháng sinh so với đánh giá lâm sàng đơn thuần. Khi kiểm soát nguồn nhiễm trùng đầy đủ mà thời gian điều trị tối ưu chưa rõ ràng, nên dùng pct và đánh giá lâm sàng để quyết định thời điểm ngừng kháng sinh thay vì chỉ dựa vào đánh giá lâm sàng đơn thuần.
ĐIỀU TRỊ BAN ĐẦU
- Tưới máu mô chủ yếu đạt được thông qua truyền dịch tĩnh mạch; thông thường sử dụng dịch tinh thể với liều 30 mL/kg. Liều này cần bắt đầu ngay trong giờ đầu và hoàn thành trong vòng 3 giờ đầu kể từ thời điểm được chẩn đoán.
- Liệu pháp kháng sinh theo kinh nghiệm phải hướng đến các vi sinh vật và các vị trí nhiễm trùng nghi ngờ; ưu tiên khởi động trong vòng 1 giờ đầu sau khi chẩn đoán.
Truyền dịch tĩnh mạch (3 giờ đầu)
Thể tích dịch
- Giảm thể tích nội mạch thường gặp và có thể diễn tiến nghiêm trọng trong SEPSIS.
- Truyền nhanh 30 mL/kg được khuyến cáo như liệu pháp khởi đầu cho nhiễm trùng huyết nặng hoặc sốc nhiễm trùng, trừ khi có bằng chứng thuyết phục cho phù phổi đáng kể.
- Liệu pháp truyền dịch cần được tiến hành theo các bolus có liều lượng xác định rõ (ví dụ 500mL). Trước và sau mỗi bolus, cần đánh giá đáp ứng lâm sàng, các chỉ số huyết động và sự hiện diện/không hiện diện của phù phổi. Hồi sức dịch phải được ngừng lại khi xuất hiện phù phổi hoặc khi việc truyền dịch thêm không làm tăng tưới máu.
Lựa chọn loại dịch truyền
- Ưu tiên dung dịch tinh thể cân bằng thay vì nước muối sinh lý khi cần hạn chế hoặc điều trị tình trạng tăng Clo máu, vốn có thể xảy ra khi sử dụng một lượng lớn dịch tinh thể không đệm (nước muối sinh lý).
- Dữ liệu từ các thử nghiệm ngẫu nhiên và phân tích tổng hợp không ghi nhận khác biệt thuyết phục giữa Albumin (thiếu lợi ích rõ ràng và chi phí albumin cao hơn) và dịch tinh thể trong điều trị nhiễm trùng huyết và sốc nhiễm trùng. Tuy nhiên, đã xác định tác hại tiềm ẩn khi sử dụng dung dịch cao phân tử. Sử dụng HES (tinh bột Hydroxyethyl) làm tăng tỷ lệ tử vong và làm tăng nhu cầu sử dụng liệu pháp thay thế thận trong 28 ngày; đồng thời, Pentastarch có xu hướng làm tăng tỷ lệ tử vong trong 90 ngày.
Điều trị toan chuyển hóa
- Vai trò của truyền Bicarbonate ở bệnh nhân nhiễm toan lactic còn gây tranh cãi.
- Đối với các bệnh nhân nhiễm toan lactic gây toan máu nặng (pH động mạch < 7.1, thường kèm HCO3 ≤ 6 mmol/l), khuyến cáo điều trị bằng natri bicarbonate thay vì không điều trị (mức độ khuyến cáo 2C). Mục tiêu là duy trì pH > 7.1 cho đến khi điều trị căn nguyên đảo ngược được tình trạng bệnh. Phương pháp điều trị chính cho nhiễm toan lactic là điều trị bệnh lý căn nguyên (nhiễm trùng huyết và sốc nhiễm trùng).
- Ở những bệnh nhân được thông khí đầy đủ và nhiễm toan lactic nặng, sử dụng bolus 1 - 2 mEq/kg natri bicarbonate; lặp lại liều sau 30 - 60 phút nếu pH vẫn < 7.1.
- Đối với các bệnh nhân nhiễm toan ít nghiêm trọng hơn (pH từ 7.1 - 7.2), chỉ dùng natri bicarbonate nhằm mục tiêu pH từ 7.3 trở lên khi có tổn thương thận cấp nặng (định nghĩa là tăng gấp đôi hoặc nhiều hơn nồng độ creatinine hoặc thiểu niệu). Ngược lại, ở bệnh nhân pH từ 7.1 trở lên mà không có tổn thương thận cấp nặng thì không chỉ định natri bicarbonate.
- Truyền nhanh natri bicarbonate có thể làm tăng PaCO2, thúc đẩy sản xuất Lactate, hạ calci ion hóa, tăng thể tích dịch ngoại bào và làm tăng nồng độ Natri huyết thanh.
Điều trị kháng sinh theo kinh nghiệm (trong giờ đầu tiên)
Nhận định nguồn lây nhiễm nghi ngờ
Thời điểm
Lựa chọn phác đồ
- Tụ cầu vàng kháng Methicillin (Methicillin-resistant Staphylococcus aureus - MRSA): là nguyên nhân nhiễm trùng huyết không chỉ ở người bệnh trong bệnh viện mà còn ở những bệnh nhân sống trong cộng đồng mà không nhập viện gần đây. Vì những lý do này, khuyến cáo bổ sung Vancomycin đường tĩnh mạch theo kinh nghiệm (điều chỉnh theo chức năng thận) vào phác đồ theo kinh nghiệm, đặc biệt ở bệnh nhân sốc nhiễm trùng hoặc ở những bệnh nhân có nguy cơ mắc MRSA. Các lựa chọn thay thế tiềm năng cho Vancomycin (ví dụ: Daptomycin cho MRSA không phải nhiễm tại phổi, Linezolid) cần được cân nhắc khi bệnh nhân có MRSA kháng trị hoặc có biểu hiện độc lực, hoặc khi có chống chỉ định với Vancomycin. Khi phối hợp với beta-lactam, Vancomycin nên được dùng sau beta-lactam.
- Thực hành thường ghi nhận: nếu Pseudomonas (trực khuẩn mủ xanh) không có khả năng là mầm bệnh, ưu tiên phối hợp Vancomycin với một trong các lựa chọn sau: Cephalosporin thế hệ 3 (ví dụ: Ceftriaxone hoặc Cefotaxime) hoặc thế hệ 4 (Cefepime), hoặc beta-lactam/ức chế beta-lactamase (ví dụ: Piperacillin-tazobactam), hoặc carbapenem (ví dụ: imipenem hoặc meropenem).
- Nếu Pseudomonas có khả năng là mầm bệnh, ưu tiên phối hợp Vancomycin với 1 đến 2 thuốc trong số các lựa chọn sau, tùy thuộc vào mô hình nhạy cảm với kháng sinh tại địa phương: Cephalosporin kháng pseudomonas (ví dụ: Ceftazidime, Cefepime), hoặc Carbapenem kháng pseudomonas (ví dụ: imipenem, meropenem), hoặc beta-lactam/ức chế beta-lactamase kháng pseudomonas (ví dụ: Piperacillin-tazobactam), hoặc Fluoroquinolone có hoạt tính tốt kháng pseudomonas (ví dụ: Ciprofloxacin), hoặc Aminoglycoside (ví dụ: gentamycin, amikacin), hoặc monobactam (ví dụ: Aztreonam).
- Các vi sinh vật Gram âm không phải Pseudomonas (ví dụ: E. coli, K. pneumoniae): trước đây, mầm bệnh Gram âm thường được bao phủ bằng 2 thuốc thuộc các nhóm kháng sinh khác nhau. Tuy nhiên, một số thử nghiệm lâm sàng và hai phân tích tổng hợp không chứng minh được hiệu quả tổng thể vượt trội của liệu pháp phối hợp so với đơn trị liệu bằng Cephalosporin thế hệ 3 hoặc Carbapenem. Hơn nữa, một phân tích tổng hợp cho thấy mức độ bao phủ kép gồm Aminoglycoside liên quan đến tăng tỷ lệ tác dụng phụ (độc tính lên thận). Vì vậy, ở bệnh nhân nghi ngờ mầm bệnh Gram âm, khuyến cáo sử dụng một thuốc duy nhất có hiệu quả đã được chứng minh và ít độc tính nhất có thể, ngoại trừ trường hợp bệnh nhân đã bị giảm bạch cầu trung tính hoặc nhiễm trùng huyết do Pseudomonas đã biết hoặc nghi ngờ, khi đó liệu pháp phối hợp có thể được xem xét.
- Nhiễm nấm xâm lấn: việc sử dụng thường quy liệu pháp kháng nấm theo kinh nghiệm thường không phù hợp ở bệnh nhân nặng không giảm bạch cầu hạt. Nhiễm nấm xâm lấn đôi khi làm phức tạp diễn tiến của người bệnh hồi sức, đặc biệt khi có các yếu tố nguy cơ sau: phẫu thuật, dinh dưỡng qua đường tĩnh mạch, điều trị kháng sinh kéo dài hoặc nhập viện (đặc biệt trong ICU), hóa trị, ghép tạng, suy gan hoặc thận mãn tính, đái tháo đường, phẫu thuật lớn ở bụng, có thiết bị trong mạch máu, sốc nhiễm trùng hoặc nhiễm Candida spp ở nhiều vị trí. Tuy nhiên, các nghiên cứu không ủng hộ việc sử dụng thường quy thuốc chống nấm theo kinh nghiệm ở nhóm đối tượng này, do không làm giảm tỷ lệ tử vong và không làm giảm nhiễm nấm xâm lấn mới (trong nghiên cứu EMPIRICUS thì có giảm tỷ lệ nhiễm nấm mới). Dẫu vậy, nếu nghi ngờ nhiều về Candida hoặc Aspergillus hoặc nếu có giảm bạch cầu trung tính thì thuốc kháng nấm nhóm Echinocandin (đối với Candida) hoặc Voriconazole (đối với Aspergillus) thường là thích hợp. Xem thêm: Nhiễm nấm xâm lấn trong ICU.
- Tác nhân khác: các phác đồ khác cần được cân nhắc để bổ sung các thuốc nhắm tới các vi sinh vật cụ thể như Legionella (Macrolide hoặc Fluoroquinolone), các tác nhân khó điều trị (ví dụ: Stenotrophomonas) hoặc bổ sung theo các tình trạng bệnh cụ thể (ví dụ: nhiễm khuẩn huyết ở bệnh nhân giảm bạch cầu).
Liều lượng
Địa điểm nhập viện
THEO DÕI ĐÁP ỨNG
Theo dõi bằng catheter
-
Catheter động mạch có thể được đặt khi huyết áp không ổn định, phép đo huyết áp ngoại vi không đáng tin cậy, thời gian phục hồi tưới máu dự kiến kéo dài (đặc biệt khi đang sử dụng thuốc vận mạch), hoặc khi áp dụng chiến lược đánh giá đáp ứng với truyền dịch theo hướng động để theo dõi huyết động.
-
Catheter tĩnh mạch trung tâm (CVC) có thể được cân nhắc khi dự kiến truyền một lượng lớn dịch hoặc cần dùng thuốc vận mạch, đường truyền ngoại vi kém, hoặc khi lựa chọn theo dõi huyết động dựa trên đo áp lực tĩnh mạch trung tâm (CVP) hoặc độ bão hòa oxyhemoglobin tĩnh mạch trung tâm (ScvO2).
Lâm sàng
Huyết động
-
Phương pháp tĩnh: theo kinh điển, ngoài MAP, các phép đo CVC tĩnh sau đây thường được sử dụng để xác định mức độ đủ của điều trị dịch: CVP mục tiêu từ 8 đến 12 mmHg. ScvO2 ≥ 70% (≥65 % nếu mẫu máu lấy từ PAC). Xem thêm: Đặt catheter tĩnh mạch trung tâm (không dùng siêu âm) và Đặt catheter động mạch phổi.
-
Phương pháp động: các biến đổi theo hô hấp về đường kính tĩnh mạch chủ (dIVC), áp lực động mạch quay, tốc độ đỉnh lưu lượng máu qua động mạch chủ (Vpeak), tích phân vận tốc-thời gian đường ra thất trái (LVOT VTI), và tốc độ dòng máu qua động mạch cảnh hoặc cánh tay là các phương pháp động được xem xét để đánh giá khả năng đáp ứng bù dịch. Ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy các phương pháp động là yếu tố dự đoán chính xác hơn khả năng đáp ứng bù dịch so với phương pháp tĩnh, với điều kiện bệnh nhân nhịp xoang và được thở máy thụ động với thể tích khí lưu hợp lý. Đối với bệnh nhân thở tích cực hoặc bệnh nhân có nhịp tim không đều, mức tăng cung lượng tim (CO) khi đáp ứng với nghiệm pháp nâng chân thụ động (đo CO bằng siêu âm tim, phân tích sóng động mạch hoặc PAC) cũng có thể dự đoán khả năng đáp ứng bù dịch. Việc lựa chọn tùy thuộc vào tính sẵn có và chuyên môn kỹ thuật; tuy nhiên, nghiệm pháp nâng chân thụ động có thể chính xác nhất và có thể áp dụng rộng rãi. Xem thêm: Theo dõi chức năng huyết động và Theo dõi huyết động thay thế.
Xét nghiệm
- Lactate huyết thanh: theo dõi (ví dụ sau mỗi 6 giờ) ở bệnh nhân nhiễm trùng huyết cho đến khi giá trị Lactate giảm rõ ràng. Khuyến cáo này cũng được nêu trong hướng dẫn của SCCM 2021. Việc giảm Lactate trong 12 giờ đầu hồi sức đã được đánh giá như một dấu hiệu tiềm năng phản ánh hiệu quả hồi sức. Tuy nhiên, Lactate là chỉ dấu kém về tưới máu mô sau khi hồi phục tái tưới máu; ngoại lệ là khi Lactate tiếp tục tăng, khi đó cần thúc đẩy đánh giá lại mức độ đầy đủ của tưới máu. Hiện nay các thiết bị cho phép đo Lactate tại giường đã sẵn sàng, có thể tăng tính thực tế và tiện ích cho việc theo dõi định kỳ Lactate huyết thanh.
- Xét nghiệm thường quy: theo dõi thăm dò xét nghiệm, đặc biệt là số lượng tiểu cầu, sinh hóa huyết thanh và kiểm tra chức năng gan, thường được thực hiện (ví dụ cứ mỗi 6 giờ) cho đến khi giá trị đạt mức bình thường hoặc mức nền. Tình trạng tăng Clo máu nên được tránh; nếu xảy ra, có thể chuyển sang dung dịch có nồng độ clo thấp hơn (ví dụ dung dịch đệm[dịch tinh thể cân bằng]).
- Vi sinh: theo dõi các chỉ số nhiễm trùng, bao gồm công thức máu và nuôi cấy bổ sung. Kết quả sẽ gợi ý thay đổi lựa chọn kháng sinh nếu có thể thay thế phác đồ tốt hơn và an toàn hơn và/hoặc thăm dò hướng tới kiểm soát nguồn lây nhiễm.
- Khí máu động mạch: được dùng để theo dõi sự xấu đi hoặc hồi phục của các bất thường trao đổi khí, cũng như mức độ nghiêm trọng và kiểu nhiễm toan (ví dụ hồi phục nhiễm toan chuyển hóa và sự phát triển của nhiễm toan tăng clo máu). Sự xấu đi của trao đổi khí có thể là gợi ý về hiện diện phù phổi do hồi sức dịch quá mức, đồng thời hỗ trợ phát hiện các biến chứng khác bao gồm tràn khí màng phổi từ việc đặt catheter tĩnh mạch trung tâm, ARDS, hoặc thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch.
XÁC ĐỊNH TIÊU ĐIỂM NHIỄM TRÙNG VÀ KIỂM SOÁT NGUỒN LÂY NHIỄM
Xác định
Kiểm soát nguồn lây nhiễm
| Các phương pháp kiểm soát nguồn nhiễm trùng ICU phổ biến | |
|---|---|
| Nguồn | Các can thiệp |
| Viêm phổi | Vật lý trị liệu lồng ngực, hút dịch tiết |
| Đường tiết niệu | Dẫn lưu áp xe, giải thoát sự tắc nhẽn, loại bỏ hoặc thay đổi ống thông bị nhiễm trùng |
| Du khuẩn huyết liên quan đến catheter | Loại bỏ catheter |
| Viêm phúc mạc | Cắt bỏ, sửa chữa hoặc chuyển hướng các nguồn ô nhiễm đang diễn ra, dẫn lưu áp xe, cắt lọc mô hoại tử |
| Nhiễm trùng tụy | Dẫn lưu hoặc cắt lọc |
| Nhiễm trùng mô mềm | Cắt lọc mô hoại tử và dẫn lưu các ổ áp xe rời rạc |
| Viêm khớp nhiễm trùng | Dẫn lưu khớp và cắt lọc |
| Viêm nội tâm mạc | Thay van tim |
| Nhiễm trùng thiết bị nhân tạo(ví dụ: răng giả,..) | Loại bỏ thiết bị |
| Tràn mủ màng phổi | Dẫn lưu, loại bỏ mô sợi |
| Viêm xoang | Phẫu thuật giải áp xoang |
| Viêm đường mật | Giải áp ống mật |
Xem thêm: Kiểm soát nguồn lây nhiễm trong việc quản lý nhiễm trùng huyết và sốc nhiễm trùng.
NHỮNG BỆNH NHÂN THẤT BẠI VỚI ĐIỀU TRỊ BAN ĐẦU
Thuốc vận mạch và thuốc tăng co bóp cơ tim
Phần lớn chuyên gia tránh dùng dopamine và ưu tiên norepinephrine như là lựa chọn hàng đầu.
| Thuốc vận mạch trong sốc nhiễm trùng | |||
|---|---|---|---|
| Thuốc | Ảnh hưởng lên tần số tim | Ảnh hưởng lên co bóp cơ tim | Ảnh hưởng lên sự co động mạch |
| Dobutamine | + | +++ | - (giãn mạch) |
| Dopamine | ++ | ++ | ++ |
| Epinephrine | +++ | +++ | ++ |
| Norepinephrine | ++ | ++ | +++ |
| Phenylephrine | 0 | 0 | +++ |
| Thuốc | Liều khởi đầu | Khoảng liều duy trì thường dùng | Khoảng liều tối đa trong sốc kháng trị |
|---|---|---|---|
| Thuốc vận mạch(alpha-1 adrenergic) | |||
|
Norepinephrine (noradrenaline) |
5-15 mcg/phút(0.05-0.15 mcg/kg/phút) Sốc tim: 0.05 mcg/kg/phút |
2-80 mcg/phút(0.025-1 mcg/kg/phút) Sốc tim: 0.05-0.4 mcg/kg/phút |
80-250 mcg/phút(1-3.3 mcg/kg/phút) |
|
Epinephrine (adrenaline) |
1-15 mcg/phút(0.01- 0.2 mcg/kg/phút) | 1-40 mcg/phút(0.01-0.5 mcg/kg/phút) | 40-160 mcg/phút(0.5-2 mcg/kg/phút) |
| Phenylephrine | 40-160 mcg/phút cho đến khi ổn định (cách khác, 0.5-2 mcg/kg/phút) | 20-400 mcg/phút(0.25-5 mcg/kg/phút) | 80-730 mcg/phút(1.1-9.1 mcg/kg/phút) |
| Dopamine | 2-5 mcg/kg/phút | 2-20 mcg/kg/phút | 20 mcg/kg/phút |
| Hormone chống bài niệu | |||
| Vasopressin (arginine-vasopressin) |
0.03 UI/phút | 0.01-0.04 UI/phút(không chuẩn độ) | Liều > 0,04 UI/phút có thể gây thiếu máu cục bộ cơ tim và nên dành cho liệu pháp cứu cánh |
| Thuốc tăng co bóp cơ tim (beta 1 adrenergic) | |||
| Dobutamine | Thông thường: 2-5 mcg/kg/phút (khoảng: 0,5-5 mcg/kg/phút; liều thấp hơn đối với tình trạng mất bù của tim ít nghiêm trọng hơn) | 2-10 mcg/kg/phút | 20 mcg/kg/phút |
| Thuốc tăng co bóp cơ tim(nonadrenergic, chất ức chế PDE 3 ) | |||
| Milrinone | 0,125-0,25 mcg/kg/phút | 0,125-0,75 mcg/kg/phút | 0,75 mcg/kg/phút |
- Dữ liệu ủng hộ Norepinephrine (Noradrenalin) là thuốc đầu tay đơn trị liệu trong sốc nhiễm trùng. Dopamine có biến cố rối loạn nhịp tim cao gấp đôi so với Norepinephrine.
- Việc lựa chọn thuốc vận mạch ban đầu ở bệnh nhân nhiễm trùng huyết cần được cá nhân hóa và dựa trên các yếu tố bổ sung góp phần gây sốc (ví dụ: suy tim), rối loạn nhịp tim, thiếu máu cơ quan, hoặc thuốc sẵn có. Ví dụ: ở bệnh nhân có nhịp tim nhanh đáng kể (ví dụ: rung nhĩ đáp ứng thất nhanh, nhịp xoang nhanh > 160 lần/phút), các thuốc thiếu tác dụng lên hệ beta adrenergic (ví dụ: vasopressin) có thể được ưu tiên nếu cho rằng nhịp tim nhanh nặng hơn có thể dẫn đến tình trạng mất bù thêm. Tương tự, dopamine có thể được chấp nhận ở bệnh nhân có nhịp tim chậm đáng kể, nhưng liều thấp Dopamin không nên được sử dụng cho mục đích bảo vệ thận (lợi tiểu).
- Thuốc bổ sung: có thể thêm thuốc thứ 2 hoặc thứ 3 vào Norepinephrine (ví dụ: epinephrine, dobutamine hoặc vasopressin). Việc bổ sung Vasopressin vào thuốc vận mạch catecholamine (ví dụ: epinephrine, norepinephrine) dẫn đến tỷ lệ rung nhĩ thấp hơn.
- Đối với bệnh nhân bị sốc nhiễm trùng kháng trị có cung lượng tim thấp, việc bổ sung thêm thuốc tăng co bóp cơ tim (dobutamine) có thể hữu ích; dopamine có liên quan đến lợi ích sống sót.
- Có thể tiến hành thử nghiệm thuốc tăng co bóp cơ tim ở bệnh nhân không đáp ứng đầy đủ với truyền dịch và thuốc vận mạch. Dobutamine là thuốc được lựa chọn đầu tay, epinephrine là lựa chọn thay thế phù hợp.
Glucocorticoid
- Hướng dẫn khuyến cáo không sử dụng glucocorticoid thường quy ở bệnh nhân nhiễm trùng huyết.
- Tuy nhiên, liệu pháp corticosteroid có thể được tích hợp ở bệnh nhân sốc nhiễm trùng kháng trị (huyết áp tâm thu < 90 mmHg trong > 1 giờ) khi hồi sức dịch và thuốc vận mạch đã đầy đủ.
- Khi quyết định sử dụng, liều lượng hydrocortisone (< 400 mg mỗi ngày chia nhiều liều) đơn thuần hơn là phối hợp với Fludrocortisone (mức khuyến cáo 2C). Tuy nhiên, việc bổ sung Fludrocortisone (50 mg qua sonde dạ dày một lần mỗi ngày) là một lựa chọn thay thế hợp lý. Thời gian điều trị từ 5 đến 7 ngày; sử dụng phương pháp phải giảm liều dần dựa theo đáp ứng lâm sàng. Cần theo dõi chặt chẽ bệnh nhân khi ngừng điều trị steroid mà không giảm liều.
Truyền hồng cầu
BỆNH NHÂN CÓ ĐÁP ỨNG VỚI ĐIỀU TRỊ
Xác định và kiểm soát tiêu điểm nhiễm trùng
Giảm leo thang dịch truyền
Giảm leo thang và thời gian sử dụng kháng sinh
Giảm leo thang kháng sinh
- Mặc dù chưa có sự thống nhất về tiêu chí giảm leo thang, phần lớn chuyên gia dựa vào dữ liệu theo dõi lâm sàng (tình trạng sinh tồn cải thiện), xét nghiệm và chẩn đoán hình ảnh, cùng một liệu trình điều trị phổ rộng cố định (ví dụ: 3 đến 5 ngày).
- Chưa có thử nghiệm chất lượng cao đánh giá tính an toàn của giảm dần liệu pháp kháng sinh ở người lớn nhiễm trùng huyết hoặc sốc nhiễm trùng. Dù vậy, phần lớn các thử nghiệm quan sát cho thấy kết quả tương đương hoặc được cải thiện với chiến lược giảm leo thang kháng sinh theo kế hoạch cố định này.
Thời gian dùng kháng sinh
- Đối với đa số bệnh nhân, thời gian điều trị thường từ 3 đến 8 ngày.
- Tuy nhiên, kéo dài liệu trình có thể phù hợp ở các bệnh nhân có đáp ứng lâm sàng chậm, tiêu điểm nhiễm trùng không dẫn lưu được, du khuẩn huyết do S.aureus, một số loại nấm (ví dụ nhiễm Candida sâu[deep]) hoặc nhiễm virus (ví dụ herpes hoặc cytomegalovirus), viêm nội tâm mạc, viêm tủy xương, áp xe lớn, mầm bệnh gram âm có khả năng kháng thuốc cao với độ nhạy gần giới hạn hoặc hạn chế, giảm bạch cầu hoặc suy giảm miễn dịch.
- Tương tự, các đợt điều trị ngắn hơn có thể được chấp nhận ở bệnh nhân có kết quả nuôi cấy âm tính hoặc kiểm soát nguồn lây nhiễm nhanh chóng và tình trạng nhiễm trùng huyết được giải quyết sớm cùng với các thăm dò xét nghiệm.
- Ở bệnh nhân bị giảm bạch cầu trung tính, tiếp tục điều trị bằng kháng sinh cho đến khi tình trạng giảm bạch cầu trung tính được giải quyết hoặc hoàn tất đợt điều trị kháng sinh theo kế hoạch, tùy theo thời gian nào dài hơn.
- Ở bệnh nhân mà tình trạng nhiễm trùng không còn được xác nhận hoàn toàn, nên ngừng kháng sinh sớm nhất có thể để giảm thiểu nguy cơ xâm nhập hoặc nhiễm trùng do vi sinh vật kháng thuốc và bội nhiễm với các mầm bệnh khác. Đôi khi, các đợt điều trị ngắn hơn có thể phù hợp (ví dụ: bệnh nhân viêm bể thận, nhiễm trùng tiết niệu hoặc viêm phúc mạc có giải pháp kiểm soát nguồn lây nhiễm nhanh chóng).
Vai trò của Procalcitonin
ĐIỀU TRỊ HỖ TRỢ
Cũng như đối với các bệnh nhân hồi sức khác, người bệnh nhiễm trùng huyết và sốc nhiễm trùng cần được tiến hành đồng thời các biện pháp điều trị hỗ trợ sau:
-
Truyền máu và chế phẩm máu (xem: chỉ định truyền máu và chế phẩm máu).
-
Dinh dưỡng (xem: Dinh dưỡng trong ICU).
-
Dự phòng loét dạ dày do căng thẳng (xem: GBP dự phòng xuất huyết tiêu hóa do loét dạ dày gây ra bởi stress ở bệnh nhân ICU).
-
Dự phòng huyết khối tĩnh mạch sâu (xem: Dự phòng thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch ở bệnh nhân ICU).
-
Kiểm soát đường huyết (xem: kiểm soát đường huyết trong ICU).
-
Thở máy, an thần, giảm đau và cai thở máy.
PHỤ NỮ MANG THAI
Cách tối ưu để kiểm soát nhiễm trùng huyết trong thai kỳ hiện chưa được xác định. Tuy nhiên, do đã nhận thức được những thay đổi huyết động học đặc trưng của thai kỳ, đa số chuyên gia vẫn áp dụng các nguyên tắc điều trị tương tự như đã nêu trong phần này. Một số hướng dẫn đã được đề xuất, nhưng hiện vẫn chưa được xác nhận.
CHĂM SÓC SAU NHIỄM TRÙNG HUYẾT
Đối với các bệnh nhân sống sót sau nhiễm trùng huyết, cần đặc biệt quan tâm đến việc chăm sóc theo dõi và nhận biết hội chứng sau chăm sóc đặc biệt (PICS).
-
Hội chứng sau chăm sóc đặc biệt (PICS) được định nghĩa là sự xuất hiện mới hoặc tình trạng xấu đi của chức năng nhận thức, tâm thần và/hoặc thể chất ở bệnh nhân sau khi trải qua một bệnh nặng.
-
Mặc dù chưa biết tỷ lệ chính xác của PICS trong số người sống sót sau bệnh nặng, nhưng ước tính cho thấy khoảng một phần tư đến một nửa hoặc hơn sẽ mắc một hoặc nhiều vấn đề thuộc ba nhánh của PICS (rối loạn chức năng nhận thức, tâm thần, thể chất).
-
Các yếu tố nguy cơ thường được nêu cho sự phát triển PICS bao gồm các bệnh lý đã có từ trước và các yếu tố đặc hiệu của đơn vị chăm sóc đặc biệt (ICU).
-
Những biểu hiện thường gặp của PICS gồm kém tập trung, trí nhớ kém, mệt mỏi, lo lắng, tâm trạng chán nản, triệu chứng rối loạn căng thẳng sau chấn thương (PTSD), yếu cơ và giảm khả năng vận động. Ngoài ra, các yếu tố phức tạp khác có thể bao gồm co rút, chức năng phổi kém, suy dinh dưỡng và ngủ kém.
-
PICS có thể được ghi nhận ngay sau khi mắc bệnh nặng; tuy vậy, các triệu chứng thường kéo dài trong 6 đến 12 tháng, đôi khi lâu hơn. Chẩn đoán PICS được xác định khi ghi nhận các dấu hiệu và triệu chứng mới xuất hiện hoặc nặng lên ở bất kỳ một hoặc nhiều trong số ba nhánh chịu ảnh hưởng sau một bệnh nặng: nhận thức, tâm thần và thể chất.
TIÊN LƯỢNG
-
Nhiễm trùng huyết có tỷ lệ tử vong cao và dường như đang có xu hướng giảm.
-
Ước tính tỷ lệ tử vong dao động từ 10 đến 52 %, với xu hướng tăng tuyến tính theo mức độ nghiêm trọng của bệnh nhiễm trùng huyết.
-
Sau khi xuất viện, nhiễm trùng huyết làm gia tăng nguy cơ tử vong, đồng thời làm tăng nguy cơ nhiễm trùng huyết trong tương lai và nhập viện trở lại.
-
Các yếu tố tiên lượng xấu bao gồm không có khả năng sốt, giảm bạch cầu, tuổi >40, một số bệnh đi kèm (ví dụ AIDS, suy gan, xơ gan, ung thư, nghiện rượu, ức chế miễn dịch), nguồn nhiễm trùng không phải đường tiết niệu, nguồn nhiễm trùng bệnh viện và việc sử dụng kháng sinh bao phủ mầm bệnh không phù hợp hoặc điều trị muộn.
Tài liệu tham khảo
- Evaluation and management of suspected sepsis and septic shock in adults. Topic 1613 Version 151.0. Uptodate 2024
- Sepsis syndromes in adults: Epidemiology, definitions, clinical presentation, diagnosis, and prognosis. Topic 1657 Version 108.0. Uptodate 2024
- Bicarbonate therapy in lactic acidosis. Topic 2294 Version 23.0. Uptodate 2024
- Surviving Sepsis Campaign Guidelines 2021. SCCM
- 2023 Update on Sepsis and Septic Shock in Adult Patients: Management in the Emergency Department. MDPI