Kỹ thuật cắt chỉ vết thương

Post key: a261a762-8045-5e7d-895b-ea5761c29731
Slug: ky-thuat-cat-chi-vet-thuong
Excerpt: Kỹ thuật cắt chỉ vết thương: chỉ định khi vết thương đã lành tốt đến ngày cắt chỉ; cân nhắc trì hoãn khi vết chưa lành, có nhiễm trùng tại chỗ, hoặc ở vị trí chịu lực/căng giãn nhiều và bệnh nhân có nguy cơ chậm lành (đái tháo đường, dùng thuốc chống đông, suy giảm miễn dịch, cơ địa sẹo lồi…). Nguyên tắc thực hiện: đảm bảo vết thương phù hợp thời điểm, tuân thủ vô khuẩn, cắt bỏ toàn bộ mối chỉ (không để chỉ tụt vào dưới da như dị vật), thao tác nhẹ nhàng giảm đau; kiểm tra sự toàn vẹn mối chỉ và hướng dẫn chăm sóc sau cắt chỉ. Thời gian cắt chỉ tham khảo: vết thương thường 7–14 ngày; đầu/mặt/cổ/vết thương thẩm mỹ ngắn hơn; vết thương dài >10 cm, gần khủy/nền xương hoặc người già/yếu/suy dinh dưỡng/ thành bụng nhiều mỡ có thể ≥10 ngày; vết thương nhiễm trùng đánh giá để cắt sớm khi phát hiện dấu hiệu phù hợp theo chỉ định. Quy trình: chuẩn bị dụng cụ và phòng hộ; định danh, giải thích và tư thế phù hợp; sát khuẩn tay, vô khuẩn trong thao tác; tháo băng bẩn, quan sát vết khâu; dùng dụng cụ kẹp-nâng mối chỉ và cắt dứt khoát, rút chỉ ra; sát khuẩn lại, che chở vết khâu bằng băng gạc phù hợp; thu dọn, phân loại rác, ghi chép hồ sơ (ngày/giờ, tình trạng vết khâu, loại dung dịch đã dùng, người thực hiện). Theo dõi và dự phòng biến chứng: theo dõi chảy máu, bung chỉ, nhiễm trùng/loét/hoại tử, sẹo mất thẩm mỹ; dự phòng phản ứng dị ứng với thuốc tê/sát khuẩn/ chỉ khâu/ kháng sinh…; chăm sóc sau cắt chỉ bằng vệ sinh với nước muối 0,9% hoặc dung dịch sát khuẩn, hạn chế ẩm ướt, tránh vận động mạnh, không gãi/cọ xát, che nắng, hướng dẫn dinh dưỡng và tái khám khi có dấu hiệu bất thường.
Recognized tags: kiem-soat-nhiem-khuan, theo-doi, du-phong, thu-thuat

GIỚI THIỆU

Mục đích của kỹ thuật cắt chỉ vết thương bao gồm:
  • Loại bỏ chỉ khâu.
  • Thúc đẩy quá trình lành thương hồi phục theo diễn tiến tự nhiên.
  • Hạn chế nguy cơ viêm nhiễm, thoát lưu dịch và hình thành mủ.
  • Góp phần phục hồi hoàn toàn, loại bỏ cản trở và giảm căng đau tại vị trí chịu tác động do chỉ khâu gây ra.
  • Tối ưu thẩm mỹ, giảm nguy cơ sẹo lồi hoặc sẹo không đồng đều.

CHỈ ĐỊNH VÀ CHỐNG CHỈ ĐỊNH

Chỉ định

  • Vết thương đã lành tốt đến ngày cắt chỉ.
  • Vết thương có dấu hiệu nhiễm trùng.

Chống chỉ định

Để bảo đảm tiến trình lành thương, việc cắt chỉ vết thương cần dựa trên quan sát và đánh giá toàn diện của người thực hiện nhằm đưa ra quyết định chính xác, kịp thời; trước khi tiến hành cần xem xét các lưu ý sau:
  • Vết thương chưa lành hẳn hoặc chưa đến ngày cắt chỉ:
    Cắt chỉ quá sớm có thể làm vết thương bị hở lại, gia tăng nguy cơ chảy máu, nhiễm trùng, để lại sẹo xấu và làm chậm quá trình hồi phục.
  • Vết thương nhiễm trùng tại chỗ:
    Trong bối cảnh nhiễm trùng, việc cắt chỉ có thể làm tình trạng nhiễm trùng lan rộng. Các dấu hiệu cần nhận diện gồm: sưng, nóng, đỏ, đau, vết loét, hoại tử,.. Có thể dẫn tới các biến chứng nghiêm trọng như nhiễm trùng toàn thân hoặc áp se → Do đó cần trì hoãn thủ thuật và hỏi ý kiến bác sĩ.
  • Vết thương ở các vị trí dễ bị căng, co giãn do vận động:
    Nếu cắt chỉ sớm, vết thương có thể mở lại do phải chịu lực tác động, từ đó làm tăng nguy cơ xuất hiện biến chứng.
  • Bệnh nhân có tình trạng sức khỏe đặc biệt:
    Bệnh tiểu đường, dùng thuốc chống đông, suy giảm miễn dịch, cơ địa sẹo lồi phì đại.. Việc cắt chỉ sớm có thể không an toàn vì quá trình lành thương của người bệnh có thể chậm hơn.
  • Đối với người thực hiện, cần bảo đảm việc cắt chỉ vết thương nằm trong phạm vi năng lực và thiết bị y tế cho phép, tránh gây tổn thương thêm hoặc tạo ra biến chứng cho người bệnh.

NGUYÊN TẮC

Một số nguyên tắc cần bảo đảm khi thực hiện cắt chỉ vết khâu:
  • Đảm bảo vết thương lành tốt và đạt đến ngày cắt chỉ theo chỉ định của bác sĩ.
  • Tuân thủ nguyên tắc vô khuẩn: vô khuẩn là yếu tố quan trọng trong thao tác y tế, giúp bảo đảm môi trường an toàn, hạn chế nguy cơ nhiễm khuẩn và hỗ trợ quá trình hồi phục của người bệnh.
  • Không để chỉ khâu phía trên chui xuống dưới da hoặc cắt xót chỉ.
    Nếu một đoạn chỉ vô tình bị tụt xuống dưới da hoặc bị xót lại trong da người bệnh, cơ chế tương tự như dị vật có thể gây viêm nhiễm, mưng mủ và tụ dịch tại vết thương.
  • Kiểm tra sự toàn vẹn của mối chỉ sau khi cắt, bảo đảm loại bỏ hoàn toàn mối chỉ, tránh bỏ sót gây viêm nhiễm.
  • Hạn chế tối đa gây đau đớn cho người bệnh:
    Thao tác cần nhẹ nhàng, chính xác; không gây ảnh hưởng tới vết thương hoặc vùng da xung quanh nhằm giúp người bệnh cảm thấy an toàn, thoải mái và tin tưởng trong quá trình chăm sóc.
  • Hướng dẫn chăm sóc sau cắt chỉ là nội dung quan trọng tương đương. Tránh để người bệnh hiểu sai rằng cắt chỉ đồng nghĩa với vết thương đã hoàn toàn ổn định và không cần che chắn/chăm sóc, dẫn đến hậu quả bất lợi.

Thời gian cắt chỉ

  • Vết thương thông thường được cắt chỉ khoảng 7 – 14 ngày.
  • Vết thương vùng đầu, mặt, cổ và vết thương thẩm mỹ: thời gian cắt chỉ ngắn hơn.
  • Vết thương dài trên 10cm, gần khủy, nền xương: thời gian cắt chỉ lâu hơn hoặc cắt mối bỏ mối.
  • Vết thương ở người già yếu, suy dinh dưỡng, thành bụng nhiều mỡ: 10 ngày trở lên.
  • Vết thương nhiễm trùng: cắt sớm khi phát hiện các dấu hiệu nhiễm trùng.
Các vết khâu để càng lâu (trên 14 ngày) thì khả năng để lại sẹo càng cao. Tuy nhiên, không nên nôn nóng và cắt chỉ trước thời hạn. Trường hợp vết thương chưa lành mà cắt chỉ sớm thì tình trạng vết thương có thể trở nên xấu hơn; miệng vết thương chưa kịp đóng lại làm tăng nguy cơ chảy máu, nhiểm khuẩn và thời gian bình phục kéo dài hơn so với thông thường. Nếu cắt chỉ quá muộn có thể dẫn đến nhiễm trùng vết thương và tạo ra hiện tượng biểu mô hoá quanh sợi chỉ, làm cho sẹo có hình xương cá mất thẩm mỹ.
Trên thực tế phải tùy vào tình huống vết thương của từng mặt bệnh, thời gian cắt chỉ sẽ được bác sĩ điều chỉnh cho phù hợp, tạo điều kiện thuận lợi nhất giúp vết thương mau lành, đồng thời giúp ít để lại sẹo cho người bệnh.

CÁC BƯỚC THỰC HIỆN

Nội dung Các bước thực hiện Yêu cầu
Trước khi thực hiện
1. Chuẩn bị dụng cụ
  • Xe tiêm: túi rác xanh, vàng, dung dịch sát khuẩn.
  • Bộ thay băng (nhíp, kelly,..)
  • Chén chum (trường hợp khay chưa có ngăn chứa dung dịch sát khuẩn)
  • Kéo cắt chỉ
  • Gạc miếng, gạc cầu phù hợp
  • Băng keo (hoặc gạc dính chuyên dụng)
  • Tấm lót
  • Dung dịch sát khuẩn: nước muối, iodine.
  • Bảo hộ: mũ, khẩu trang, áo choàng, găng ,… cho người thực hiện.
Chuẩn bị dụng cụ đầy đủ và thuận tiện nhằm bảo đảm cho quá trình thực hiện không bị gián đoạn.
2. Chuẩn bị người bệnh(NB)
  • Định danh NB.
  • Thông báo và giải thích cho NB/NNNB(người nhà bệnh nhân) về chỉ định vết thương đến ngày cắt chỉ và cách hợp tác của NB.
  • Hướng dẫn NB ngồi hoặc nằm tư thế an toàn, thoải mái để thuận tiện bộc lộ vết thương và tiến hành thủ thuật.
Xác định đúng NB.

Đảm bảo NB/NNNB hiểu rõ và đồng ý thực hiện thủ thuật.

Giúp NB thoải mái và kín đáo.
Trong khi thực hiện
1. Sát khuẩn tay, mang phương tiện phòng hộ.
  • Sát khuẩn tay, mang găng, khẩu trang.
  • Mang phương tiện phòng hộ (nếu cần).
  • Mở gói dụng cụ thay băng và đổ vừa đủ dung dịch sát khuẩn vào khay.
Đảm bảo thực hiện đúng và đủ các bước vệ sinh tay, phòng ngừa nhiễm khuẩn chéo.
2. Tiến hành
  • Đặt tấm lót dưới vết thương.
  • Tháo bỏ băng bẩn và sát khuẩn lại tay.
  • Quan sát, nhận định tình trạng vết khâu.
  • Mang găng, dùng dụng cụ vô khuẩn sát khuẩn vết thương theo thứ tự từ trên xuống dưới, từ trong ra ngoài rộng ra ~ 5cm để lộ rõ chân chỉ.
  • Đặt gạc tại vị trí cạnh vết thương; dùng tay không thuận cầm kẹp và tay thuận cầm kéo; dùng kẹp nhấc nhẹ mối chỉ lên, luồn kéo vào chân chỉ sát mặt da, cắt dứt khoát, rút mối chỉ ra và đặt lên miếng gạc để kiểm tra. (Lặp lại bước này cho đến khi cắt xong.)
  • Sát khuẩn lại vết thương và đặt gạc lên băng lại vết thương (dùng băng dính chuyên dụng nếu có và quấn băng thun cố định nếu cần).
Chú ý đặt tấm lót tại nơi có nguy cơ dịch chảy ra.

Khi tháo băng cần chú ý quan sát sắc mặt NB; nếu gạc dính vết thương dùng nước muối làm mềm băng để tránh gây đau đớn và chảy máu cho NB.

Đánh giá tình trạng vết thương thông qua: màu sắc, số lượng, tính chất dịch chảy ra để phát hiện bất thường.
Sát khuẩn vết thương cần tuân thủ nguyên tắc vô khuẩn, không đi chiều ngược lại và thực hiện rửa đến khi thấy sạch.

Kiểm tra sự toàn vẹn của mối chỉ, tránh bỏ xót.

Che chở lại vết khâu: bảo đảm đặt gạc đủ rộng che phủ toàn bộ vết thương nhằm giảm nguy cơ tổn thương hoặc bội nhiễm từ bên ngoài.
3. Tiện nghi lại cho NB
  • Thông báo cho NB đã thực hiện xong và tiện nghi lại cho NB.
  • Hướng dẫn lại cho NB theo dõi các triệu chứng bất thường như: sốt, chảy máu, đau,…
  • Báo lại ngay cho bác sĩ điều trị.
Trong suốt quá trình thực hiện cần chú ý quan sát sắc mặt NB và thăm hỏi, giao tiếp với NB.

Giúp NB hiểu rõ và cảm thấy an tâm.
Sau khi thực hiện
1. Thu dọn dụng cụ và phân loại rác thải
  • Phân loại rác trên xe tiêm và vệ sinh xe.
  • Ngâm rửa dụng cụ thay băng đúng quy định.
  • Rửa tay thường quy.
Khử khuẩn và rửa dọn dụng cụ bẩn đúng quy định.

Xử lý rác thải y tế đúng quy định.

→ Giúp ngăn ngừa nhiễm khuẩn bệnh viện.
2. Ghi chép hồ sơ
  • Ghi chép ngày, giờ thực hiện thủ thuật.
  • Tình trạng vết khâu: màu sắc, số lượng, tính chất dịch; ghi rõ loại dung dịch rửa vết thương đã dùng; ghi tên người thực hiện theo quy định.
Đảm bảo ghi chép đầy đủ và chính xác.

THEO DÕI

Dự phòng biến chứng

Dự phòng biến chứng
Biến chứng Phòng ngừa
Phản ứng dị ứng với thuốc tê, thuốc sát khuẩn, chỉ khâu phẫu thuật, thuốc kháng sinh,..
  • Chú ý khai thác lại tiền sử dị ứng đối với tất cả NB/NNNB trước khi thực hiện thủ thuật.
Bung chỉ vết khâu dẫn đến chảy máu, vi khuẩn xâm nhập, làm chậm quá trình lành thương.
  • Cắt chỉ đúng thời gian chỉ định của Bác sĩ.
  • Cắt chỉ bỏ mối phải để lại mối đầu và mối cuối không cắt.
  • Vết thương ở vùng nhiều mỡ, vùng cử động nhiều sau khi cắt chỉ phải dùng băng thun để hạn chế cử động.
  • Dặn dò NB hoạt động gây tăng áp lực bung vết khâu.
Nhiễm trùng, loét, hoại tử vết thương.
  • Đảm bảo tuân thủ nghiêm ngặt nguyên tắc vô khuẩn, hạn chế bội nhiễm.
  • Chỉ khâu vừa phải, tránh quá chặt hoặc quá lỏng ảnh hưởng đến quá trình lành thương.
  • Thay băng khi ướt băng, thấm dịch; giữ vệ sinh thân thể và quần áo.
  • Đảm bảo dinh dưỡng, nâng tổng trạng.
Để lại sẹo mất thẩm mỹ.
  • Cắt chỉ đúng thời gian quy định, tránh để kéo dài.
  • Che chắn vết thương, bôi liền sẹo.

Chăm sóc vết khâu sau cắt chỉ

Chăm sóc vết thương sau khi cắt chỉ là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm vết thương lành lặn hoàn toàn và giảm thiểu nguy cơ biến chứng.
  • Vệ sinh vết thương: Vệ sinh vết khâu sau khi đã cắt chỉ bằng nước muối sinh lý 0,9% hoặc dung dịch sát khuẩn. Dùng băng gạc sạch thấm khô và băng kín lại hoặc để hở tùy từng trường hợp. Không nên dùng bông gòn đắp lên vết thương vì có thể dính sợi bông tại vết thương. Đồng thời, không sử dụng các loại thuốc đắp hoặc mẹo dân gian lên trên miệng vết thương do nguy cơ gây kích ứng tại chỗ, khiến thời gian lành vết thương lâu hơn và làm tăng nguy cơ nhiễm trùng.
  • Hạn chế dính nước: Vết thương dễ bị nhiễm trùng hơn khi ở môi trường ẩm ướt; vì vậy không nên để vết thương ẩm do mồ hôi hoặc dính nước sinh hoạt. Nếu tắm, cần tránh vùng vết thương và hạn chế dùng xà phòng, sữa tắm,...; sau khi tắm phải dùng gạc sạch thấm khô vết thương để tránh kích ứng. Người bệnh không nên ngâm mình trong bồn tắm hoặc để vết thương dính nước quá lâu.
  • Tránh vận động mạnh cơ thể sau cắt chỉ: Vì vết thương cần một khoảng thời gian để lên da non. Vận động mạnh có thể làm ảnh hưởng đến vết thương, gây rách miệng vết thương và dẫn đến nhiễm trùng. Do đó, người bệnh chỉ nên vận động nhẹ nhàng, không thực hiện động tác hoặc công việc quá sức; mặc quần áo rộng rãi, thoáng mát để tránh cọ xát lên vết thương.
  • Không gãi hay tác động trực tiếp lên vết thương: Bảo vệ vết thương khỏi ánh nắng mặt trời trực tiếp vì vùng da mới có thể sậm màu do ánh nắng, đặc biệt là vùng đầu, mặt,cổ, gây mất thẩm mỹ.
  • Chế độ dinh dưỡng: cũng góp phần tích cực trong quá trình tái tạo và lành thương.
  • Tái khám: khi có dấu hiệu khác thường hoặc khi cần thiết theo chỉ định của bác sĩ.

Tài liệu tham khảo

  1. Điều dưỡng cơ bản tập II (Quy trình: Cắt chỉ vết khâu)
  2. Clinical Nursing Skills and Techniques. (Removing Sutures and Staples)